Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn

Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn

Tải bản đầy đủ - 0trang

-



Vốn tạm thời



Vốn tạm thời là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn ( dưới một năm) bao gồm gồm các

khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các khoản nợ khác. Doanh

nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát

sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

1.1.1.3. Đặc điểm và vai trò của vốn kinh doanh



 Đặc điểm của vốn kinh doanh

Trong nền kinh tế, vốn kinh doanh được biểu hiện dưới hai hình thức là hiện vật và

giá trị. Dưới hình thái hiện vật, vốn được thể hiện bởi các tài sản mà doanh nghiệp

đang có. Dưới hình thái giá trị thì vốn được đo bằng một lượng tiền nhất định.

Vốn kinh doanh bao gồm các đặc điểm sau:

Thứ nhất, vốn kinh doanh phải được biểu hiện bằng một lượng giá trị tài sản cụ thể.

Vốn được thể hiện bởi các tài sản mà doanh nghiệp đang có bao gồm cả tài sản vơ

hình và tài sản hữu hình như cơ sở hạ tầng, máy móc, trang thiết bị, dây chuyền sản

xuất, quyền sử dụng đất, bằng phát minh sáng chế.

Thứ hai, vốn kinh doanh phải được duy trì ở một quy mơ tối thiểu nhất định. Vốn phải

được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy được tác dụng.

Do đó các doanh nghiệp cần tìm cách để thu hút nguồn vốn như đi vay vốn, góp vốn,

phát hành cổ phiếu.

Thứ ba, vốn kinh doanh của doanh nghiệp phải luôn vận động để sinh lời và đạt được

mục tiêu kinh doanh. Dưới hình thái giá trị, vốn được đo bằng một lượng tiền nhất

định. Tuy nhiên tiền chỉ là một dạng tiềm năng của vốn. Để tiền biến thành vốn thì số

tiền đó phải được vận động sinh lời. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh,

vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm xuất phát và điểm kết thúc của q

trình vận động vốn ln được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ. Đồng tiền ở điểm kết

thúc phải có giá trị lớn hơn đồng tiền ban đầu thì doanh nghiệp mới sinh lời. Trong

trường hợp khi kết thúc q trình vận động, đồng tiền thu về có giá trị nhỏ hơn đồng

tiền đầu tư ban đầu thì vốn không được đảm bảo và chu kỳ vận động tiếp theo của nó

sẽ bị ảnh hưởng.

Thứ tư, vốn kinh doanh có giá trị về mặt thời gian, cần xét đến ảnh hưởng của thời

gian khi phân tích vốn. Trong điều kiện cơ chế thị trường, phải xem xét đến yếu tố thời



gian vì thị trường thì ln biến động, giá cả thay đổi, lạm phát thay đổi sẽ khiến giá trị

đồng tiền ở mỗi thời kỳ là khác nhau.

Thứ năm, vốn kinh doanh phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định và phải được quản lý

chặt chẽ để việc sử dụng vốn trở nên tiết kiệm và hiệu quả. Trong nền kinh tế thị

trường, chỉ có xác định rõ chủ sở hữu thì đồng vốn mới được sử dụng hợp lý và có

hiệu quả cao. Bên cạnh đó cũng cần phải phân biệt quyền sở hữu vốn và quyền sử

dụng vốn để tránh nhầm lẫn. Tùy theo hình thức đầu tư mà người có quyền sở hữu và

quyền sử dụng là đồng nhất hoặc riêng rẽ. Và dù trong trường hợp nào thì người sở

hữu vốn vẫn được ưu tiên đảm bảo quyền lợi và được tôn trọng quyền sở hữu của

mình. Đây là một nguyên tắc để huy động và quản lý vốn.

Thứ sáu, vốn kinh doanh được quan niệm là một loại hàng hoá đặc biệt trong nền kinh

tế thị trường. Người có vốn có thể cho vay và những người cần vốn sẽ đi vay nhằm

mua quyền sử dụng vốn của người có quyền sở hữu vốn. Khi đó quyền sở hữu vốn

khơng thay đổi nhưng quyền sử dụng vốn được chuyển nhượng qua sự vay nợ. Người

đi vay được sử dụng vốn trong một khoảng thời gian nhất định và phải trả một khoản

gọi là lãi vay cho chủ sở hữu vốn.



 Vai trò của vốn kinh doanh

- Vốn kinh doanh là cơ sở, tiền đề cho một doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất

kinh doanh. Vốn kinh doanh vừa mang tính pháp lý, vừa mang tính kinh tế.

Xét về tính pháp lý, bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải đảm bảo có một lượng vốn

nhất định (vốn pháp định) theo từng ngành nghề kinh doanh của mình thì mới được

đăng ký thành lập doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu

lượng vốn không đạt điều kiện mà pháp luật quy định thì doanh nghiệp đó sẽ bị chấm

dứt hoạt động kinh doanh tức là phá sản hoặc sáp nhập doanh nghiệp.

Xét về tính kinh tế, để tiến hành sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp ngay từ ban

đầu phải có một lượng vốn nhất định để đầu tư vào sản xuất. Lượng vốn này giúp

doanh nghiệp duy trì và tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đạt được

những mục tiêu đã đề ra. Doanh nghiệp dùng vốn để thuê nhà xưởng, mua máy móc,

trả lương cho người lao động, mở rộng sản xuất cả về chiều rộng và chiều sâu, ứng

dụng thành tựu khoa học mới vào sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm,



tăng thu nhập cho người lao động. Từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng

cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

- Vốn kinh doanh đóng vai trò đòn bẩy, thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp, tạo

lợi thế trong cạnh tranh trên thị trường. Vốn kinh doanh là một trong những điều kiện

để các nhà quản lý phát huy tiềm năng về sức lao động, nguồn hàng hóa cũng như thực

hiện các chiến lược kinh doanh nhằm mở rộng thị trường, giao lưu kinh tế với trong và

ngồi nước. Qua đó doanh nghiệp sẽ mở rộng thêm các mối quan hệ, có nhiều cơ hội

để phát triển sản xuất kinh doanh hơn.

Ngoài ra vốn kinh doanh cũng quyết định quy mô của doanh nghiệp, sau một vài

chu kỳ kinh doanh nếu doanh nghiệp sinh lời nhiều thì có thể xem xét đến việc mở

rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao uy tín của doanh nghiệp

trên thương trường.

1.1.2. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

1.1.2.1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

- Hiệu quả kinh doanh theo nghĩa chung nhất được hiểu là các lợi ích kinh tế, xã hội

đạt được từ quá trình hoạt động kinh doanh.

Hiệu quả kinh doanh bao gồm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội trong đó hiệu quả

kinh tế có vai trò, ý nghĩa quyết định. Hiệu quả xã hội phản ánh những lợi ích về mặt

xã hội đạt được từ q trình hoạt động kinh doanh còn hiệu quả kinh tế là một phạm

trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp

hoặc xã hội để đạt được kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất. Hiệu quả kinh tế đóng

góp vào việc phát triển sản xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động xã

hội, tích luỹ ngoại tệ, tăng thu cho ngân sách, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống

nhân dân.

- Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là những đại lượng phản ánh mối quan hệ so sánh

giữa các chỉ tiêu kết quả hoạt động kinh doanh với các chỉ tiêu vốn kinh doanh của

doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng vốn phản ánh trình độ khai thác sử dụng vốn của

doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời tối đa với chi

phí thấp nhất.

Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh phải đảm bảo cho việc thúc đẩy quá trình bán ra,

tăng tốc độ lưu chuyển, tăng doanh thu bán hàng vì doanh thu bán hàng là một chỉ tiêu



kinh tế tổng hợp quan trọng để đánh giá kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong

kỳ. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh cũng phải góp phần vào việc thực hiện tốt chỉ

tiêu kế hoạch lợi nhuận kinh doanh vì lợi nhuận kinh doanh là chỉ tiêu kinh tế đánh giá

kết quả tài chính đạt được từ các hoạt động kinh doanh. Để đạt được mục tiêu lợi

nhuận, đòi hỏi doanh nghiệp phải tiết kiệm, giảm chi phí kinh doanh trong đó có chi

phí vốn kinh doanh.

 Từ những khái niệm nêu trên ta có thể thấy việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

có ý nghĩa rất quan trọng đối với cá nhân từng doanh nghiệp nói riêng và đối với nền

kinh tế nói chung, đặc biệt là trong cơ chế thị trường hiện nay. Nâng cao hiệu quả sử

dụng vốn sẽ đảm bảo được tính an tồn về tài chính cho doanh nghiệp, các doanh

nghiệp sẽ đảm bảo việc huy động các nguồn tài trợ và khả năng thanh tốn, tăng tính

cạnh tranh, khắc phục cũmg như giảm bớt được những rủi ro trong kinh doanh. Hiệu

quả sử dụng vốn là một vấn đề phức tạp có liên quan tới tất cả các yếu tố của quá trình

sản xuất kinh doanh cho nên doanh nghiệp chỉ có thể nâng cao hiệu quả trên cơ sở sử

dụng tốt các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh.

1.1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh chịu ảnh hưởng bởi cả các nhân tố khách quan lẫn

chủ quan.



 Các nhân tố khách quan

Nhân tố khách quan là các nhân tố mà doanh nghiệp khơng thể kiểm sốt được sự tác

động của nó đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Những nhân tố này có thể

tạo ra cơ hội phát triển hoặc kìm hãm doanh nghiệp trong việc thực hiện mục tiêu của

mình. Vì vậy doanh nghiệp đòi hỏi phải thường xuyên nắm bắt được xu hướng hoạt

động của chúng để có phương hướng sản xuất kinh doanh cho phù hợp. Một số nhân tố

khách quan ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh đó là:

-



Hệ thống các chính sách pháp luật của Nhà nước



Nhà nước có vai trò vơ cùng quan trọng đối với nền kinh tế thị trường, giúp vận hành

và điều tiết nền kinh tế. Nhà nước tạo hành lang pháp lí, mơi trường kinh doanh cho

doanh nghiệp hoạt động. Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đều

chịu chung sự quản lí của Nhà nước thơng qua các văn bản pháp luật. Pháp luật có vai

trò to lớn trong việc tổ chức và quản lý kinh tế, nó là yếu tố điều tiết quá trình sản



xuất, trao đổi và phân phối sản phẩm. Pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế, thiết

lập một trật tự kinh tế, giữ vai trò hướng dẫn, định hướng phát triển kinh tế. Bên cạnh

đó, pháp luật còn tác động và ảnh hưởng rất lớn tới trật tự và sự phát triển của các

quan hệ chính trị xã hội. Ổn định chính trị là tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh

doanh, thay đổi về chính trị có thể gây ảnh hưởng có lợi cho nhóm doanh nghiệp này

hoặc kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp khác. Hệ thống pháp luật hoàn thiện và

sự nghiêm minh trong thực thi pháp luật sẽ tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho

các doanh nghiệp.

-



Môi trường kinh tế vĩ mô



Doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường sẽ

chịu ảnh hưởng, tác động nhiều từ nền kinh tế. Các yếu tố như lạm phát, lãi suất tín

dụng thay đổi sẽ ảnh hưởng tới khả năng huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp.

Khi mà lạm phát xảy ra sẽ khiến đồng tiền mất giá, chi phí đầu vào tăng cao khiến

doanh nghiệp phải thực hiện các chính sách nhằm giữ giá hoặc giảm thiểu tối đa việc

tăng giá sản phẩm để có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp cùng ngành nghề khác

trên thị trường.

Về lãi suất, khi mà lãi suất tăng thì doanh nghiệp phải vay tiền với lãi suất cao dẫn

đến việc thiếu vốn đầu tư và sự tăng trưởng của công ty bị chậm lại do khơng có vốn

để mở rộng sản xuất, đầu tư kinh doanh. Doanh nghiệp có thể sẽ phải chấm dứt một số

hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, thu hẹp thị trường để tập trung nguồn lực. Ngược

lại, khi lãi suất giảm thì việc huy động vốn sẽ dễ dàng hơn, doanh nghiệp sẽ thuận lơi

trong việc phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh.

Việc thay đổi các cơ chế giao vốn, đánh giá lại TSCĐ, thay đổi chính sách thuế, chính

sách cho vay,…cũng có thể làm tăng hoặc giảm hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại

doanh nghiệp. Bên cạnh đó các quy định của Nhà nước về phương hướng phát triển

của các ngành kinh tế cũng gây ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn.

-



Môi trường kinh tế vi mô



Các yếu tố môi trường cạnh tranh liên quan trực tiếp tới ngành nghề và thị trường kinh

doanh của doanh nghiệp (hay còn gọi là mơi trường ngành) tác động trực tiếp đến hoạt

động và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Sức ép của các yếu tố này lên doanh



nghiệp càng mạnh thì khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp cùng ngành càng bị hạn

chế.

Trong giai đoạn ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, các doanh nghiệp ngày

càng mọc lên nhiều hơn, công nghệ tiên tiến phát triển từng ngày, các sản phẩm trên

thị trường ngày càng hoàn thiện nên sự cạnh tranh giữa các công ty là rất lớn. Một sự

thay đổi về giá hay tăng cường khác biệt hóa sản phẩm từ phía đối thủ cũng sẽ khiến

doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm cũng như tìm kiếm thị

trường. Vì vậy nên các nhà quản trị phải vơ cùng thận trọng trong việc đưa ra các

chiến lược kinh tế.

Ngoài ra các rủi ro tự nhiên như thiên tai, bão lụt, hoả hoạn ... cũng làm hư hỏng vật

tư, mất mát tài sản của doanh nghiệp khiến hiệu quả sử dụng vốn bị giảm sút.



 Nhân tố chủ quan

Nhân tố chủ quan là toàn bộ các nhân tố thuộc tiềm lực của doanh nghiệp mà doanh

nghiệp có thể kiểm sốt được sự tác động của nó tới hoạt động sản xuất kinh doanh

của mình. Đánh giá đúng tiềm năng của doanh nghiệp sẽ giúp cho các nhà quản trị xây

dựng chiến lược và kế hoạch kinh doanh đúng đắn đồng thời tận dụng được các cơ hội

kinh doanh. Một số nhân tố chủ quan ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

tại doanh nghiệp có thể kể tới đó là:

-



Đặc thù ngành, lĩnh vực



Mỗi doanh nghiệp tùy thuộc vào ngành nghề kinh doanh của mình mà phải đảm bảo

tập trung được một lượng vốn kinh doanh nhất định. Nếu doanh nghiệp thương mại

quy mơ nhỏ thì vốn nhỏ, ngược lại các doanh nghiệp như xây dựng, doanh nghiệp sản

xuất có quy mơ lớn thì u cầu lượng vốn lớn hơn. Các nhà quản trị cần phải nắm rõ

quy mô, đặc thù ngành nghề kinh doanh để huy động vốn hợp lý, tránh sự thiếu hụt

vốn làm ngừng trệ hoạt động kinh doanh cũng như tránh lãng phí vốn dư thừa. Từ đó

doanh nghiệp sẽ nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.

-



Trình độ đội ngũ cán bộ và lao động sản xuất



Đây là yếu tố vô cùng quan trọng đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Một

bộ máy quản lý tốt có trình độ quản lý cao sẽ giúp cho hoạt động của doanh nghiệp đạt

kết quả cao và ngược lại. Bên cạnh đó nguồn lao động sản xuất có trình độ tay nghề

cao phù hợp với trình độ cơng nghệ của dây truyền sản xuất thì việc sử dụng máy móc



thiết bị sẽ tốt hơn, khai thác tối đa công suất của máy móc thiết bị làm tăng năng suất

lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

-



Cơ sở vật chất - kỹ thuật



Cơ sở vật chất kỹ thuật là nền tảng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp. Một doanh nghiệp có cơ sở vật chất hiện đại, kỹ thuật tiên tiến sẽ tạo ra được

sản phẩm có giá trị cao, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất. Hiệu quả sử

dụng vốn của doanh nghiệp do đó chịu tác động mạnh mẽ bởi tính hiện đại, cơ cấu,

tính đồng bộ, khả năng làm việc theo thời gian của máy móc, thiết bị cơng nghệ. Tuy

nhiên trong q trình sử dụng thì cơ sở vật chất – kỹ thuật sẽ bị hao mòn hữu hình và

hao mòn vơ hình, doanh nghiệp phải ln chú trọng đến việc nâng cấp, bảo dưỡng để

không ảnh hưởng đến năng suất lao động.

1.1.2.3. Hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh



 Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

Phân tích tổng hợp hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp được tính

tốn, xác định thơng qua các yếu tố doanh thu thuần, lợi nhuận thuần và vốn kinh

doanh bình quân. Vốn kinh doanh bình quân được xác định bởi công thức sau:

Một số chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh có thể kể tới đó là:

-



Hệ số doanh thu trên vốn kinh doanh bình quân



Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng vốn kinh doanh bình quân

thì tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu. Nếu hệ số này tăng tức hiệu quả sử dụng

VKD tăng và ngược lại.

- Hệ số lợi nhuận trên vốn kinh doanh bình quân

Ý nghĩa: Chỉ tiêu cho biết nếu doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng vốn kinh doanh bình quân

thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Hệ số tăng tức hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

tăng và ngược lại.

 Từ hai chỉ tiêu phân tích trên, ta có thể đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh

doanh trên cơ sở so sánh giữa các kỳ hoặc so sánh với các doanh nghiệp khác cùng

ngành nghề, qua đó đánh giá chất lượng kinh doanh của doanh nghiệp.



 Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Vốn lưu động bình qn trong kỳ được tính bởi cơng thức sau:

Một số chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động có thể kể đến là:

- Hệ số doanh thu trên vốn lưu động

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng vốn lưu động thì tạo ra được

bao nhiêu đồng doanh thu. Nếu hệ số tăng thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động tăng và

ngược lại.

-



Hệ số lợi nhuận trên vốn lưu động



Chỉ tiêu này cho biết nếu doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng vốn lưu động thì tạo ra bao nhiêu

đồng lợi nhuận. Hệ số tăng tức hiệu quả sử dụng vốn lưu động tăng và ngược lại.

-



Số vòng quay vốn lưu động



Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho thấy tốc độ luân chuyển của vốn lưu động trong một chu kỳ

kinh doanh. Số vòng quay càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao và

ngược lại.

-



Số ngày chu chuyển vốn lưu động



Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh độ dài thời gian của một vòng quay vốn lưu động trong

một kỳ kinh doanh. Số ngày chu chuyển càng thấp thì hiệu quả sử dụng vốn càng tốt

và ngược lại.



 Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng vốn cố định

Vốn cố định bình quân trong kỳ được xác định bởi công thức sau:

Một số chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng vốn cố định có thể kể đến đó là:

- Hệ số doanh thu trên vốn cố định



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×