Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.2. GEN FUT1, MUC4

FUT1 và MUC4 là 2 locus xác định tính nhạy cảm hay kháng vi khuẩn E.Coli

(Filistowicz and Jasek 2006).

Với gen FUT1 (fucosyltransferase 1), đột biến điểm trong vùng khung đọc mở

tại vị trí 307 đột biến G thành A (M3017G-A) liên quan đến sự kháng E.coli trên lợn

(Meijerink et al. 1997; Bao et al. 2008, 2012a,b; Ruan et al. 2013; Shiping et al.

2014). Những cá thể mang gen đột biến điểm này khơng có sự biểu hiện thụ thể cho

kháng nguyên F18 của vi khuẩn E.coli, mà các kháng nguyên này chịu trách nhiệm

gây tiêu chảy ở lợn con sơ sinh, lợn con trước và sau cai sữa. Vì vậy những cá thể

mang kiểu gen AA sẽ có khả năng kháng được bệnh tiêu chảy do độc tố của vi khuẩn

E.coli. Lợn mang kiểu gen AA tỷ lệ sống và khối lượng cao hơn so với lợn mang kiểu

gen AG và GG (Bao et al. 2011).

MUC4 viết tắt từ mucin 4 được coi như chất nhầy biểu mơ, nó là đại phân tử

thuộc họ protein, được tạo ra bởi tế bào biểu mô bao gồm ở màng và glycoprotein bài

tiết. Biểu hiện gen MUC4 trên cơ thể vật ni có vai trò rất quan trọng trong việc bôi

trơn và bảo vệ bề mặt tế bào biểu mô, tế bào sinh trưởng và các loại tế bào khác nhằm

đáp ứng miễn dịch và sự kết dính tế bào.

Gen MUC4 là gen có allen A nhạy cảm và allen G kháng với F4ab/ac (Ruan et

al., 2003). Vì vậy, gen MUC4 đóng vai trò trong việc kháng bệnh tiêu chảy ở lợn do vi

khuẩn E.coli gây ra đặc biệt liên quan đến chủng E.coli F4ab/ac (Ruan et al. 2013),

trong đó, cá thể mang kiểu gen GG có khả năng kháng bệnh tiêu chảy cao hơn so với

những cá thể mang kiểu gen AA và AG.

1.3. KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA LỢN

1.3.1. Sinh trưởng của lợn

Sinh trưởng của lợn là sự tăng lên về kích thước hoặc khối lượng do có sự tăng

lên về số lượng và thể tích tế bào. Giai đoạn trước thành thục sinh dục có tốc độ sinh

trưởng nhanh, sau đó tốc độ sinh trưởng chậm lại và giảm dần cho đến khi đạt ổn định

về khối lượng- thành thục về thể vóc.

Trong chăn ni lợn cơng nghiệp, tăng khả năng tăng khối lượng và giảm độ dày

mỡ lưng là mục tiêu chủ yếu trong chương trình chọn lọc để cải thiện khả năng sinh

trưởng của lợn đực.



12

12



Các chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn bao

gồm: Tăng khối lượng, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng và độ dày

mỡ lưng.

1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn

a) Sinh trưởng tích lũy (Vi)

Là khả năng tích lũy các chất hữu cơ trong q trình đồng hóa và dị hóa. Nó

biểu thị tốc độ tăng trưởng về khối lượng, kích thước và thể tích cơ thể gia súc tích lũy

được trong thời gian.

Sinh trưởng tích lũy được tính theo cơng thức:

Vi = V1, V2, V3,... Vn

Đơn vị tính là kg, g.

Trong đó :

V1, V2, V3,... Vn là khối lượng, kích thước tương ứng với khoảng thời gian t 1, t2,

t3,... tn

i = 1, 2, 3,... n

n là số lần cân, đo tại khoảng thời gian t

Ở lợn, sinh trưởng tích lũy liên quan mật thiết đến khả năng cho thịt,sinh trưởng

tích lũy càng cao thì năng suất thịt càng lớn. Vì vậy việc theo dõi, đánh giá sinh trưởng

tích lũy khơng chỉ có ý nghĩa về mặt sinh học mà còn có ý nghĩa về mặt kinh tế.

b) Sinh trưởng tuyệt đối

Là quá trình tăng trưởng về khối lượng, kích thước cơ thể vật ni trong một

đơn vị thời gian (g/ngày).

Sinh trưởng tuyệt đối được xác định bằng tỷ lệ giữa khối lượng cơ thể vật nuôi

tăng lên với khoảng thời gian để tăng được khối lượng đó.

Trong đó:

Ai: sinh trưởng tuyệt đối

Vi-1: sinh trưởng khối lượng, kích thước ở thời kỳ đầu tương ứng với một

khoảng thời gian ti-1.

Vi: sinh trưởng khối lượng, kích thước ở thời kỳ tiếp theo tương ứng với một

khoảng thời gian ti.

Chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá khả năng tăng khối lượng trung bình

hàng tháng (kg/tháng), hàng ngày (g/ngày). Nó giúp ta đánh giá được mức tăng



13

13



khối lượng đàn lợn trong từng giai đoạn. nhờ đó sẽ biết được tình trạng sức khỏe,

sự phù hợp hay khơng của thức ăn về lượng và chất ở từng lứa tuổi của vật nuôi. Đồ

thị sinh trưởng tuyệt đối của lợn biểu diễn mức độ tăng khối lượng g/ngày có dạng

Parapol. Trong chăn ni, người ta cần tìm thời điểm mà Parapol đạt giá trị cực đại

để kết thúc giai đoạn nuôi thịt nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.

c) Sinh trưởng tương đối

Sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ % tăng lên về khối lượng kích thước và thể tích

cơ thể lúc khảo sát so với lúc ban đầu khảo sát.

Sinh trưởng tương đối được tính theo cơng thức:

Trong đó:

Ri: sinh trưởng tương đối

Vi-1: khối lượng, kích thước ở kỳ đầu

Vi: khối lượng, kích thước ở kỳ sau.

d) Tăng khối lượng trung bình (g/ngày tuổi)

Là chỉ tiêu quan trọng đành giá khả năng sinh trưởng của vật nuôi, chỉ tiêu này

thể hiện khả năng thu nhận, hiệu quả sử dụng thức ăn, chất lượng giống. Các giống

lợn ngoại thường có hiệu quả sử dụng thức ăn, mức tăng khối lượng trung bình cao

hơn các giống lợn nội.

e) Tỷ lệ nạc

Chỉ tiêu này được xác định thông qua hai chỉ tiêu: độ dày mỡ lưng và độ dày cơ

thăn. Nó giúp người chăn nuôi biết được năng suất thịt, mức sinh trưởng nạc, mức sinh

trưởng mỡ và mức cân bằng về thành phần dinh dưỡng.

1.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của lợn

Các tính trạng về khả năng sinh trưởng và phát dục ở lợn hầu hết là tính trạng số

lượng, chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố gen, di truyền và ngoại cảnh.

a. Yếu tố di truyền

* Yếu tố gen FUT1, MUC4

Đối với sinh trưởng, hội chứng tiêu chảy có ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh

trưởng của lợn con sơ sinh và sau cai sữa. Việc giảm hội chứng tiêu chảy ở lợn con sẽ

góp phần tăng tỷ lệ sống của lợn con sơ sinh, lợn sau cai cữa, giảm việc sử dụng kháng

sinh trong chăn nuôi, tăng khả năng sinh trưởng của lợn.



14

14



* Yếu tố giống

Ảnh hưởng của yếu tố di truyền đến khả năng sinh trưởng của lợn bao gồm sự

khác biệt giữa các cá thể trong cùng một giống. Yếu tố giống có ảnh hưởng rõ rệt đến

khả năng sinh trưởng của lợn. Các giống lợn khác nhau có q trình sinh trưởng khác

nhau đó là q trình tích lũy các chất mà chủ yếu là protein. Các giống lợn địa phương

thường có tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn thấp. Theo Sellier (1998),

con lai có ưu thế cao hơn bố mẹ chúng về tăng khối lượng (10%) và thu nhận thức ăn

hằng ngày.

Các giống lợn khác nhau có q trình sinh trưởng khác nhau, tiềm năng di

truyền của quá trình sinh trưởng của gia súc được thể hiện thông qua hệ số di truyền.

Giai đoạn trưởng thành, các chỉ tiêu như tăng khối lượng trung bình/ngày ni, tiêu

tốn thức ăn/kg tăng khối lượng đều có hệ số di truyền đạt ở mức trung bình (h 2 = 0,31).

Sellier (1998), chỉ tiêu về độ dày mỡ lưng lại có hệ số di truyền cao (h 2 = 0,3 – 0,6).

Hệ số di truyền đối với tính trạng khối lượng sơ sinh và sinh trưởng trong thời gian bú

sữa dao động từ 0,05 – 0,21 và nó thấp hơn trong thời kỳ vỗ béo (từ 25 – 95kg). Khả

năng tăng trưởng của lợn sau cai sữa là cao nhất so với giai đoạn bú sữa và giai đoạn

trưởng thành. Giai đoạn trưởng thành, các chỉ tiêu về tỷ lệ nạc, dài thân thịt, móc hàm,

diện tích cơ thăn, dày mỡ lưng có hệ số di truyền cao. Vì vậy trong chọn lọc và nhân

giống người ta thường xác định các chỉ tiêu này ở giai đoạn trưởng thành để loại bỏ

những con vật không đạt yêu cầu chất lượng giống. Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu

phục vụ cho sản xuất, người ta thường chọn những giống phù hợp với mong muốn

trong chăn nuôi.

Hiện nay, để tăng khả năng sinh trưởng và tăng khối lượng cơ thể người ta chủ

yếu tạo ra ưu thế lai. Qua nhiều năm với nhiều cơng trình nghiên cứu, các nhà khoa

học và thực tiễn sản xuất đã cho thấy phương pháp lai giống có hiệu quả cao, ưu thế lai

nhận được khi lai giống làm tăng khả năng sinh trưởng cả đàn giống và với từng cá

thể. Ngày nay, ở những nước có ngành chăn ni phát triển, trên 90% con giống

thương phẩm đều là con lai. Sellier (1998), con lai thường tạo ra ưu thế lai cao hơn con

bố mẹ về tăng trọng, con lai cho ưu thế lai cao hơn bố mẹ về tăng khối lượng (10%) và

thu nhận hàng ngày. Con lai 3 giống có ưu thế lai về tăng khối lượng tới 16,44%, ưu

thế lai về tiêu tốn thức ăn là 8,18%, trong khi đó con lai trở ngược có ưu thế lai về tăng

khối lượng chỉ đạt 7,03%, tiêu tốn thức ăn là 2,7%.



15

15



Bên cạnh hệ số di truyền người ta vẫn quan tâm đến mối tương quan giữa các

tính trạng. Tương quan di truyền thuận và liên quan chặt chẽ như giữa các chỉ tiêu tăng

khối lượng và thu nhận thức ăn có hệ số tương quan r = 0,65. Theo Nguyễn Văn Đức

và Lê Thanh Hải (2001), tương quan di truyền (r) giữa tăng khối lượng và tiêu tốn thức

ăn: từ -0,51 đến -0,56. Sellier (1998), cơng bố có mối tương quan di truyền âm và chặt

chẽ giữa tăng khối lượng và tiêu tốn thức ăn, r = -0,69 đến -0,99; giữa tăng khối lượng

và thu nhận thức ăn có tương quan âm và chặt chẽ, r = -0,28 đến -0,37. Hệ số di truyền

về tăng khối lượng của lợn Landrace nuôi tại Sibia ở mức thấp (0,11) và tỷ lệ nạc ở

mức cao (0,63).

Ngoài con giống, khả năng sinh trưởng về khối lượng, các tính trạng ni vỗ

béo, thân thịt và chất lượng thịt còn chịu sự chi phối của các gen như FUT1, halothane,

IGF2α, gen Rendement Napoli,....

b. Các yếu tố ngoại cảnh

Bên cạnh sự ảnh hưởng của các yếu tố di truyền, các yếu tố ngoại cảnh cũng

ảnh hưởng rất rõ rệt đến khả năng sinh trưởng của lợn.

- Dinh dưỡng

Dinh dưỡng chính là yếu tố quan trọng bậc nhất trong các yếu tố ngoại cảnh ảnh

hưởng đến khả năng sinh trưởng của lợn. Mối quan hệ đặc biệt giữa protein và năng

lượng trong khẩu phần ăn là yếu tố quan trọng giúp cho việc điều khiển tốc độ tăng

khối lượng và tiêu tốn thức ăn của lợn. Phương thức cho ăn và giá trị dinh dưỡng trong

khẩu phần ăn là chìa khóa ảnh hưởng đến tăng khối lượng. Nuôi lợn bằng khẩu phần

có protein thấp lợn sẽ sinh trưởng chậm, tăng khối lượng thấp. Khẩu phần có mức

năng lượng cao sẽ làm tăng tốc độ tăng khối lượng, giảm tiêu tốn thức ăn so với mức

năng lượng thấp. Tăng khối lượng trung bình/ngày cũng sẽ thay đổi theo mối quan hệ

giữa các chất với nhau: vitamin, khoáng, protein. Bổ sung các axit amin cần thiết vào

khẩu phần ăn của lợn giúp tăng khối lượng nhanh hơn.

Khống có vai trò đặc biệt quan trọng đối với lợn. Ni lợn hướng nạc thì hàm

lượng Lysin trong khẩu phần giai đoạn cuối cần 0,5 – 0,8%. Tốc độ sinh trưởng và chất

lượng thịt cũng thay đổi tùy thuộc vào mối quan hệ giữa vitamin và khoáng chất. Bổ

sung Cu, Zn một cách hợp lý vào khẩu phần ăn có tác dụng làm tăng khả năng sinh

trưởng, giảm ô nhiễm môi trường. Như vậy, khả năng tăng khối lượng của lợn tốt hơn,

tiêu tốn thức ăn ít và độ dày mỡ lưng cao hơn khi cho lợn ăn theo chế độ tự do.



16

16



* Thời gian nuôi

Dựa vào quy luật sinh trưởng tích lũy chất dinh dưỡng trong cơ thể lợn, người ta

đề ra 3 phương thức ni: ni lấy nạc đòi hỏi tăng khối lượng nhanh, thường kết thúc

khi lợn có khối lượng 80 – 90kg; nuôi theo hướng kiêm dụng nạc – mỡ, thời gian nuôi

dài hơn. Phương thức nuôi lấy mỡ cần thời gian nuôi dài, khối lượng giết thịt lớn hơn

2 phương thức kia. Theo Đinh Văn Chỉnh và cs. (1999), nghiên cứu trên lợn kiểm tra

cá thể cho biết: độ lớn của hệ số tương quan giữa độ dày mỡ lưng so với tỷ lệ mỡ giảm

dần theo tuổi, sự tích lũy mỡ tăng dần theo sự tăng về khối lượng. cứ tăng 10kg khối

lượng thì độ dày mỡ lưng tăng khoảng 1mm ở tất cả các điểm. thời gian nuôi càng dài

thì tỷ lệ mỡ trong thân thịt càng tăng, tỷ lệ nạc càng giảm.

* Các yếu tố chăm sóc ni dưỡng

Biện pháp kỹ thuật trong chăn nuôi lợn con là rất quan trọng vì nó góp phần nâng

cao năng suất sinh sản của lợn nái. Nếu kỹ thuật chăn nuôi lợn con tốt thì khơng chỉ tỷ

lệ ni sống lợn con cao, rút ngắn được thời gian cai sữa mà còn tăng được khối lượng

lợn con.

Các yếu tố gây ảnh hưởng đến trao đổi chất và sức sản xuất của lợn bao gồm:

nhiệt độ chuồng ni, tiểu khí hậu chuồng ni, khẩu phần ăn của lợn, chế độ chăm

sóc – nuôi dưỡng, cân gia súc, vận chuyển, phân đàn, chuyển chuồng,...

Nhiệt độ chuồng nuôi cao hay thấp hơn nhiệt độ giới hạn thích ứng cho phép đều

gây bất lợi đối với sinh trưởng của lợn.

Độ ẩm cao dễ gây các bệnh về đường hơ hấp, bệnh ngồi da như ghẻ, đậu mùa,

tiêu chảy,.... dẫn đến lợn chậm lớn. Độ ẩm thích hợp cho lợn là 50 – 70%.

Các yếu tố ảnh hưởng không tốt đến sự trao đổi chất và sức sản xuất của lợn

gồm: sự thay đổi của nhiệt độ chuồng ni, tiểu khí hậu chuồng ni khơng thích hợp,

khẩu phần ăn khơng phù hợp, chế độ chăm sóc ni dưỡng khơng tốt, q trình cân,

vận chuyển gia súc, lấy máu, thiến hoạn, phân đàn, chuyển chồng, tiêm chủng và điều

trị, thay đổi kích thước và hình dáng chuồng ni, thay đổi khẩu phần ăn, đột ngột bỏ

đói, cho uống thiếu nước.

Khi cho lợn ăn khẩu phần ăn tự do, khả năng tăng khối lượng nhanh hơn, tiêu tốn

thức ăn thấp hơn nhưng dày mỡ lưng lại cao hơn khi lợn đực ăn khẩu phần ăn hạn chế.

Lợn cho ăn khẩu phần ăn hạn chế có tỷ lệ nạc cao hơn lợn cho ăn khẩu phần ăn tự do.

* Mùa vụ



17

17



Huang et al. (2002) cho biết mùa vụ có ảnh hưởng rõ rệt đến độ dày mỡ lưng và

hiệu quả sử dụng thức ăn. Choi et al. (1997), lợn ni trong mùa hè và mùa đơng có độ

dày mỡ lưng thấp hơn so với nuôi trong mùa thu và mùa xuân.

Sự khác biệt giữu năm và mùa ảnh hưởng tới tăng khối lượng và dày mỡ lưng rõ

rệt. Nguyễn Văn Đức và Lê Thanh Hải (2001), tăng khối lượng chịu ảnh hưởng của

yếu tố mùa vụ.

* Tính biệt

Mỗi loại lợn khác nhau: lợn cái, đực, đực thiến đều có khả năng sinh trưởng khác

nhau. Lợn đực có khả năng sinh trưởng cao hơn lợn cái và đực thiến. Tuy vậy nhưng

nhu cầu về năng lượng của lợn đực cũng cao hơn hai loại trên.

* Điều kiện chăn nuôi

Điều kiện chăn nuôi của mỗi trang trại cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng

của lợn. Chuồng kín, chuồng ni đảm bảo về mật độ, diện tích phù hợp thì khả năng

sinh trưởng tốt hơn chuồng hở, chuồng có mật độ nuôi không phù hợp. Khả năng sinh

trưởng của lợn sẽ phát huy tốt khi nuôi theo đàn. Nuôi theo đàn thì lượng thu nhận

thức ăn/ngày cao hơn so với ni nhốt theo từng ô chuồng.

1.4. TỔNG QUAN VỀ TİNH DỊCH LỢN

1.4.1. Bộ máy sinh dục lợn đực

a) Cấu tạo bộ máy sinh dục lợn đực

Hệ sinh dục lợn đực gồm các bộ phận chủ yếu sau:

Dịch hồn (hay còn gọi là tinh hoàn) là một tuyến, vừa là tuyến ngoại tiết tức là

sinh ra tinh trùng, vừa có chức năng nội tiết hay sinh ra hormone testosterone, có tác

dụng làm phát triển đặc điểm giới tính.

Cấu tạo của dịch hồn:

- Giáp mạc riêng (tunica vaginalis propria): cấu tạo bởi 1 lớp sợi bền, là phần

kéo dài của phúc mạc.

- Màng trắng (tunica abluginea): từ đây phát ra nhiều bức ngăn hình tia, chia

dịch hồn thành nhiều múi. Mỗi múi đều chứa những ống sinh tinh uốn khúc (tubuli

abluginea) trong đó tinh trùng được hình thành. Tất cả các ống sinh tinh đều hướng về

vách giữa của dịch hoàn.

- Mạng tinh (rate testis) và thể Haimo (Highmor): khi đi vào vách giữa của dịch

hoàn, những ống sinh tinh uốn khúc biến thành những ống sinh tinh thẳng và đan chéo



18

18



vào nhau tạo thành mạng tinh. Mạng tinh cùng với vách giữa của dịch hoàn tạo thành

thể Haimo.

- Dịch hoàn phụ (Epididymis): ở lợn đực dịch hoàn phụ rất phát triển, hay còn

gọi là mào tinh- là một cái kho để dự trữ tinh trùng. Phụ dịch hoàn bắt đầu từ mạng

tinh chạy ra khoảng 12-15 ống tinh. Mỗi ống nằm trong ngăn của một cơ quan gắn vào

cực trên và bờ sau của tinh hoàn gọi là mào tinh. Mỗi ống tinh trong mào tinh cũng là

những ống uốn khúc. Tất cả những ống này đều đổ vào một ống xuất chung, uốn khúc

gọi là ống mào tinh (ductus epididymidis). Ống này hướng từ chõm xuống đi mào

tinh và khi thốt ra khỏi cơ quan này thì thành một ống duy nhất- ống dẫn tinh (ductus

deferens). Tinh trùng không ngừng được sinh ra ở ống sinh tinh sau đó đi vào dịch

hồn phụ và lưu lại đó một thời gian. Khi vào dịch hồn phụ tinh trùng khơng vận

động, khơng có khả năng thụ tinh vì trong phụ dịch hồn có pH 6,2 – 6,8, đồng thời

nhiệt độ ở đây cũng thấp hơn thân nhiệt. Chính những điều kiện này làm cho tinh trùng

ít hoạt động và sống lâu được trong phụ dịch hồn. Tinh trùng có khả năng sống trong

phụ dịch hoàn từ 1-2 tháng.

- Bao dịch hoàn: mỗi dịch hoàn được bao bọc bởi một bao sợi (màng trắng),

bên ngoài được phủ bằng một tinh mạc, bên trong được phủ bởi một màng mạch máu.

- Dương vật: dương vật nằm ở dưới vách bụng, được bắt đầu bằng một trụ, hai

đầu bám vào hai mẩu xương ngồi, hướng ra phía trước. Dương vật lợn đực có một

đoạn cong hình chữ S, nằm kín trong da, khi giao phối mới thò ra ngồi. Đầu dương

vật có hình xoắn như mũi khoan, cách đầu mút 0,5 - 0,7cm có lỗ để phóng tinh ra

ngồi. Khi giao phối hay lấy tinh, dương vật thò ra ngồi 20 - 40 cm.

- Thừng dịch hoàn: thừng dịch hoàn gồm các động mạch và thần kinh đi vào

dịch hồn, chúng cấu tạo bởi các mơ liên kết, các hệ cơ vòng và cơ dọc liên kết với

nhau.

b) Các tuyến sinh dục phụ

- Tuyến tiền liệt (Prostate gland): nằm ở chỗ khởi đầu của niệu đạo và trên phần

cuối của ống dẫn tinh. Tuyến tiền liệt có rất nhiều lỗ đổ vào niệu đạo, dịch tiết của

tuyến này khơng trong suốt, có tính kiềm, có tác dụng trung hòa độ acid ở long niệu

đạo và acid H2CO3 do tinh trùng sinh ra. Thể tích của tuyến thay đổi theo tuổi, gia súc

non thì tuyến này rất nhỏ, ở gia súc trưởng thành thì to nhất và sau đó teo đi khi gia

súc già.



19

19



- Tuyến tinh nang (tiểu nang, vesicular semen gland): là một túi rỗng để chứa

tinh trùng, nang tuyến tiết ra chất keo màu trắng hoặc vàng, qua ống phóng tinh đổ vào

đường niệu sinh dục. Chất keo này gặp chất tiết của tuyến tiền liệt tiết ra thì ngưng đặc

lại để đậy nút cổ tử cung sau khi giao phối không cho tinh dịch chảy ngược ra ngồi.

Ngồi ra chất tiết này còn cung cấp dinh dưỡng và tăng cường hoạt lực của tinh trùng

vì trong chất tiết có chứa nhiều glucose và các acid béo. Nang tuyến là hai tuyến hình

trứng, màu vàng nhạt, mặt ngoài nổi nhiều u, nằm trong xoang chậu, trên bọng đái và

ống dẫn tinh.

- Tuyến củ hành (Cowper, Glandula bulborethrales): to bằng quả táo, nằm ở

đoạn cuối của phần niệu đạo trong xoang chậu, trên vòng cung ngồi. Cấu tạo có cơ củ

hổng và cơ co bóp của tuyến. Thân tuyến to nhỏ không giống nhau. Chất bài tiết của

tuyến này chính là keo phèn, chất này đặc, keo dính, có tác dụng nút cổ tử cung sau

khi lợn đực phóng tinh xong. Tuy nhiên, keo phèn là chất khơng có lợi cho tinh trùng,

vì khi tinh trùng ra ngồi cơ thể, nếu trong tinh dịch có lẫn keo phèn, tinh trùng thường

tụ lại nên rất chóng chết. Do đó, khi làm thụ tinh nhân tạo người ta lọc bỏ keo phèn

ngay sau khi lấy tinh, hoặc lọc bỏ ngay trên phễu khi đang lấy tinh.

c) Đặc tính của tinh dịch và tinh trùng lợn

* Sự tiết tinh dịch và thành phần tinh dịch ở lợn

Lợn đực ngoại, khi được 8-9 tháng tuổi, khối lượng cơ thể đạt 90-100kg thể trọng

người ta có thể tiến hành khai thác tinh. Khi khai thác lợn đực trong thụ tinh nhân tạo,

q trình xuất tinh, ta có thể quan sát thấy rõ 3 giai đoạn xuất tinh:

• Giai đoạn đầu: tiết ra 10 - 20 ml dịch trong suốt khơng có tinh trùng, chất này có

tác dụng rửa đường niệu sinh dục.

• Giai đoạn hai: kéo dài 1 - 2 phút, tiết ra khoảng 100 - 120 ml, chất này gồm tinh

trùng và các chất phân tiết của các tuyến sinh dục như tiền liệt, cowper, tinh nang.

• Giai đoạn ba: là giai đoạn bài tiết chủ yếu của các tuyến sinh dục phụ (150 - 200

ml). Số lượng tinh trùng ở giai đoạn này ít, giai đoạn này kéo dài 4 - 5 phút.

Tinh dịch của lợn cũng giống như tinh dịch của các lồi gia súc khác, nó là hỗn

hợp các dịch tiết của cơ quan sinh dục đực do các tuyến sinh dục phụ tiết ra, khi con

đực hưng phấn cao độ và thực hiện thành công phản xạ sinh dục để tiết tinh dịch vào

đường sinh dục của con cái hay dụng cụ hứng tinh. Tinh dịch lợn đực gồm hai phần:

tinh thanh và tinh trùng.



20

20



Tinh thanh chiếm 94,7% khối lượng tinh dịch. Tinh thanh của tinh dịch là mơi

trường có tác dụng kích thích tinh trùng hoạt động. Sự hoạt động của tinh trùng làm

tiêu hao năng lượng dự trữ, làm trương phồng màng bọc đầu tinh trùng, đồng thời làm

mất diện tích bề mặt gây ra các đám kết dính làm tinh trùng lợn chóng chết khi ra

ngoài cơ thể con đực. Tinh thanh của tinh dịch là hỗn hợp chất lỏng được tiết ra bởi

tuyến sinh dục phụ như: tiền liệt tuyến và niệu đạo (55-70%); tinh nang (20-26%);

tuyến Cowper (15-18%) và tinh hoàn phụ (2-3%). Tinh trùng trong tinh dịch chỉ chiếm

2 - 7%. Tinh thanh chiếm khối lượng lớn trong tinh dịch và chỉ là môi trường cho tinh

trùng hoạt động, do vậy khối lượng tinh thanh là chỉ tiêu chỉ có ý nghĩa về mặt pha

lỗng và qua nó khơng thể kết luận được tinh tốt hay xấu.

Thành phần hoá học của tinh dịch lợn: tinh dịch lợn là một hỗn hợp các chất lỏng

phức tạp, cho nên một số chất chỉ được xác định ở mức định tính. Tác dụng chủ yếu

của tinh dịch là rửa đường niệu sinh dục, là mơi trường để ni sống tinh trùng ngồi

cơ thể, kích thích tinh trùng hoạt động trong đường sinh dục của con cái.

*Sự hình thành và cấu tạo của tinh trùng lợn

Tinh trùng là tế bào sinh dục đực đã hồn chỉnh về hình thái, cấu tạo và đặc điểm

sinh lý, sinh hóa bên trong và có khả năng thụ thai (thụ tinh). Nói cách khác, tinh trùng

là tế bào sinh dục đực đã qua kỳ phân chia giảm nhiễm, đã thành thục và có khả năng

thụ thai.

Các giai đoạn hình thành tinh trùng:



21

21



Hình 2. 1. Sơ đồ của quá trình hình thành tinh trùng

Tinh trùng được hình thành trong lòng ống sinh tinh của dịch hồn từ khi con đực

thành thục về tính.

-



Giai đoạn sinh sản: tinh bào nguyên thủy sinh sản thành tinh nguyên bào, tinh nguyên

bào xuất hiện không lâu trước khi con đực thành thục về tính, đây là những tế bào lớn,

hình tròn, có nhiễm sắc thể phân tán rất điển hình.



-



Giai đoạn sinh trưởng: giai đoạn này tinh nguyên bào tăng lên về kích thước, đến cuối

giai đoạn sinh trưởng thì được gọi là tinh bào cấp I (Cyt I). Quá trình nguyên phân

(Mitosis) cho ra những Cyt I với 2n nhiễm sắc thể. Giai đoạn này xảy ra trong thời

gian 15-17 ngày.



-



Giai đoạn thành thục :đặc trưng của giai đoạn này là xảy ra quá trình giảm phânMeiois (hay phân bào giảm nhiễm) qua hai lần phân chia liên tiếp. Sau lần phân chia

thứ nhất tạo ra Cyt II, và sau lần phân chia thứ hai thì tạo ra tiền tinh trùng (hay tinh

tử).



-



Giai đoạn biến thái: tiền tinh trùng (tinh tử) phải trải qua giai đoạn biến thái. Giai đoạn

này có thể tóm tắt như sau:



22

22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×