Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Kế toán bán hàng trong các doanh nghiệp thương mại theo chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành.

2 Kế toán bán hàng trong các doanh nghiệp thương mại theo chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành.

Tải bản đầy đủ - 0trang

đủ (hay tuân thủ yêu cầu trung thực) các giao dịch kế tốn trong kỳ và từ đó, cho

phép tình trạng tái sản, nguồn vốn của một Doanh nghiệp một cách đầy đủ, hợp lý.

Hơn nữa, do khơng có sự trùng hợp giữa lượng tiền thu vào và doanh thu trong kỳ

và tồn tại chênh lệch giữa chi phí ghi nhận và lượng tiền chi ra trong một kỳ, kế

toán theo cơ sở dồn tích cho phép theo dõi các giao dịch kéo dài qua các kỳ khác

nhau, như nợ phải thu, nợ phải trả, khấu hao, dự phòng,...

- Nguyên tắc phù hợp: Nguyên tắc phù hợp quy định việc ghi nhận doanh

thu, chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi

nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi

phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của kỳ

trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó.

Như vậy chi phí ghi nhận trong kỳ là tồn bộ các khoản chi phí liên quan đến

việc tạo ra doanh thu và thu nhập của kỳ đó, khơng phụ thuộc khoản chi phí đó

được chia ra trong thời kỳ nào.

Quy định hạch toán phù hợp giữa doanh thu và chi phí nhằm xác định và đánh

giá đúng kết quả hoạt động kinh doanh của từng thời kỳ kế toán, giúp cho các nhà

quản trị có những quyết định kinh doanh đúng đắn và hiệu quả.

- Nguyên tắc thận trọng: Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán

cần thiết để lập các ước tính kế tốn trong các điều kiện không chắc chắn. Nguyên

tắc này yêu cầu việc ghi tăng vốn chủ sở hữu chỉ được thực hiện khi có bằng chứng

chắc chắn, còn việc ghi giảm vốn chủ sở hữu phải được ghi nhận ngay từ khi có

chứng cứ về khả năng có thể xảy ra.

Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi:

+ Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn;

+ Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập;

+ Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí;

+ Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về

khả năng thu được lợi ích kinh tế;

+ Chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng có thể về khả năng phát sinh.

Tuân thủ theo nguyên tắc thận trọng sẽ giúp cho DN bảo toàn nguồn vốn, hạn

chế rủi ro và tăng khả năng hoạt động liên tục.



13



- Nguyên tắc nhất quán: Các chính sách và phương pháp kế toán doanh

nghiệp đã chọn phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế tốn năm.

Trường hợp có thay đổi chính sách và phương pháp kế tốn đã chọn thì phải giải

trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài

chính.

- Hoạt động Liên tục: Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là

doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình

thường trong tương lai gần, nghĩa là doanh nghiệp khơng có ý định cũng như khơng

buộc phải ngừng hoạt động hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mơ hoạt động của mình.

Trường hợp thực tế khác với giả định hoạt động liên tục thì báo cáo tài chính phải

lập trên một cơ sở khác và phải giải thích cơ sở đã sử dụng để lập báo cáo tài chính.

- Giá gốc: Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc của tài sản được

tính theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị

hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận. Giá gốc của tài sản không

được thay đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế tốn cụ thể.

- Trọng yếu: Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu

thơng tin hoặc thiếu chính xác của thơng tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo

tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài

chính. Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thơng tin hoặc các sai

sót được đánh giá trong hồn cảnh cụ thể. Tính trọng yếu của thơng tin phải được

xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính.

Ngồi ra chuẩn mực cũng đề cập đến khái niệm về doanh thu, chi phí trong

doanh nghiệp

Doanh thu và thu nhập khác: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp

thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông

thường và các hoạt động khác của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở

hữu, khơng bao gồm khoản góp vốn của cổ đơng hoặc chủ sở hữu.

Chi phí: Là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế

tốn dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh

các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối

cho cổ đông hoặc chủ sở hữu.



14



Như vậy trong một kỳ kế toán năm, đơn vị phải thực hiện nhất quán đối với

các phương pháp kế toán đã lựa chọn ảnh hưởng tới kế tốn bán hàng như: phương

pháp tính trị giá hàng xuất kho.

1.2.1.2 Kế toán bán hàng theo chuẩn mực kế toán số 02 “Hàng tồn kho”

Chuẩn mực được ban hành và công bố theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC

ngày 31 tháng 12 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính.

Chuẩn mực kế toán VAS 02 quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương

pháp kế toán hàng tồn kho. Để xác định được trị giá hàng tồn kho và trị giá hàng

bán chính xác thì các yếu tố liên quan vào q trình hạch tốn hàng bán, hàng tồn

kho phải chính xác, từ đó làm căn cứ lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho.

Nguyên tắc xác định giá vốn hàng hóa: Trị giá hàng gốc theo ngun tác giá

phí. Trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tính

theo giá trị thuần có thể thực hiện được. Trong đó, giá gốc hàng bán bao gồm: chi

phí mua, chi phí chế biến, và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có

được hàng hóa ở địa điểm và trạng thái sẵn sàng sử dụng để bán .

Việc tính giá trị HTK trong kế toán bán hàng được áp dụng một trong các

phương pháp sau:

- Phương pháp tính giá theo giá đích danh: Theo phương pháp này sản phẩm,

vật tư, hàng hoá xuất kho thuộc lơ hàng nhập nào thì lấy đơn giá nhập kho của lơ

hàng đó để tính.

Ưu điểm: Đây là phương án tốt nhất, nó tuân thủ nguyên tắc phù hợp của kế

tốn; chi phí thực tế phù hợp với doanh thu thực tế. Giá trị của hàng xuất kho đem

bán phù hợp với doanh thu mà nó tạo ra. Hơn nữa, giá trị hàng tồn kho được phản

ánh đúng theo giá trị thực tế của nó.

Nhược điểm: Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi những điều

kiện khắt khe, chỉ những doanh nghiệp kinh doanh có ít loại mặt hàng, hàng tồn kho

có giá trị lớn, mặt hàng ổn định và loại hàng tồn kho nhận diện được thì mới có thể

áp dụng được phương pháp này. Còn đối với những doanh nghiệp có nhiều loại

hàng thì khơng thể áp dụng được phương pháp này

- Phương pháp bình quân gia quyền: Theo phương pháp này giá trị của từng

loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho đầu



15



kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Phương pháp

bình qn có thể được tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lơ hàng, phụ

thuộc vào tình hình của doanh nghiệp.

+ Theo giá bình quân gia quyền cuối kỳ (tháng)

Theo phương pháp này, đến cuối kỳ mới tính trị giá vốn của hàng xuất kho

trong kỳ. Tuỳ theo kỳ dự trữ của doanh nghiệp áp dụng mà kế toán hàng tồn kho

căn cứ vào giá nhập, lượng hàng tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ để tính giá đơn vị

bình quân:

Đơn giá xuất kho bình

quân trong kỳ của một

loại sản phẩm

Ưu điểm: Đơn giản, dễ làm, chỉ cần tính tốn một lần vào cuối kỳ.

Nhược điểm: Độ chính xác khơng cao, hơn nữa, cơng việc tính tốn dồn vào

cuối tháng gây ảnh hưởng đến tiến độ của các phần hành khác. Ngoài ra, phương

pháp này chưa đáp ứng yêu cầu kịp thời của thơng tin kế tốn ngay tại thời điểm

phát sinh nghiệp vụ.

+ Theo giá bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập (bình quân thời điểm)

Sau mỗi lần nhập sản phẩm, vật tư, hàng hoá, kế toán phải xác định lại giá trị

thực của hàng tồn kho và giá đơn vị bình quân. Giá đơn vị bình quân được tính theo

cơng thức sau:

Đơn giá

xuất kho lần

thứ i

Ưu điểm: Đơn giản, dễ làm, chỉ cần tính tốn một lần vào cuối kỳ.

Nhược điểm: Độ chính xác khơng cao, hơn nữa, cơng việc tính tốn dồn vào

cuối tháng gây ảnh hưởng đến tiến độ của các phần hành khác. Ngoài ra, phương

pháp này chưa đáp ứng yêu cầu kịp thời của thơng tin kế tốn ngay tại thời điểm

phát sinh nghiệp vụ.

- Phương pháp nhập trước xuất trước: Phương pháp này áp dụng dựa trên

giả định là hàng được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước và giá trị

hàng xuất kho được tính theo giá của lơ hàng nhập trước hoặc sản xuất trước và

thực hiện tuần tự cho đến khi chúng được xuất ra hết.

16



Ưu điểm: Phương pháp này giúp cho chúng ta có thể tính được ngay trị giá

vốn hàng xuất kho từng lần xuất hàng, do vậy đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời cho

kế toán ghi chép các khâu tiếp theo cũng như cho quản lý. Trị giá vốn của hàng tồn

kho sẽ tương đối sát với giá thị trường của mặt hàng đó. Vì vậy chỉ tiêu hàng tồn

kho trên báo cáo kế tốn có ý nghĩa thực tế hơn.

Nhược điểm: phương pháp này có nhược điểm là làm cho doanh thu hiện tại

khơng phù hợp với những khoản chi phí hiện tại. Theo phương pháp này, doanh thu

hiện tại được tạo ra bởi giá trị sản phẩm, vật tư, hàng hố đã có được từ cách đó rất

lâu. Đồng thời nếu số lượng chủng loại mặt hàng nhiều, phát sinh nhập xuất liên tục

dẫn đến những chi phí cho việc hạch tốn cũng như khối lượng cơng việc sẽ tăng

lên rất nhiều.

Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho theo Chuẩn mực kế toán số 02

Cuối kỳ kế toán năm, khi giá trị thuần có thể thực hiện được của HTK nhỏ hơn

giá gốc thì phải lập dự phòng giảm giá HTK.Số dự phòng giảm giá HTK phải lập là

số chênh lệch giữa giá gốc của HTK lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện được của

chúng.

Theo Điều 4, Thông tư 89/2013/TT-BTC ngày 28/06/2013 sửa đổi, bổ sung

thông tư số 228/2009/TT-BTC ngày 7/12/2009 của bộ tài chính hướng dẫn chế độ

trích lập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tổn thất các khoản

đầu tư tài chính, nợ phải thu khó đòi và bảo hành sản phẩm, hàng hố, cơng trình

xây lắp tại doanh nghiệp về trích lập dự phòng: Mức trích lập dự phòng tính theo

cơng thức sau:

Lượng vật tư hàng hóa



Mức dự phòng

giảm giá vật tư



=



hàng hóa



=



thực tế tồn kho tại thời

điểm lập báo cáo tài



Giá trị thuần có



Giá gốc hàng

x



tồn kho theo

sổ kế tốn



-



thể thực hiện

được của hàng



chính

tồn kho

Giá gốc hàng tồn kho bao gồm: chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí



liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái

hiện tại theo quy định tại Chuẩn mực kế toán số 02 - Hàng tồn kho ban hành kèm

theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài

chính.



17



Giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho (giá trị dự kiến thu hồi)

là giá bán (ước tính) của hàng tồn kho trừ (-) chi phí để hồn thành sản phẩm và chi

phí tiêu thụ (ước tính).

Mức lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho được tính cho từng loại hàng tồn

kho bị giảm giá và tổng hợp toàn bộ vào bảng kê chi tiết. Bảng kê là căn cứ để hạch

toán vào giá vốn hàng bán (giá thành tồn bộ sản phẩm hàng hố tiêu thụ trong kỳ)

của doanh nghiệp.

Riêng dịch vụ cung cấp dở dang, việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho tính

theo từng loại dịch vụ có mức giá riêng biệt.

1.2.1.3 Kế toán bán hàng theo Chuẩn mức kế toán số 14 “Doanh thu và thu

nhập khác”

Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và

phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác, gồm: các loại doanh thu, thời

điểm ghi nhận doanh thu, phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác làm cơ

sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính. Chuẩn mực này quy định:

Thời điểm ghi nhận doanh thu

Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả năm điều

kiện sau:

- DN đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản

phẩm hoặc hàng hóa cho người mua.

- DN khơng còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa

hoặc quyền kiểm sốt hàng hóa.

- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.

- DN đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng.

- Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.

Chúng ta đi phân tích sâu hơn về năm điều kiện ghi nhận doanh thu này:



 DN đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản

phẩm hoặc hàng hóa cho người mua.

Những rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải như: hàng hóa bị hư hỏng, kém

phẩm chất, lạc hậu về mẫu mã và thị hiếu...



18



Trường hợp DN vẫn còn chịu phần lớn rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng

hóa dưới nhiều hình thức khác nhau như:

+ Doanh nghiệp vẫn còn phải chịu trách nhiệm để đảm bảo cho tài sản được

hoạt động bình thường mà khơng nằm trong các điều khoản bảo hành thơng thường.

+ Việc thanh tốn tiền hàng còn chưa chắc chắn vì còn phụ thuộc vào khách

hàng.

+ Hàng hóa được giao còn chờ lắp đặt và việc lắp đặt đã được thỏa thuận rõ

trong hợp đồng mà DN chưa hồn thành.

+ Khi người mua có quyền hủy bỏ việc mua hàng vì một lý do nào đó được

nêu trong hợp đồng mua bán và DN chưa chắc chắn về khả năng hàng bán có bị trả

lại hay khơng.

Những lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa là khoản tiền thu được từ

việc bán hàng hóa hoặc lợi ích, thu nhập ước tính từ việc sử dụng hàng hóa.

Khi DN đã chuyển giao phần lớn những rủi ro và lợi ích kể trên thì mới được

ghi nhận doanh thu bán hàng

Ví dụ: Như một số hợp đồng mua bán trong nước đã có biên bản bàn giao cho

khách hàng theo đúng thỏa thuận, hợp đồng xuất khẩu theo giá FOB đã chuyển giao

hàng hóa lên thuyền vận chuyển... doanh nghiệp bán ô tô khi xuất ơ tơ đem bán có

đầy đủ hóa đơn, biên bản bàn giao cho khách hàng cũng được xem đã chuyển giao

phần lớn rủi ro, lợi ích gắn liền với quyền sở hữu, việc đăng ký sở hữu sau đó của

người mua không phải là phần lớn quyền sở hữu hàng hóa, quyền sở hữu đã được

xác định phần lớn khi bàn giao theo hợp đồng.



 DN khơng còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng

hóa hoặc quyền kiểm sốt hàng hóa.

Trong hầu hết các trường hợp thì thời điểm chuyển giao quyền sở hữu trùng

với thời điểm chuyển quyền kiểm sốt hàng hóa cho người mua. Tuy nhiên, trong

một số trường hợp lại có sự tách rời hai quyền này như: Khi bán hàng trả góp,

quyền quản lý và quyền kiểm sốt đã được chuyển giao nhưng quyền sở hữu chưa

được chuyển giao, điều này có nghĩa là phần lớn rủi ro và lợi ích của việc sở hữu

hàng hóa gắn liền với quyền kiểm soát được chuyển giao cho người mua mặc dù



19



quyền sở hữu hợp pháp vẫn thuộc về người bán. Người mua chỉ thực sự trở thành

chủ sở hữu khi đã hồn thành xong nghĩa vụ thanh tốn.

Ví dụ: Như một hợp đồng mua bán, hàng hóa được bán tại kho của người bán,

người mua và người bán đã có biên bản bàn giao hàng hóa nhưng hàng hóa vẫn

được gửi tại kho hàng người bán. Tạm thời hàng hóa vẫn thuộc quyền quản lý của

người bán nhưng khơng còn quyền quyết định bán hàng hóa đó cho bên thứ 3.



 Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.

Doanh thu được ghi nhận khi doanh nghiệp xác định được giá trị tương đương

của khoản đã thu hoặc sẽ thu được trong tương lai từ việc bán hàng hóa.

Ví dụ: Như có nghiệm thu khối lượng hồn thành được khách hàng xác nhận

của doanh thu hoạt động xây dựng; hợp đồng mua bán hàng hóa có giá trị cụ thể, đã

bàn giao hàng hóa...



 DN đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng.

Doanh thu chỉ được ghi nhận khi đã tương đối chắc chắn rằng DN nhận được

lợi ích từ các giao dịch. Điều này cũng phù hợp với “nguyên tắc thận trọng” của

chuẩn mực 01: “Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc

chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế”.

Ví dụ như sẽ thu được tiền từ hoạt động bán hàng, thu được hàng từ hợp đồng

mua bán hàng hóa nhưng được thanh tốn lại bằng hàng.



 Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.

Theo “nguyên tắc phù hợp” của chuẩn mực 01: “Việc ghi nhận doanh thu và

chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận

một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí

tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ

trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó”.

Ví dụ: Như giá vốn hàng bán của hàng hóa bán ra, chi phí bán hàng....

Thời điểm ghi nhận doanh thu bán hàng cụ thể như sau:

- Với phương thức bán buôn qua kho, bán bn vận chuyển thẳng theo hình

thức giao hàng trực tiếp: Thời điểm ghi nhận Doanh thu là thời điểm đại diện bên

mua ký nhận đủ hàng, thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận nợ.



20



- Với phương thức bán buôn qua kho, bán bn vận chuyển thẳng theo hình

thức gửi hàng: Thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm thu được tiền của bên

mua hoặc bên mua xác nhận đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán.

- Với phương thức bán lẻ hàng hóa: Thời điểm ghi nhận Doanh thu là thời

điểm nhận được báo cáo bán hàng của nhân viên bán hàng.

- Với phương thức bán hàng đại lý: Thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm

bên nhận đại lý thanh toán tiền hàng, chấp nhận thanh tốn hoặc thơng báo hàng đã

bán được.



21



Xác định doanh thu

Doanh thu được xác định như sau:

- Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu

được.

- Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa DN với

bên mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các

khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ các khoản chiết khấu thương mại,

chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại.

- Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì

doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu

được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãi

suất hiện hành. Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơn giá

trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai.

- Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ tương

tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó khơng được coi là một giao dịch tạo ra

doanh thu.

- Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ khác

khơng tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu.

Trường hợp này, doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc

dịch vụ nhận về, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm

hoặc thu thêm. Khi không xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ

nhận về thì doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ

đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm

hoặc thu thêm.

Doanh thu được ghi nhận theo giá bán hàng hóa. Giá bán hàng hóa của doanh

nghiệp được xác định trên nguyên tắc phải đảm bảo bù đắp được giá vốn, chi phí bỏ

đã bỏ ra đồng thời đảm bảo cho doanh nghiệp có được khoản lợi nhuận định

mức.Trên nguyên tắc đó, giá bán được xác định như sau.

Giá bán hàng hóa = Giá mua thực tế + Thặng số thương mại.

Hoặc: Giá bán hàng hóa = Giá mua thực tế * ( 1 + % Thặng số thương mại)



22



1.2.2 Kế toán bán hàng theo quy định của Chế độ kế tốn doanh nghiệp

Việt Nam hiện hành (Thơng tư 200/2014/TT-BTC của Bộ Tài Chính)

1.2.2.1 Chứng từ sử dụng.

- Hóa đơn GTGT: khi bán hàng thì kế tốn lập hóa đơn giá trị gia tăng căn cứ

vào hợp đồng kinh tế và phiếu xuất kho. Trên hóa đơn GTGT ghi: tên hàng hóa, đơn

vị tính, số lượng, đơn giá, thành tiền.

- Hóa đơn mua hàng: khi có u cầu của phòng kinh doanh và được sự chấp

nhận của giám đốc, kế toán gửi các đơn đặt hàng cho các nhà cung cấp.

- Phiếu nhập kho: khi hàng hóa được nhập về, kế toán lập phiếu nhập kho.

- Phiếu xuất kho

- Biên bản kiểm kê hàng hóa: cuối kỳ kế tốn tiến hành kiểm kê hàng hóa

theo đúng quy định.

- Ngồi ra còn một số chứng từ khác như: hóa đơn cước phí vận chuyển, hóa

đơn thuê kho bãi, thuê bốc dỡ hàng hóa, giấy nộp tiền của nhân viên bán hàng.

1.2.2.2 Tài khoản kế toán.

a. Tài khoản 511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

Bên Nợ:

- Các khoản thuế gián thu phải nộp (GTGT, TTĐB, XK, BVMT);

- Doanh thu hàng bán bị trả lại kết chuyển cuối kỳ;

- Khoản giảm giá hàng bán kết chuyển cuối kỳ;

- Khoản chiết khấu thương mại kết chuyển cuối kỳ;

- Kết chuyển doanh thu thuần vào tài khoản 911 "Xác định kết quả kinh

doanh".

Bên Có: Doanh thu bán sản phẩm, hàng hố, bất động sản đầu tư và cung cấp

dịch vụ của doanh nghiệp thực hiện trong kỳ kế tốn.

Tài khoản 511 khơng có số dư cuối kỳ.

Tài khoản 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, có 6 tài khoản cấp 2:

b. Tài khoản 632: Giá vốn hàng bán.

Đối với doanh nghiệp kinh doanh thương mại



23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Kế toán bán hàng trong các doanh nghiệp thương mại theo chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x