Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nhìn chung cả Samuelson và Begg đều có chung một thống nhất cơ bản về vốn là các

yếu tố đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh.

Hiện nay, khái niệm vốn kinh doanh được sử dụng phổ biến đó là: “Vốn kinh

doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào

hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”. (Giáo trình Tài chính Doanh

nghiệp- PGS.TS Nguyễn Đình Kiệm và TS.Bạch Đức Hiền- NXB Tài Chính). Đó là

nguồn nguyên vật liệu, tài sản cố định sản xuất, nhân lực, thơng tin, uy tín của doanh

nghiệp, được sử dụng cho mục đích đê sinh lợi cho doanh nghiệp.

Như vậy, vốn là yếu tố số một của mọi hoạt động sản suất kinh doanh, nó đòi hỏi

các doanh nghiệp phải quản lý và sử dụng có hiệu quả để bảo toàn và phát triển vốn,

đảm bảo cho doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh. Các doanh nghiệp hiểu rõ được tầm

quan trọng và giá trị của đồng vốn thì doanh nghiệp mới có thể sử dụng nó một cách

có hiệu quả được.

1.1.1.2. Phân loại vốn kinh doanh

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải tiêu hao các loại vật tư,

ngun vật liệu, hao mòn máy móc thiết bị, trả lương nhân viên... Đó là chi phí mà

doanh nghiệp bỏ ra để đạt được mục tiêu kinh doanh. Nhưng vấn đề đặt ra là chi phí

này phát sinh có tính chất thường xuyên, liên tục gắn liền với quá trình sản xuất sản

phẩm của doanh nghiệp. Để quản lý và kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các định mức

chi phí, tiết kiệm chi phí ở từng khâu sản xuất và toàn doanh nghiệp cần phải tiến hành

phân loại vốn, phân loại vốn có tác dụng kiểm tra, phân tích q trình phát sinh những

loại chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh. Có nhiều

cách phân loại vốn, tuỳ thuộc vào mỗi góc độ khác nhau ta có các cách phân loại vốn

khác nhau.

a) Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn

Phân loại vốn dựa trên giác độ chu chuyển của vốn thì vốn của doanh nghiệp bao

gồm hai loại là vốn lưu động và vốn cố định.

Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định (TSCĐ). TSCĐ dùng trong

kinh doanh tham gia hồn tồn vào q trình kinh doanh nhưng về mặt giá trị thì chỉ

có thể thu hồi dần sau nhiều chu kỳ kinh doanh. Tài sản cố định đóng vai trò rất quan

trọng trong q trình sản xuất. Nó là cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp, nó phản



7



ánh năng lực sản xuất và trình độ tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Đưa máy móc thiết bị

sẽ tạo khả năng tăng sản lượng, từ đó làm tăng lợi nhuận.

Quy mơ của vốn cố định quyết định quy mô của tài sản cố định nhưng các đặc

điểm của tài sản cố định lại ảnh hưởng đến sự vận động và công tác quản lý cố định.

Muốn quản lý vốn cố định một cách hiệu quả thì phải quản lý sử dụng tài sản cố định

một cách hữu hiệu.

Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động. Tài sản lưu động là

những tài sản ngắn hạn, thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh. Tài sản

lưu động tồn tại dưới dạng dự trữ sản xuất (nguyên vật liệu, bán thành phẩm, công cụ,

dụng cụ... ) sản phẩm đang trong quá trình sản xuất (sản phẩm dở dang), thành phẩm,

chi phí tiêu thụ, tiền mặt... trong giai đoạn lưu thơng. Trong bảng cân đối tài sản của

doanh nghiệp thì tài sản lưu động chủ yếu được thể hiện ở các bộ phận là tiền mặt, các

chứng khốn có thanh khoản cao, các khoản phải thu và dự trữ tồn kho.

Vốn lưu động tham gia hồn tồn vào q trình kinh doanh và giá trị có thể trở lại

hình thái ban đầu sau mỗi vòng chu chuyển của hàng hố. Nó là bộ phận của vốn sản

xuất, bao gồm giá trị nguyên liệu, vật liệu phụ, tiền lương... Những giá trị này được hoàn

lại hoàn toàn cho chủ doanh nghiệp sau khi đã bán hàng hoá. Vốn lưu động ứng với loại

hình doanh nghiệp khác nhau thì khác nhau. Đối với doanh nghiệp thương mại thì vốn lưu

động bao gồm vốn lưu động định mức và vốn lưu động không định mức.

Trong hai loại vốn này, vốn cố định có đặc điểm chu chuyển chậm hơn vốn lưu

động. Trong khi vốn cố định chu chuyển được một vòng thì vốn lưu động đã chu

chuyển được nhiều vòng. Việc phân chia theo cách thức này giúp cho các doanh

nghiệp thấy được tỷ trọng, cơ cấu từng loại vốn. Từ đó, doanh nghiệp chọn cho mình

một cơ cấu vốn phù hợp.

b) Căn cứ theo nguồn hình thành vốn

Theo cách phân loại này, vốn của doanh nghiệp bao gồm nợ phải trả và vốn chủ

sở hữu.

Nợ phải trả là khoản nợ phát sinh trong q trình kinh doanh mà doanh nghiệp

có trách nhiệm phải trả cho các tác nhân kinh tế như nợ vay ngân hàng, nợ vay của các

chủ thể kinh tế. nợ vay của cá nhân, phải trả cho người bán, phải nộp ngân sách ...



8



Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và các thành

viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong cơng ty cổ phần. Có ba nguồn cơ

bản tạo nên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, đó là:

Vốn kinh doanh: Gồm vốn góp (Nhà nước, các bên tham gia liên doanh, cổ đông,

các chủ doanh nghiệp) và phần lãi chưa phân phối của kết quả sản xuất kinh doanh.

Chênh lệch đánh giá lại tài sản (chủ yếu là tài sản cố định): Khi nhà nước cho

phép hoặc các thành viên quyết định.

Các quỹ của doanh nghiệp: Hình thành từ kết quả sản xuất kinh doanh như quỹ

phát triển, quỹ dự trữ, quỹ khen thưởng phúc lợi.

Ngoài ra, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao gồm vốn đầu tư XDCB và kinh phí

sự nghiệp (khoản kinh phí do ngân sách nhà nước cấp, phát khơng hồn lại sao cho doanh

nghiệp chi tiêu cho mục đích kinh tế lâu dài, cơ bản, mục đích chính trị, xã hội...).

c) Căn cứ theo tình hình huy động vốn

Nguồn vốn thường xuyên là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho

tồn bộ tài sản cố định của mình. Nguồn vốn này bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ dài

hạn của doanh nghiệp. Trong đó nợ dài hạn là các khoản nợ dài hơn một năm hoặc

phải trả sau một kỳ kinh doanh, không phân biệt đối tượng cho vay và mục đích vay.

Nguồn vốn tạm thời là nguồn vốn dùng để tài trợ cho tài sản lưu động tạm thời

của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm: vay ngân hàng, tạm ứng, người mua vừa

trả tiền...

Như vậy, ta có:



= Nợ ngắn hạn + Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu

= Vốn tạm thời + Vốn thường xuyên

Việc phân loại theo cách này giúp doanh nghiệp thấy được yếu tố thời gian về

vốn mà mình nắm giữ, từ đó lựa chọn nguồn tài trợ cho tài sản của mình một cách

thích hợp, tránh tình trạng sử dụng nguồn vốn tạm thời để tài trợ cho tài sản cố định.

1.1.1.3. Vai trò của vốn kinh doanh

Vốn là tiền đề cho sự ra đời của DN, là cơ sở để DN mở rộng quy mô SXKD, tạo

công ăn việc làm cho người lao động, tiến hành đầu tư và đổi mới công nghệ, trang

9



thiết bị sản xuất kinh doanh. Do vậy có thể nói rằng nếu thiếu VKD thì các hoạt động

sản xuất kinh doanh của DN sẽ bị ngưng trệ, hoạt động kém hiệu quả.

Vai trò của vốn được thể hiện rõ nét qua các mặt sau:

+ Về mặt pháp lý: Một khi DN muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên là phải có

một số lượng vốn nhất định mà lượng vốn này phải tối thiểu bằng lượng vốn pháp

định, khi đó địa vị pháp lý của DN mới được xác lập. Doanh nghiệp hoạt động cần

trang bị các trang thiết bị kỹ thuật, dây chuyền sản xuất, lực lượng lao động,…Vốn

đóng vai trò quyết định đến mức độ và chất lượng của các tư liệu sản xuất và lực

lượng lao động. Đây là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành công đi lên

của doanh nghiệp.Trong q trình sản xuất kinh doanh, nếu lượng vốn khơng đạt điều

kiện mà pháp luật quy định thì HĐKD đó sẽ bị chấm dứt như: phá sản hoặc sát nhập

DN. Như vậy, có thể xem vốn là một trong những cơ sở quan trọng để đảm bảo sự tồn

tại tư cách pháp nhân trước pháp luật.

+ Về mặt kinh tế: VKD không những là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của

doanh nghiệp mà nó còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định quá trình

hoạt động và phát triển của DN. VKD đảm bảo khả năng mua sắm máy móc thiết bị,

dây truyền cơng nghệ phục vụ cho quá trình sản xuất đồng thời đảm bảo cho quá trình

sản xuất kinh doanh được diễn ra thường xuyên và liên tục. Do vậy nâng cao được khả

năng cạnh tranh trên thị trường đặc biệt trong giai đoạn cạnh tranh khốc liệt hiện nay.

Ngoài ra vốn còn là một trong những điều kiện để sử dụng các nguồn tiềm năng hiện

có và tương lai về sức lao động, nguồn hàng, mở rộng, phát triển trên thị trường, mở

rộng lưu thơng và tiêu thụ hàng hóa, đảm bảo cho các hoạt động được diễn ra theo kế

hoạch của DN. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn tham gia vào tất cả

các khâu từ sản xuất đến tiêu thụ, và cuối cùng nó trở về hình thái ban đầu là tiền tệ.

Như vậy, sự luân chuyển vốn giúp doanh nghiệp thực hiện được hoạt động tái sản xuất

và tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp.

Vốn kinh doanh là một trong số những tiêu thức để phân loại qui mô của doanh

nghiệp, xếp loại doanh nghiệp vào loại lớn, nhỏ hay trung bình và là một trong những

tiềm năng quan trọng để doanh nghiệp sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có và

tương lai về sức lao động, nguồn cung ứng hàng hoá, mở rộng và phát triển thị trường,

mở rộng lưu thông hàng hoá.



10



Trong cơ chế kinh doanh mới, trong điều kiện mở rộng quyền tự chủ, tự chịu

trách nhiệm trong sản suất kinh doanh. Vốn kinh doanh bao giờ cũng là cơ sở, là tiền

đề để doanh nghiệp tính tốn hoạch định các chiến lược và kế hoạch kinh doanh. Nó

cũng là chất keo để chắp nối, kết dính các q trình và quan hệ kinh tế và nó cũng là

dầu nhờn bơi trơn cho cỗ máy kinh tế vận động có hiệu quả.

1.1.1.4. Đặc điểm của vốn kinh doanh

Trong nền kinh tế hàng hóa, vốn kinh doanh được biểu hiện dưới hai hình thức:

hiện vật và giá trị, nó có những đặc điểm sau:

Vốn được biểu hiện bằng một lượng giá trị thực sự những tài sản của DN được

sử dụng để sản xuất ra một lượng gía trị sản phẩm khác. Chỉ có những tài sản có giá trị

và được sử dụng cho mục đích kinh doanh nhằm tạo ra giá trị sản phẩm mới được gọi

là vốn. Những tài sản được sử dụng cho mục đích tiêu dùng khơng tạo ra giá trị sản

phẩm mới thì khơng được gọi là vốn.

Vốn tiềm năng là những tài sản chưa được sử dụng cho mục đích kinh doanh.

Đặc điểm này cho biết một trong những biện pháp huy động vốn cho phát triển hoạt

động kinh doanh của DN là khai thác tiềm năng của những tài sản xã hội còn đang bị

cất giữ chưa được sử dụng.

Vốn kinh doanh của doanh nghiêp phải luôn vận động để sinh lời và đạt được

mục tiêu kinh doanh.

Vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy

tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh.

Vốn có gía trị về mặt thời gian, điều này rất có ý nghĩa khi bỏ vốn vào đầu tư và

tính hiệu quả mà vốn mang lại. Vì vậy, càn phải xem xét đến ảnh hưởng của thời gian

khi phân tích vốn.

Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định và phải được quản lý chặt chẽ thì

việc sử dụng vốn mới tiết kiệm và hiệu quả.

Vốn phải được quan niệm như một thứ hàng hóa và là hàng hóa đặc biệt có thể

mua bán quyền sử dụng vốn trên thị trường tạo nên sự giao lưu sôi động trên thị

trường vốn- thị trường tài chính.

Vốn được biểu hiện bằng tiền và được đưa vào quá trình kinh doanh với mục tiêu

sinh lời. Trong quá trình vận động, vốn tiền tệ ra đi rồi mới trở về điểm xuất phát của

nó nhưng nó lớn lên sau một chu kỳ vận động nếu DN kinh doanh có hiệu quả.

11



1.1.2. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

1.1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

a. Hiệu quả kinh doanh

Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế khách quan phản ánh các lợi

ích kinh tế - xã hội đạt được từ quá trình hoạt động kinh doanh. Hiệu quả vốn kinh

doanh bao gồm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội trong đó hiệu quả kinh tế có vai

trò, ý nghĩa quyết định.

Bản chất của hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh danh là phản ánh

mặt chất lượng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các

nguồn lực để đạt được mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận. Nhìn một cách tổng diện trên

cả hai mặt định tính và định lượng của phạm trù hiệu quả kinh tế, ta thấy chúng có mối

quan hệ chặt chẽ với nhau khơng thể tách rời riêng lẻ.

Hiệu quả càng lớn chênh lệch này càng cao. Mối tương quan đó thường được

biểu hiện bằng cơng thức:



Trong đó:

Kết quả đầu ra được đo bằng các chỉ tiêu khối lượng sản phẩm, dịch vụ

(doanh thu), tổng lợi nhuận và lợi nhuận thuần, lợi nhuận gộp… Còn yếu tố đầu vào

gồm tổng vốn bình quân, vốn lưu động bình quân, vốn cố định bình quân,…Thống kê

cần xác định chính xác những chỉ tiêu nào thuộc yếu tố đầu vào và chỉ tiêu nào thuộc

yếu tố đầu ra, tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu thống kê lựa chọn yếu tố đầu vào và

kết quả đầu ra để so sánh cho phù hợp.

Về mặt định tính, hiệu quả kinh tế cao biểu hiện sự cố gắng nỗ lực, trình độ quản

lý của mỗi khâu, mỗi cấp trong hệ thống cơng nghiệp, sự gắn bó của việc giải quyết

những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị-xã hội.

b. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là những chỉ tiêu kinh tế phản ánh mối quan hệ

so sánh giữa kết quả hoạt động kinh doanh với các chỉ tiêu vốn kinh doanh mà doanh

nghiệp sử dụng trong kỳ.

Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp được thể hiện thông qua

việc đánh giá những tiêu thức cụ thể:

12



+ Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh phải đảm bảo cho việc thúc đẩy quá trình

bán ra, tăng tốc độ lưu chuyển, tăng doanh thu bán hàng.

+ Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh phải góp phần vào việc thực hiện tốt các chỉ

tiêu kế hoạch lợi nhuận kinh doanh. Để đạt được mục tiêu lợi nhuận, đòi hỏi doanh

nghiệp phải tiết kiệm, giảm chi phí kinh doanh trong đó có chi phí vốn kinh doanh.

1.1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

1.1.2.2.1. Các nhân tố chủ quan

 Trình độ quản lý tổ chức sản xuất

+ Trình độ quản lý và sử dụng các nguồn vốn: Đây là nhân tố ảnh hưởng trực

tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Công cụ chủ yếu để quản lý các

nguồn tài chính là hệ thống kế tốn tài chính. Nếu cơng tác kế tốn được thực hiện

khơng tốt sẽ dẫn đến mất mát, chiếm dụng, sử dụng khơng đúng mục đích…gây lãng

phí tài sản đồng thời có thể gấy ra các tệ nạn tham ô, hối lộ, tiêu cực…là các căn bệnh

xã hội thường gặp trong cơ chế hiện nay.

+ Trình độ tổ chức quản lý của lãnh đạo: vai trò của người lãnh đạo trong sản

xuất kinh doanh rất quan trọng, thể hiện ở sự kết hợp một cách tối ưu và hài hòa giữa

các yếu tố của q trình sản xuất kinh doanh nhằm giảm những chi phí khơng cần

thiết, đồng thời nắm bắt các cơ hội kinh doanh đem lại cho doanh nghiệp sự tăng

trưởng và phát triển.

+ Trình độ tay nghề của người lao động: thể hiện ở khả năng tự tìm tòi sáng tạo

trong cơng việc, tăng năng suất lao động…Đây là yếu đối tượng trực tiếp sử dụng vốn

của doanh nghiệp quyết định phần lớn hiệu quả trong sử dụng vốn.

+ Trình độ tổ chức hoạt động kinh doanh: đây cũng là một yếu tố có ảnh hưởng

trực tiếp. Chỉ trên cơ sở tổ chức hoạt động kinh doanh có hiệu quả mới đem lại nhưng

kếu quả đáng khích lệ.

 Cơ cấu vốn đầu tư

Cơ cấu vốn là phạm trù biểu hiện cách thức kết hợp các nguồn vốn của doanh

nghiệp. Cơ cấu vốn bao hàm tỉ lệ giữa vốn cố định và vốn lưu động,…Cơ cấu vốn ảnh

hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp vì nó liên quan đến việc tính

chi phí khấu hao đối với vốn cố định và tốc độ luân chuyển của vốn lưu động. Việc xác

định một cơ cấu vốn hợp lý trong từng giai đoạn phát triển giúp doanh nghiệp tối đa

hóa lợi nhuận. Một cơ cấu vốn hợp lý giúp doanh nghiệp tránh được tình trạng thừa,

thiếu vốn và sẽ thúc đẩy vốn vận động nhanh hơn.

13



Việc phân bố tỷ trọng vốn không hợp lý sẽ dẫn đến tình trạng vốn bị ứ đọng, vốn

khơng được sử dụng đúng mục đích, khơng phát huy được vai trò của vốn sẽ gây ra

tình trạng lãng phí vốn, giảm vòng quay vủa vốn, hiệu quả sử dụng vốn của doanh

nghiệp rất thấp.

 Tiến bộ khoa học – kỹ thuật

Trong điều kiện hiện nay, khoa học phát triển với tốc độ chóng mặt, thị trường

cơng nghệ biến động khơng ngừng và chênh lệch về trình độ cơng nghệ giữa các nước

là rất lớn, làn sóng chuyển giao cơng nghệ ngày càng gia tang, một mặt nó tạo điều

kiện cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ sản xuất, mặt khác, nó đặt doanh nghiệp

vào mơi trường cạnh tranh gay gắt. Do vậy, để sử dụng vốn có hiệu quả, doanh nghiệp

phải xem xét đầu tư vào công nghệ nào và phải tính đến hao mòn vơ hình do sự phát

triển không ngừng của tiến bộ khoa học – kỹ thuật.

1.1.2.2.2. Các nhân tố khách quan

 Môi trường pháp lý

Là hệ thống các chủ trương chính sách, hệ thống pháp luật tác động đến hoạt

động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, mọi doanh nghiệp được tự do lựa

chọn ngành nghề kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật và khả năng của mình.

Nhà nước tạo hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển

sản xuất kinh doanh theo những ngành nghề mà doanh nghiệp đã lựa chọn và hướng

các hoạt động đó theo chính sách quản lý kinh tế vĩ mơ. Vì vậy, chỉ một thay đổi nhỏ

trong cơ chế quản lý và chính sách của nhà nước cũng ảnh hưởng đến hoạt động của

doanh nghiệp như: việc quy định trích khấu hao, tỷ lệ trích lập các quỹ, các văn bản

chính sách về thuế xuất nhập khẩu... Nói chung, sự thay đổi cơ chế và chính sách của

nhà nước sẽ gây rất nhiều khó khăn cho việc sử dụng vốn có hiệu quả trong doanh

nghiệp. Song nếu doanh nghiệp nhanh chóng nắm bắt được những thay đổi và thích

nghi thì sẽ đứng vững trên thị trường và có điều kiện để phát triển và mở rộng kinh

doanh, phát huy khả năng sáng tạo trong quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh

doanh.

Nhà nước, bằng luật pháp và hệ thống các chính sách kinh tế, thực hiện chức

năng quản lý và điều tiết các nguồn lực trong nền kinh tế. Thông qua các chính sách

như khuyến khích đầu tư và những ưu đãi về thuế, vốn đã thực sự đem lại cho doanh

14



nghiệp một môi trường kinh doanh ổn định và sôi động. Vì vậy, đứng trước quyết định

về đầu tư tài chính doanh nghiệp ln phải tn thủ các chính sách của nhà nước.

 Môi trường kinh tế

Một doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường luôn gắn liền hoạt động sản xuất

kinh doanh của mình với sự vận động của nền kinh tế. khi nền kinh tế có sự biến động

thì hoạt động của doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng. Do vậy mọi nhân tố có tác động

đến việc tổ chức và huy động vốn từ bên ngoài đều ảnh hường đến hiệu quả sử dụng

vốn của doanh nghiệp. Những tác động đó có thể xảy ra khi nền kinh tế có lạm phát,

sức ép của mơi trường cạnh tranh gay gắt, những rủi ro mang tính hệ thống mà doanh

nghiệp không tránh khỏi. Các nhân tố này ở một mức độ nào đó tác động trực tiếp

hoặc gián tiếp lên hoạt động sản xuất kinh doanh, đến công tác quản lý và hiệu quả sử

dụng vốn tại doanh nghiệp.

 Thị trường

Ở đây nhân tố thị trường được xem xét trên các khía cạnh như giá cả, cung cầu

và cạnh tranh.

+ Đối thủ cạnh tranh: cơ chế thị trường là cơ chế của cạnh tranh gay gắt. Bất cứ

doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển cũng đều phải đứng vững và tạo ưu thế

cạnh tranh với các đối thủ khác trên thị trường. Khi xem xét thị trường, không thể bỏ

qua cac yếu tố cạnh tranh, doanh nghiệp nào tạo được ưu thế sẽ chiếm lĩnh thị trường

đồng nghĩa với việc kinh doanh có lãi và sử dụng vốn hiệu quả.

+ Khách hàng: khách hàng quyết định đến việc doanh nghiệp sẽ bán hàng hóa và

dịch vụ của mình như thế nào? Bán ở đâu? Và bán bao nhiêu? Khi nào doanh nghiệp

nên bán hàng hóa và dịch vụ? Tùy theo sự phân bố của tập khách hàng( tập trung hay

phân tán) mà việc chọn địa điểm tiêu thụ sao cho hợp lý. Tùy theo phân loại mà mỗi

tập khách hàng có những đặc điểm tâm lý về nhu cầu, về số lượng, thị hiếu riêng. Để

thu được lợi nhuận tối đa thì tùy vào từng ngành hàng, mặt hàng và nhu cầu của khách

hàng mà doanh nghiệp phải biết chiều lòng khách hàng, tạo ra sự thuận lợi nhất để

khách hàng đến với doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải luôn coi trọng những lựa chọn

của khách hàng. Đồng thời doanh nghiệp luôn đổi mới các phương thức bán hàng và

phục vụ phù hợp với tập tính của khách hàng ở mỗi vùng, mỗi quốc gia.

+ Giá cả: đây là nhân tố doanh nghiệp quyết định nhưng lại phụ thuộc vào mức

giá chung trên thị trường. Doanh nghiệp định giá thì phải căn cứ vào giá thành và mức

15



giá chung. Sự biến động của giá trên thị trường có thể tác động rất lớn đến tình hình

hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

+ Nhà cung cấp: nhà cung cấp cung ứng các loại yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp

để có thể đảm bảo được các hoạt động của mình sẽ được diễn ra theo đúng kế hoạch,

đảm bảo về chất lượng, số lượng hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trường. Vì vậy,

doanh nghiệp phụ thuộc khá nhiều vào nhà cung cấp. Những ưu thế và đặc quyền của

các nhà cung cấp cho phép họ có nhưng ảnh hưởng nhất định đối với doanh nghiệp và

những áp lực đối với doanh nghiệp. Họ có nhiều cách để tác động vào khả năng thu lợi

nhuận của doanh nghiệp, như có thể nâng giá, giảm chất lượng sản phẩm mà họ cung

ứng hoặc không đảm bảo đúng tiến độ cung cấp theo yêu cầu của doanh nghiệp.

1.1.2.3. Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

Hoạt động của doanh nghiệp là hoạt động kinh tế nhằm mang lại lợi nhuận thông

qua sản xuất kinh doanh, thành bại của một doanh nghiệp phu thuộc vào nhiều yếu tố

trong đó quan trọng nhất là ba yếu tố khả năng cung ứng tích luỹ, đổi mới sử dụng vốn

, trình độ quản lý và thị trường. Kinh doanh hiện đại ngày nay là sự tập hợp cả ba thế

lực: Nhà kinh doanh, bạn hàng- khách hàng và các nhà khoa học gồm cả nhà làm luật

về kinh doanh. Một giáo sư trường Đại Học Harvard cho rằng doanh nghiệp vừa là

người bán vừa là người mua. Khi mua họ bị giới hạn bởi nguồn lực tài chính. Ngồn lực

tài chính bao giờ cũng có giới hạn, do vậy vấn đề cốt tử là làm sao sử dụng nguồn lực

hiệu quả chứ khơng phải đòi thêm nguồn lực. Khi bán ra họ bị giới hạn bởi nhu cầu

sức mua, thị hiếu...Do vậy hàng họ khơng bán được, khó bán, khó có khả năng tái tạo

nguồn lực tài chính ban đầu. Do vậy hoạt động của doanh nghiệp là hoạt động tạo ra

và tái tạo lại nguồn lực tài chính là hoạt động quan trọng nhất, đó là ngun tắc.

Hiệu quả sử dụng vốn là một trong những nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến

lợi nhuận,đến quyền lợi đến mục đích cao nhất của doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả

sử dụng vốn cũng có nghĩa là nâng cao lợi nhuận, chẳng có một lý do nào để doanh

nghiệp có thể từ chối việc làm đó. Như vậy ta có thể nhận thấy nâng cao hiệu quả sử

dụng vốn là một việc làm thiết yếu của bất kỳ một DN nào, người ta không thể từ chối

thu một khoản lợi nhuận hay doanh thu nhiều hơn trên một đồng vốn bỏ ra mà ngược

lại họ muốn thu ngày càng nhiều từ việc bỏ ra một cùng một lượng vốn ban đầu của

mình hay với cùng một lượng tiền thu về từ hoạt động sản xuất kinh doanh như năm

trước nhưng năm nay DN phải bỏ ra cho nó một lượng chi phí ít hơn. Có thể tổng qt

16



một số lý do cơ bản, cụ thể làm nên sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

của các DN như sau:

Thứ nhất, do sự tác động của cơ chế mới, cơ chế thị trường có sự điều tiết của

nhà nước. Kinh tế thị trường theo đuổi một mục đích lớn và cốt yếu là lợi nhuận và lợi

nhuận ngày càng cao. Tiền đề của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong các

DN là vốn, đồng vốn sản xuất kinh doanh phải có khả năng sinh lời mới là vấn đề cốt

lõi liên quan trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của DN bởi thiếu vốn thì mọi hoạt

động sản xuất kinh doanh của DN sẽ bị “chết”, bị ngưng trệ bởi bây giờ khơng còn có

sự cứu trợ của Ngân sách Nhà nước

Thứ hai, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với

quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Giờ đây người định đoạt số phận của

DN chính là thị trường khơng phải ai khác, song nhà nước cũng có vai trò nhất định.

Nếu sử dụng vốn hiệu quả thì đáp ứng nhu cầu thị trường là điều khơng khó khăn đối

với DN nữa.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là nội dung cạnh tranh giữa các DN,

trong giai đoạn cạnh tranh gay gắt hiện nay điều này càng được khẳng định chắc chắn

hơn. DN muốn tồn tại và phát triển được thì điều kiện tiên quyết là DN phải quan tâm

đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, vấn đề này quyết định lớn đến khả năng cạnh tranh

của DN.

Thứ tư, tình hình chung các DN ở nước ta thì hiệu qủa sử dụng vốn sản xuất kinh

doanh còn chưa cao thậm chí ngày càng giảm . Do đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

sản xuất kinh doanh là một yêu cầu chung đối với các DN không riêng trong giai đoạn

hiện nay.

Thứ năm: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ đảm bảo an tồn tài chính cho

doanh nghiệp. Việc sử dụng vốn có hiệu quả sẽ giúp DN nâng cao khả năng huy động

các nguồn vốn tài trợ dễ dàng hơn, khả năng thanh toán của DN được đảm bảo, DN có

đủ tiềm lực để khắc phục những khó khăn và một số rủi ro trong kinh doanh.

Thứ sáu, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp DN đạt được mục tiêu tăng giá

trị tài sản của chủ sở hữu và các mục tiêu khác của DN như nâng cao mức sống của

người lao động …Vì khi hoạt động kinh doanh mang lại LN thì DN có thể mở rộng

quy mô, tạo thêm việc làm và nâng cao mức sống cho người lao giúp cho năng suất lao



17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×