Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chiết khấu thanh toán: Là khoản tiền người bán giảm trừ cho người mua, do

người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn theo hợp đồng.

 Khái niệm giá vốn hàng bán.

Ngồi việc ghi nhận doanh thu kế tốn đồng thời ghi nhận giá vốn hàng bán:

Theo chuẩn mực VAS 02 : là giá gốc của hàng xuất kho để bán, bao gồm “ chi

phí mua, chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác để có được hàng tồn kho ở

địa điểm và trạng thái hiện tại” .

1.1.2 Đặc điểm kế toán bán hàng trong doanh nghiệp thương mại:

1.1.2.1 Các phương thức bán hàng:



 Phương thức bán bn hàng hóa:

Là phương thức bán hàng cho các đơn vị thương mại, các doanh nghiệp sản

xuất, các cửa hàng đại lý..... với số lượng lớn để các đơn vị đó tiếp tục bán cho các cá

nhân, tổ chức khác nhằm đáp ứng nhu cầu kinh tế

- Đặc điểm của hàng bán bn :

+ Hàng hố vẫn nằm trong lĩnh vực lưu thông, chưa đưa vào lĩnh vực tiêu dùng,

do vậy giá trị và giá trị sử dụng của hàng hố chưa được thực hiện.

+ Hàng hóa bán theo lô, hoặc số lượng lớn, giá cả biến động.

Trong bán buôn thường bao gồm 2 phương thức:

 Bán buôn hàng hố qua kho: Bán bn hàng hố qua kho là phương thức bán

bn hàng hố mà trong đó hàng phải được xuất từ kho bảo quản của Doanh nghiệp. Có 2

hình thức Bán bn hàng hố qua kho:

 Bán bn hàng hố qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp: Theo hình

thức này, bên mua cử đại diện đến kho của bên bán để nhận hàng. DNSXTM xuất kho

hàng hoá, giao trực tiếp cho đại diện bên mua. Sau khi đại diện bên mua nhận đủ hàng,

thanh toán tiền hoặc chứng nhận nợ, hàng hoá được xác định là tiêu thụ.

 Bán bn qua kho theo hình thức chuyển hàng: Theo hình thức này, căn cứ

vào hợp đồng đã ký kết hoặc theo đơn đặt hàng DNSXTM xuất kho hàng hố, dùng

phương tiện của mình hoặc đi th ngồi, chuyển hàng đến kho của bên mua hoặc một

địa điểm mà bên mua quy định trong hợp đồng. Hàng hoá chuyển bán vẫn thuộc quyền

sở hữu của bên DNSXTM, chỉ khi nào được bên mua kiểm nhận, thanh toán hoặc chấp

nhận thanh tốn thì số hàng chuyển giao mới được coi là tiêu thụ.

7



 Bán bn hàng hố vận chuyển thẳng

DNSXTM sau khi mua hàng, nhận hàng mua không đưa về nhập kho mà chuyển

bán thẳng cho bên mua. Phương thức này có thể thực hiện theo hai hình thức:



 Bán bn hàng hố vận chuyển thẳng theo hình thức giao hàng trực tiếp:

Doanh nghiệp sau khi mua hàng, giao trực tiếp cho đại diện của bên mua tại kho người

bán. Sau khi giao, nhận, đại diện bên mua ký nhận đủ hàng bên mua đã thanh toán tiền

hoặc chấp nhận nợ, hàng hoá được xác nhận là tiêu thụ.

 Bán bn hàng hố vận chuyển thẳng theo hình thức chuyển hàng: Doanh

nghiệp sau khi mua hàng nhận hàng mua, dùng phương tiện vận tải của mình hoặc

th ngồi vận chuyển hàng đến giao cho bên mua ở địa điểm đã được thoả thuận.

Hàng hoá chuyển bán trong trường hợp này vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp.

Khi nhận tiền của bên mua thanh toán hoặc giấy báo của bên mua đã nhận được hàng

và chấp nhận thanh toán thì hàng hố chuyển đi mới được xác định là tiêu thụ.



 Phương thức bán lẻ hàng hóa

Bán lẻ hàng hoá là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng, các đơn

vị kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính chất tiêu dùng nội bộ.



 Đặc điểm:

+ Hàng hoá đã ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng, giá trị

và giá trị sử dụng của hàng hoá đã được thưc hiện.

+ Giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa đã được thực hiện.

+ Thường bán đơn chiếc với số lượng nhỏ, giá bán ổn định .

 Bán lẻ có thể thực hiện dưới các hình thức sau:

+ Hình thức bán lẻ thu tiền tập trung: Là hình thức bán hàng mà trong đó, tách

rời nghiệp vụ thu tiền của người mua và nghiệp vụ giao hàng cho người mua. Mỗi

quầy hàng có một nhân viên thu tiền làm nhiệm vụ thu tiền của khách, viết các hố

đơn hoặc tích kê cho khách để khách đến nhận hàng ở quầy hàng do nhân viên bán

hàng giao. Căn cứ vào hố đơn và tích kê giao hàng cho khách hoặc kiểm kê hàng hoá

tồn quầy để xác định số lượng hàng đã bán trong ngày và lập báo cáo bán hàng. Nhân

viên thu tiền làm giấy nộp tiền và nộp tiền bán hàng cho thủ quỹ.

+ Hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp: Theo hình thức này, nhân viên bán hàng

trực tiếp thu tiền của khách và giao hàng cho khách. Cuối ngày nhân viên bán hàng



8



làm giấy nộp tiền và nộp tiền cho thủ quỹ. Đồng thời, kiểm kê hàng hoá tồn quầy để

xác định số lượng hàng đã bán trong ngày và lập báo bán hàng.

+ Hình thức bán hàng tự phục vụ: Khách hàng tự chọn lấy hàng hố, mang đến

bàn tính tiền và thanh toán tiền hàng. Nhân viên thu tiền kiểm hàng, tính tiền lập hố

đơn bán hàng và thu tiền của khách hàng.

+ Hình thức bán hàng trả góp: Người mua hàng được trả tiền mua hàng thành

nhiều lần cho DNSXTM, ngồi số tiền thu theo giá bán thơng thường còn thu thêm

người mua một khoản lãi do trả chậm.

+Hình thức bán hàng tự động: Các doanh nghiệp sử dụng các máy bán hàng tự

động chuyên dùng cho một hoặc một vài loại hàng nào đó đặt ở các nơi công cộng

khách hàng sau khi bỏ tiền vào máy, máy tự động đẩy hàng cho người mua.



 Phương thức gửi hàng đại lý bán hay ký gửi hàng hóa

DNSXTM giao hàng cho cơ sở đại lý, ký gửi để cho cơ sở này trực tiếp bán

hàng, bên nhận đại lý ký gửi sẽ trực tiếp bán hàng, thanh toán tiền hàng và được hưởng

hoa hồng đại lý bán, số hàng chuyển giao cho các cơ sở đại lý, ký gửi vẫn thuộc về

DNSXTM cho đến khi DNSXTM được cơ sở đại lý, ký gửi thanh toán tiền hay chấp

nhận thanh tốn hoặc thơng báo về số hàng đã bán được, doanh nghiệp mới mất quyền

sở hữu số hàng này.

1.1.2.2 Phương thức thanh toán

Sau khi giao hàng cho bên mua và nhận được chấp nhận thanh tốn bên bán có

thể nhận tiền hàng theo nhiều phương thức khác nhau tuỳ vào sự thoả thuận giữa 2 bên

mà lựa chọn các phương thức thanh tốn cho phù hợp. Có 3 phương thức thanh toán:



 Phương thức thanh toán trực tiếp.

Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ được chuyển từ người

mua sang người bán sau khi quyền chuyển sở hữu về hàng hóa bị chuyển giao.Thanh

tốn trực tiếp có thể bằng tiền mặt, séc hoặc có thể bằng hàng hoá (nếu bán theo

phương thức hàng đổi hàng). Theo phương thức thanh tốn này thì sự vận động của

hàng hoá gắn liền với sự vận động của tiền tệ.



 Phương thức thanh toán trả chậm.

Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển giao sau

một khoảng thời gian so với thời điểm chuyển quyền sở hữu về hàng hoá. Từ phương

thức thanh toán này hình thành nên khoản nợ phải thu của khách hàng. Theo phương

9



thức thanh tốn này thì sự vận động của hàng hố, sự vận động của tiền tệ có khoảng

cách về không gian và thời gian.



 Phương thức thanh toán trả trước.

Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển giao trước

thời điểm giao nhận hàng hóa. Mục đích của việc thanh tốn trước là để chắc chắn việc

thực hiện hợp đồng mua hàng hóa của khách hàng. Như vậy, theo phương thức thanh

tốn này thì sự vận động của hàng hóa và sự vận động của tiền cũng có khoảng cảnh

về khơng gian và thời gian

Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán bán hàng



1.1.3.1 Yêu cầu về quản lý kế tốn bán hàng

Quản lý q trình bán hàng là một yêu cầu thực tế, nó xuất phát từ mục tiêu của

doanh nghiệp . Nếu doanh nghiệp quản lý tốt khâu bán hàng thì mới đảm bảo được chỉ

tiêu hồn thành kế hoạch tiêu thụ và đánh giá chính xác hiệu quả sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp đó.Chính vì vậy bán hàng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nên phải

quản lý chặt chẽ .

 Quản lý doanh thu bán hàng:

Doanh thu phải được xác định và ghi nhận theo đúng thực tế tiêu thụ hàng hóa và

quy định của chế độ kế toán(điều kiện ghi nhận doanh thu và thời điểm ghi nhận doanh

thu) .Phản ánh và theo dõi các khoản giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, chiết

khấu thương mại, các khoản thuế, ....một cách đầy đủ chính xác và kịp thời . Doanh

thu bán hàng được tính bằng cơng thức:

Doanh thu bán hàng = số lượng hàng hóa tiêu thụ* đơn giá bán một đơn vị sản phẩm

 Về khối lượng hàng hóa tiêu thụ: phải nắm bắt chính xác số lượng từng loại

hàng hóa tồn kho đầu kỳ, nhập trong kỳ, xuất bán trong kỳ.

 Nắm bắt, theo dõi chặt chẽ từng phương thức bán hàng.

 Về giá bán: giá bán phải đảm bảo bù đắp chi phí và có lãi, đồng thời phải

được khách hàng chấp nhận.Giá bán cần có sự linh hoạt để kích thích tiêu thụ, phù hợp

với từng điều kiện cụ thể.

Để đáp ứng yêu cầu quản lý doanh thu các doanh nghiệp cần phải tổ chức kế toán

chi tiết từng khoản doanh thu .Việc tổ chức kế toán chi tiết doanh thu cần được tiến

hành trên cơ sở sổ chi tiết, các tài khoản kế toán chi tiết.

 Sổ chi tiết doanh thu được mở riêng cho từng loại hoạt động : từng loại sản

phẩm, hàng hóa, dịch vụ, từng nghiệp vụ đầu tư tài chính.

 Tùy theo yêu cầu quản lý doanh thu của từng DN mà sổ chi tiết có thể mở theo



10



kết cấu khơng hồn tồn giống nhau.Tuy nhiên, các sổ chi tiết doanh thu phải đảm bảo

được các nội dung chứng từ sau: TK đối ứng, số lượng, đơn giá, thành tiền của sản

phẩm tiêu thụ, các khoản giảm trừ doanh thu.

 Quản lý tình hình thu hồi tiền bán hàng, tình hình cơng nợ phải thu.

 Phải mở sổ chi tiết theo từng đối tượng phải thu và theo từng khoản nợ và từng

lần thanh tốn.

 Trường hợp bán hàng thu tiền ngay thì khơng phản ánh vào nơ phải thu

 Khách hàng có quan hệ giao dịch thường xuyên hoặc có số dư nợ lớn thì định

kỳ cần phải tiến hành kiểm tra đối chiếu từng khoản nợ đã phát sinh, đã thu hồi và số

còn nợ, nếu cần có thể u cầu khách hàng xác nhận nợ bằng văn bản.

 Phải tiến hàng phân loại nợ: loại nợ có thể trả đúng hạn, q hạn, nợ khó đòi

hoặc khơng có khả năng thu hồi để có căn cứ xác định số trích lập dự phòng hoặc có

biện pháp xử lý đối với các khoản nợ phải thu khơng đòi được.

 Quản lý giá vốn hàng hóa:

Q trình vận động của hàng hóa ở doanh nghiệp chính là q trình vận động của

vốn kinh doanh .Trong quá trình sản xuất kinh doanh muốn đem lại lợi nhuận tối đa

cho DN, thì phải quản lý chặt chẽ vốn kinh doanh, sử dụng sao cho có hiệu quả cao

nhất nguồn vốn của doanh nghiệp.Muốn vậy DN phải xác định được một cách chính

xác nhất các khoản chi phi ra. Giá vốn hàng bán là một trong những khoản chi phí

chiếm tỷ trọng lớn trong quá trình sản xuất kinh doanh.Muốn quản lý chặt chẽ và xác

định đúng giá vốn thì trước hết DN phải nắm bắt được sự hình thành của giá vốn.

Tuy nhiên khi tính trị giá của hàng hóa xuất theo phương pháp kế toán cần căn cứ

giá mua thực tế là giá ghi trên hóa đơn của người bán, khơng kể chi phí thu mua.Do đó

khi bán được hàng hóa cần phân bổ chi phí thu mua cho hàng hóa bán ra.

Các DN có thể áp dụng một trong các phương pháp tính giá vốn hàng xuất kho

sau: phương pháp nhập trước xuất trước, phương pháp nhập sau xuất trước, phương

pháp thực tế đích danh, phương pháp bình qn gia quyền.



11



1.1.3.2. Nhiệm vụ kế toán bán hàng

- Kế toán nghiệp vụ bán hàng trong doanh nghiệp thương mại có các nhiệm vụ cơ

bản sau:

- Tính tốn và phản ánh chính xác tổng giá thanh toán của hàng bán ra, bao gồm

cả doanh thu bán hàng, thuế giá trị gia tăng đầu ra của từng nhóm mặt hàng, từng hố

đơn, từng khách hàng, từng đơn vị trực thuộc (theo các cửa hàng, quầy hàng...).

- Xác định chính xác giá mua thực tế của lượng hàng đã tiêu thụ, đồng thời phân

bổ chi phí thu mua cho hàng tiêu thụ nhằm xác định kết quả bán hàng.

- Kiểm tra, đơn đốc tính hình thu hồi và quản lý tiền hàng, quản lý khách nợ;

theo dõi chi tiết theo từng khách hàng, lô hàng, số tiền khách nợ, thời hạn và tính hình

trả nợ....

- Tập hợp đầy đủ, chính xác, kịp thời các khoản chi phí bán hàng thực tế phát

sinh và kết chuyển (hay phân bổ) chi phí bán hàng cho hàng tiêu thụ, làm căn cứ để

xác định kết quả kinh doanh.

- Cung cấp thơng tin cần thiết về tình hình bán hàng phục vụ cho việc chỉ đạo,

điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

- Tham mưu cho lãnh đạo về các giải pháp để thúc đẩy quá trình bán hàng

1.2. Nội dung kế toán bán hàng trong các doanh nghiệp thương mại:

1.2.1. Kế toán bán hàng theo quy định Chuẩn mực kế toán Việt Nam

1.2.1.1 Kế toán bán hàng theo Chuẩn mực kế toán số 01 “chuẩn mực chung”

VAS 01 được ban hành theo QĐ 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2012

của Bộ trưởng Bộ Tài Chính. Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn

các chuẩn mực, những nguyên tắc cơ bản. Trong đó nguyên tắc chi phối khi ghi nhận

doanh thu trong kế toán bán hàng là nguyên tắc phù hợp và nguyên tắc thận trọng.

Nguyên tắc liên quan đến giá vốn hàng tồn kho là ngun tắc giá gốc. Ngồi ra còn

một số ngun tắc chi phối như nguyên tắc nhất quán, nguyên tắc cơ sở dồn tích.

+ Nguyên tắc phù hợp: Nguyên tắc phù hợp quy định việc ghi nhận doanh thu,

chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận

một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương

ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của kỳ trước hoặc

chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó.



12



Như vậy chi phí ghi nhận trong kỳ là tồn bộ các khoản chi phí liên quan đến

việc tạo ra doanh thu và thu nhập của kỳ đó, khơng phụ thuộc khoản chi phí đó được

phân bổ ra trong kỳ nào.

Quy định hạch toán phù hợp giữa doanh thu và chi phí nhằm xác định và đánh

giá đúng kết quả hoạt động kinh doanh của từng thời kỳ kế tốn, giúp cho các nhà

quản trị có những quyết định kinh doanh đúng đắn và hiệu quả.

Trong kỳ kế tốn khi có nghiệp vụ bán hàng tạo ra doanh thu, kế toán cần xác

định được những khoản chi phí đi kèm theo để tạo ra doanh thu đó, như giá vốn hàng

bán, chi phí vận chuyển, chi phí quảng cáo…

+ Nguyên tắc thận trọng: Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần

thiết để lập các ước tính kế tốn trong các điều kiện khơng chắc chắn. Nguyên tắc này

yêu cầu việc ghi tăng vốn chủ sở hữu chỉ được thực hiện khi có bằng chứng chắc chắn,

còn việc ghi giảm vốn chủ sở hữu phải được ghi nhận ngay từ khi có chứng cứ về khả

năng có thể xảy ra.

Ngun tắc thận trọng đòi hỏi:

- Phải lập các khoản dự phòng nhưng khơng lập quá lớn;

- Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập;

- Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí;

- Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả

năng thu được lợi ích kinh tế;

- Chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng có thể về khả năng phát sinh.

Tuân thủ theo nguyên tắc thận trọng sẽ giúp cho DN bảo toàn nguồn vốn, hạn

chế rủi ro và tăng khả năng hoạt động liên tục.

Khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, ln có những rủi ro tồn tại mà doanh

nghiệp không lường hết được, đặc biệt là trong lĩnh vực bán hàng, doanh nghiệp cần lập

dự phòng để khắc phục và hạn chế những tình huống khơng mong muốn xảy ra như hàng

hóa giảm giá do khơng hợp thị hiếu hoặc do hàng hóa của doanh nghiệp xuống cấp. Một

số khoản nợ xấu từ khách hàng chưa thu hồi được cũng cần lập dự phòng.

+ Ngun tắc cơ sở dồn tích : “ Mọi nghiệp vụ kinh tế tài chính của doanh

nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí

được ghi sổ kế tốn vào thời điểm phát sinh, không quan tâm đến thời điểm thực tế



13



hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền. Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích

phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong q khứ, hiện tại và tương lai.”

Theo nguyên tắc này, kế toán bán hàng phải ghi nhận doanh thu ngay khi hàng

xác định bán, không căn cứ vào thời điểm thực tế doanh nghiệp thu được tiền hay các

khoản tương đương tiền.

+ Nguyên tắc trọng yếu: Kế toán phải thu thập , xử lý và cung cấp đầy đủ những

thông tin có tính chất trọng yếu, còn những thơng tin khơng mang tính trọng yếu, ít có

tác dụng hoặc có ảnh hưởng không đáng kể tới quyết định của người sử dụng thì có thể

bỏ qua.

Như vậy, kế tốn bán hàng phải thu thập đầy đủ các thông tin về chỉ tiêu tiền, doanh

thu hay giá vốn hàng bán… để lên Báo cáo tài chính, cung cấp thơng tin đầy đủ và chính

xác để khơng làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng thông tin.

+ Nguyên tắc nhất qn: Các chính sách và phương pháp kế tốn doanh nghiệp

đã chọn phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế tốn năm. Trường hợp

có thay đổi chính sách và phương pháp kế tốn đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh

hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.

Như vậy trong một kỳ kế tốn năm, đơn vị phải thực hiện nhất quán đối với các

phương pháp kế toán đã lựa chọn ảnh hưởng tới kế toán bán hàng như: phương pháp

tính trị giá hàng xuất kho, hình thức ghi sổ kế toán.

1.2.1.2 Kế toán bán hàng theo Chuẩn mực kế tốn số 02 “Hàng tồn kho”

Cơng tác hạch toán ghi chép hàng tồn kho chịu sự chi phối của chuẩn mực 02

“hàng tồn kho”.

Chuẩn mực được ban hành và công bố theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC

ngày 31 tháng 12 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính.

Chuẩn mực kế toán VAS 02 quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương

pháp kế toán hàng tồn kho. Để xác định được trị giá hàng tồn kho và trị giá hàng bán

chính xác thì các yếu tố liên quan vào q trình hạch tốn hàng bán, hàng tồn kho phải

chính xác, từ đó làm căn cứ lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho.

Nguyên tắc xác định giá vốn hàng hóa: Trị giá hàng gốc theo nguyên tác giá

phí .Trường hợp giá trị thuần cỏ thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tính theo

giá trị thuần có thể thực hiện được .Trong đó, giá gốc hàng bán bao gồm: chi phí mua,



14



chi phí chế biến, và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng hóa

ở địa điểm và trạng thái sẵn sàng sử dụng để bán .

+ Phương pháp tính giá trị HTK trong kế tốn bán hàng:

 Phương pháp tính giá đích danh:Áp dụng đối với doanh nghiệp có ít loại mặt

hàng, hoặc mặt hàng ổn định và nhận diện được. Khi xuất lơ hàng nào thì lấy giá thực

tế của chính lơ hàng đó.

+ Ưu điểm :Tn thủ nguyên tắc phù hợp của kế toán : chi phí thực tế phù hợp

với doanh thu thực tế

Phương pháp đơn giản, dễ tính tốn, phù hợp với doanh nghiệp nhỏ, thủ công.

+ Nhược điểm: Chỉ phù hợp với đơn vị có giá trị hàng tồn kho lớn, mang tính

chất đơn chiếc, ổn định, theo dõi riêng và nhận diện được từng lơ hàng.

 Theo giá bình qn gia quyền cuối kỳ (tháng)

Theo phương pháp này, đến cuối kỳ mới tính trị giá vốn của hàng xuất kho trong

kỳ. Tuỳ theo kỳ dự trữ của doanh nghiệp áp dụng mà kế toán hàng tồn kho căn cứ vào

giá nhập, lượng hàng tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ để tính giá đơn vị bình qn:

Đơn giá xuất kho bình quân trong kỳ của một loại sản phẩm = (Giá trị hàng tồn

đầu kỳ + Giá trị hàng nhập trong kỳ) / (Số lượng hàng tồn đầu kỳ + Số lượng hàng

nhập trong kỳ)

+ Ưu điểm: Đơn giản, dễ làm, chỉ cần tính tốn một lần vào cuối kỳ.

+ Nhược điểm: Độ chính xác khơng cao, hơn nữa, cơng việc tính tốn dồn vào

cuối tháng gây ảnh hưởng đến tiến độ của các phần hành khác. Ngoài ra, phương pháp

này chưa đáp ứng yêu cầu kịp thời của thông tin kế toán ngay tại thời điểm phát sinh

nghiệp vụ.

 Theo giá bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập (bình quân thời điểm)

Sau mỗi lầnnhập sản phẩm, vật tư, hàng hoá, kế toán phải xác định lại giá trị thực

của hàng tồn kho và giá đơn vị bình quân. Giá đơn vị bình qn được tính theo cơng

thức sau:

Đơn giá xuất kho lần thứ i = (Trị giá vật tư hàng hóa tồn đầu kỳ + Trị giá vật tư

hàng hóa nhập trước lần xuất thứ i)/(Số lượng vật tư hàng hóa tồn đầu kỳ + Số lượng

vật tư hàng hóa nhập trước lần xuất thứ i)



15



+ Ưu điểm: là khắc phục được những hạn chế của phương pháp bình qn gia

quyền cuối kỳ

+ Nhược điểm: việc tính tốn phức tạp, nhiều lần, tốn nhiều công sức. Do đặc

điểm trên mà phương pháp này được áp dụng ở các doanh nghiệp có ít chủng loại hàng

tồn kho, có lưu lượng nhập xuất ít

 Phương pháp nhập trước – xuất trước ( FIFO)

Theo phương pháp này, giả định là hàng tồn kho được mua về trước hoặc sản

xuất trước thì xuất trước và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng được mua hoặc được

sản xuất gần thời điểm cuối kỳ. Do đó, giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô

hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn kho được tính

theo giá của lơ hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho.

+ Ưu điểm:

Phương pháp này áp dụng được cho tất cả các doanh nghiệp có thể quản lý được

thời gian nhập của từng lơ hàng cụ thể.

Tính ngay được giá vốn của từng lô hàng khi xuất, đảm bảo cung cấp kịp thời số

liệu cho kế toán ghi chép và cơng tác quản lý.

Trị giá vốn hàng hóa còn trong kho sát với giá thị trường, chỉ tiêu hàng tồn kho

trên bảng cân đối kế tốn có ý nghĩa kinh tế hơn.

+ Nhược điểm:

Doanh thu hiện tại không phù hợp với chi phí hiện tại (Giá trị hàng xuất kho

tương ứng với giá của những lần nhập trước)

Đối với doanh nghiệp có nhiều chủng loại mặt hàng, hoạt động nhập xuất liên tục

áp dụng phương pháp này sẽ khiến cho chi phí hạch tốn và khối lượng cơng việc

tăng lên rất nhiều.

 Phương pháp nhập trước-xuất trước (LIFO)

Hàng hoá mua vào sau cùng sẽ đươc xuất trước. Phương pháp này ngược với

phương pháp FIFO, chỉ thích hợp với giai đoạn lạm phát. Thường các doanh nghiệp

kinh doanh về xây dựng sử dụng phương pháp này.

+ Ưu điểm:

Với phương pháp này chi phí của lần mua hàng gần nhất tương đối sát với trị giá

vốn

của hàng thay thế. Việc thực hiện phương pháp này sẽ đảm bảo được yêu cầu của

nguyên tắc phù hợp trong kế toán.

+ Nhược điêm: Trị giá vốn của hàng tồn kho cuối kỳ có thể khơng sát với giá thị

trường của hàng thay thế.

1.2.1.3 Kế toán bán hàng theo Chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu

nhập khác”

16



Quy định và hướng dẫn về doanh thu được tuân thủ theo chuẩn mực số 14

“doanh thu và thu nhập khác”

Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và

phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác, gồm: các loại doanh thu, thời điểm

ghi nhận doanh thu, phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác làm cơ sở ghi sổ

kế tốn và lập báo cáo tài chính. Chuẩn mực này quy định:

 Thời điểm ghi nhận doanh thu

Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả năm điều kiện sau:

1. DN đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản

phẩm hoặc hàng hóa cho người mua.

2. DN khơng còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa

hoặc quyền kiểm sốt hàng hóa.

3. Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.

4. DN đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng.

5. Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.

Chúng ta đi phân tích sâu hơn về năm điều kiện ghi nhận doanh thu này:

1. DN đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản

phẩm hoặc hàng hóa cho người mua:

Những rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải như: hàng hóa bị hư hỏng, kém

phẩm chất, lạc hậu về mẫu mã và thị hiếu...

Trường hợp DN vẫn còn chịu phần lớn rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa

dưới nhiều hình thức khác nhau như:

+ Doanh nghiệp vẫn còn phải chịu trách nhiệm để đảm bảo cho tài sản được hoạt

động bình thường mà khơng nằm trong các điều khoản bảo hành thơng thường.

+ Việc thanh tốn tiền hàng còn chưa chắc chắn vì còn phụ thuộc vào khách hàng.

+ Hàng hóa được giao còn chờ lắp đặt và việc lắp đặt đã được thỏa thuận rõ trong

hợp đồng mà DN chưa hoàn thành.

+ Khi người mua có quyền hủy bỏ việc mua hàng vì một lý do nào đó được nêu trong

hợp đồng mua bán và DN chưa chắc chắn về khả năng hàng bán có bị trả lại hay khơng.

Những lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa là khoản tiền thu được từ việc

bán hàng hóa hoặc lợi ích, thu nhập ước tính từ việc sử dụng hàng hóa.

Khi DN đã chuyển giao phần lớn những rủi ro và lợi ích kể trên thì mới được ghi

nhận doanh thu bán hàng

2. DN khơng còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa

hoặc quyền kiểm sốt hàng hóa:

Trong hầu hết các trường hợp thì thời điểm chuyển giao quyền sở hữu trùng với

thời điểm chuyển quyền kiểm soát hàng hóa cho người mua. Tuy nhiên, trong một số



17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x