Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN NHÓM HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN NHÓM HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.1.2. Đặc điểm nghiệp vụ bán hàng



 Các phương thức bán hàng

* Bán bn

Bán bn hàng hóa là phương thức bán hàng cho các doanh nghiệp thương mại,

các doanh nghiệp sản xuất … để thực hiện bán ra hoặc để gia công chế biến rồi bán ra.

Trong bán buôn hàng hóa, thường bao gồm hai phương thức sau đây:

- Bán bn hàng hóa qua kho:

Bán bn hàng hóa qua kho là phương thức bán bn hàng hóa mà trong đó hàng

bán phải được xuất ra từ kho bảo quản của doanh nghiệp. Trong phương thức này có

hai hình thức:

+ Bán bn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp tại kho: Theo phướng

thức này, khách hàng cử cán bộ nghiệp vụ mang giấy ủy nhiệm đến kho của doanh

nghiệp để trực tiếp nhận hàng. Sau khi đại diện bên mua nhận đủ hàng, thanh toán tiền

hoặc chứng từ nhận nợ, hàng hóa được xác định là tiêu thụ.

+ Bán bn qua kho theo hình thức gửi hàng: Bên bán căn cứ vào hợp đồng kinh

tế đã ký kết, hoặc theo đơn đặt hàng của người mua, xuất kho gửi hàng cho người

mua. Chi phí vận chuyển hàng gửi có thể do bên bán hoặc bên mua chịu tùy theo hợp

đồng kinh tế đã ký kết. Hàng gửi bán vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, khi

nào bên mua nhận được hàng, ký xác nhận vào chứng từ, thanh tốn tiền hoặc chấp

nhận thanh tốn khi đó quyền sở hữu hoặc quyền kiểm sốt hàng hóa mới được chuyển

giao sang cho người mua.

- Bán bn hàng hóa vận chuyển thẳng

Bán bn hàng hóa vận chuyển thẳng là phương thức bán bn hàng hóa mà

trong đó hàng hóa bán ra khi mua về từ nhà cung cấp không qua kho của doanh nghiệp

mà giao bán ngay hoặc chuyển bán ngay cho khách hàng. Phương thức này có thể thực

hiện theo các hình thức sau:

+ Bán bn vận chuyển thẳng theo hình thức giao hàng trực tiếp (Hình thức giao

tay ba): Sau khi nhận hàng từ nhà cung cấp, doanh nghiệp thương mại sẽ bán bn

trực tiếp hàng hóa đó cho khách hàng của doanh nghiệp tại địa điểm do hai bên thỏa

thuận.



+ Bán bn vận chuyển thẳng theo hình thức gửi hàng: Sau khi mua hàng, doanh

nghiệp thương mại vận chuyển thẳng hàng mua đến giao cho bên mua ở địa điểm đã

được thỏa thuận. Hàng hóa chuyển bán trong trường hợp này vẫn thuộc quyền sở hữu

của doanh nghiệp thương mại. Khi nhận được tiền hoặc giấy báo của bên mua đã nhận

được hàng và chấp nhận thanh toán thì hàng hóa được xác định là tiêu thụ.

* Bán lẻ hàng hóa

Bán lẻ được hiểu là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng, các đơn

vị kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính chất tiêu dùng nội bộ. Đặc

điểm là hàng hố đã ra khỏi lĩnh vực lưu thơng và đi vào lĩnh vực tiêu dùng, giá trị và

giá trị sử dụng của hàng hoá đã được thưc hiện. Bán lẻ có thể thực hiện dưới các hình

thức sau:

- Bán lẻ thu tiền tập trung: Theo hình thức này, quá trình bán hàng được tách

thành hai giai đoạn: Giai đoạn thu tiền và giai đoạn giao hàng.

- Bán lẻ thu tiền trực tiếp: Theo hình thức này, việc thu tiền và giao hàng cho

bên mua không tách rời nhau. Nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền và giao hàng cho

khách hàng. Hết ngày hoặc ca bán, nhân viên bán hàng có nhiệm vụ nộp tiền cho thủ

quỹ và lập báo cáo bán hàng sau khi đã kiểm kê hàng tồn trên quầy.

Ngoài ra, căn cứ vào cách thức tổ chức bán lẻ, phương thức bán lẻ bao gồm

các hình thức: Bán lẻ mang tính cố định, bán hàng lưu động, bán hàng online, bán

hàng thông qua quảng cáo tuyên truyền, bán hàng đa cấp…

* Bán hàng đại lý

Là phương thức bán hàng mà trong đó, doanh nghiệp thương mại (bên giao đại

lý) giao hàng cho một doanh nghiệp thương mại khác (bên nhận bán đại lý) để các cơ

sở này trực tiếp bán hàng.

* Bán hàng trả góp, trả chậm

Là phương thức bán hàng mà doanh nghiệp thương mại dành cho người mua ưu

đãi được trả tiền hàng trong nhiều kỳ. Doanh nghiệp thương mại được hưởng thêm

khoản chênh lệch giữa giá bán trả góp và giá bán thơng thường theo phương thức trả

tiền ngay gọi là lãi trả góp. Khi doanh nghiệp thương mại giao hàng cho người mua,

hàng hóa được xác định là tiêu thụ. Tuy nhiên, khoản lãi trả góp chưa được ghi nhận



tồn bộ mà chỉ được phân bổ dần vào doanh thu hoạt động tài chính vào nhiều kỳ sau

giao dịch bán.



 Các phương thức thanh toán

Sau khi giao hàng cho bên mua và nhận được chấp nhận thanh tốn bên bán có

thể nhận tiền hàng theo nhiều phương thức khác nhau tuỳ vào sự thoả thuận giữa 2 bên

mà lựa chọn các phương thức thanh tốn cho phù hợp. Có 3 phương thức thanh toán:

- Phương thức thanh toán ngay

- Phương thức thanh toán trả chậm

- Phương thức thanh toán trả trước

* Phương thức thanh toán ngay

Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển từ người

mua sang người bán ngay sau khi quyền sở hữu hoặc quyền kiểm sốt hàng hóa bị

chuyển giao. Theo phương thức này sự vận động của hàng hóa gắn liền với sự vận

động của tiền tệ.

* Phương thức thanh toán trả chậm

Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển giao sau

một thời gian so với thời điểm chuyển quyền sở hữu hoặc quyền kiểm sốt hàng hóa,

do đó hình thành khoản cơng nợ phải thu của khách hàng. Nợ phải thu cần được hạch

toán quản lý chi tiết cho từng đối tượng phải thu và được ghi chép theo từng lần thanh

tốn. Theo hình thức này sự vận động của hàng hóa và tiền tệ có khoảng cách về

khơng gian và thời gian.

* Phương thức thanh toán trả trước

Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển giao trước

thời điểm giao nhận hàng hóa. Mục đích của việc thanh toán trước là để chắc chắn việc

thực hiện hợp đồng mua hàng hóa của khách hàng. Như vậy, theo phương thức thanh

tốn này thì sự vận động của hàng hóa và sự vận động của tiền cũng có khoảng cảnh

về không gian và thời gian.

1.1.3. Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán nghiệp vụ bán hàng

1.1.3.1. Yêu cầu quản lý nghiệp vụ bán hàng

- Xác định đúng phạm vị hàng bán

Theo quy định hiện hành, được coi là hàng bán khi thỏa mãn các điều kiện sau:



+ Hàng hóa phải thơng qua q trình mua, bán và thanh toán theo một phương

thức thanh toán nhất định.

+ Hàng hóa phải được chuyển quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát từ doanh

nghiệp thương mại (bên bán) sang người mua và doanh nghiệp thương mại đã thu

được tiền hoặc một loại hàng hóa khác hoặc được người mua chấp nhận nợ.

+ Hàng hóa bán ra phải thuộc diện kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp

mua vào hoặc gia công chế biến rồi bán ra.

Ngoài ra một số trường hợp cũng được coi là hàng bán như:

+ Hàng hóa xuất bán cho các đơn vị nội bộ doanh nghiệp có tổ chức kế tốn

riêng.

+ Hàng hóa dùng để trao đổi lấy hàng hóa khác khơng tương tự về bản chất và

giá trị.

+ Doanh nghiệp xuất hàng hóa của mình để tiêu dùng nội bộ.

+ Hàng hóa xuất để biếu tặng, trả lương thưởng cho cán bộ công nhân viên, chia

lãi cho các bên góp vốn hoặc đối tác liên doanh.

- Quản lý doanh thu bán hàng

Quản lý về doanh thu bán hàng hóa là cơ sở quan trọng để xác định nghĩa vụ của

doanh nghiệp đối với nhà nước, đồng thời là cơ sở để xác định chính xác kết quả kinh

doanh của doanh nghiệp thương mại.

Quản lý doanh thu bán hàng bao gồm:

+ Quản lý doanh thu thực tế: Doanh thu thực tế là doanh thu được tính theo giá

bán ghi trên hóa đơn hoặc trên hợp đồng bán hàng.

+ Quản lý các khoản giảm trừ doanh thu

Để đáp ứng yêu cầu quản lý doanh thu các doanh nghiệp cần phải tổ chức kế toán

chi tiết từng khoản doanh thu. Việc tổ chức kế toán chi tiết doanh thu cần được tiến

hành trên cơ sở sổ chi tiết, các tài khoản kế toán chi tiết.

Sổ chi tiết doanh thu được mở riêng cho từng loại hoạt động : từng loại sản

phẩm, hàng hóa, dịch vụ, từng nghiệp vụ đầu tư tài chính.

Tùy theo yêu cầu quản lý doanh thu của từng DN mà sổ chi tiết có thể mở theo

kết cấu khơng hồn tồn giống nhau.Tuy nhiên, các sổ chi tiết doanh thu phải đảm bảo

được các nội dung chứng từ sau: TK đối ứng, số lượng, đơn giá, thành tiền của sản

phẩm tiêu thụ, các khoản giảm trừ doanh thu.



- Quản lý giá vốn hàng bán

Quản lý giá vốn của hàng hóa đã tiêu thụ là cơ sở để xác định chính xác kết quả

bán hàng của doanh nghiệp.

Trong quá trình sản xuất kinh doanh muốn đem lại lợi nhuận tối đa cho DN, thì

phải quản lý chặt chẽ vốn kinh doanh, sử dụng sao cho có hiệu quả cao nhất nguồn

vốn của doanh nghiệp.Muốn vậy DN phải xác định được một cách chính xác nhất các

khoản chi phi ra.

Khi tính trị giá của hàng hóa xuất theo phương pháp kế toán cần căn cứ giá mua

thực tế là giá ghi trên hóa đơn của người bán, khơng kể chi phí thu mua. Do đó khi bán

được hàng hóa cần phân bổ chi phí thu mua cho hàng hóa bán ra.

Các DN có thể áp dụng một trong các phương pháp tính giá vốn hàng xuất kho

sau: phương pháp nhập trước xuất trước, phương pháp nhập sau xuất trước, phương

pháp thực tế đích danh, phương pháp bình qn gia quyền.

- Quản lý tình hình thu hồi tiền bán hàng, cơng nợ phải thu

Kế tốn phải theo dõi chặt chẽ thời hạn thanh toán tiền hàng để kịp thời thu hồi

tiền ngay khi đến hạn để tránh trường hợp bị chiếm dụng vốn kinh doanh.

1.1.3.2. Nhiệm vụ kế toán nghiệp vụ bán hàng

Bán hàng là khâu cuối cùng trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh

nghiệp, vì vậy để quản lý tốt nghiệp vụ này, kế toán nghiệp vụ bán hàng cần phải thực

hiện các nhiệm vụ sau đây:

- Ghi chép và phản ánh chính xác, kịp thời tình hình bán hàng của doanh nghiệp

cả về số lượng và giá trị theo từng mặt hàng, nhóm hàng.

- Phản ánh và giám đốc chính xác tình hình thu hồi tiền, tình hình cơng nợ và

thanh tốn cơng nợ phải thu của người mua.

- Tính tốn chính xác giá vốn của hàng hóa tiêu thụ, từ đó xác định chinh xác

kết quả bán hàng.

- Cung cấp những thông tin kinh tế cần thiết cho các bộ phận liên quan, trên cơ

sở đó có những kiến nghị nhằm hồn thiện hoạt động kinh doanh, giúp cho ban quản

trị nắm được tình hình tiêu thụ hàng hóa và có những chính sách điều chỉnh kịp thời.

Định kỳ, tiến hành phân tích kinh tế đối với hoạt động bán hàng, thu nhập và phân

phối kết quả của doanh nghiệp.



1.2. Nội dung kế toán bán hàng trong doanh nghiệp theo quy định chuẩn

mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành

1.2.1. Các nguyên tắc và chuẩn mực Kế toán Việt Nam chi phối kế toán bán

hàng trong các doanh nghiệp thương mại

1.2.1.1. Chuẩn mực kế toán số 01 “Chuẩn mực chung” (VAS01)

VAS 01 được ban hành theo QĐ 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm

2012 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính. Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng

dẫn các chuẩn mực, những nguyên tắc cơ bản. Trong đó nguyên tắc chi phối khi ghi

nhận doanh thu trong kế toán bán hàng là nguyên tắc cơ sở dồn tích, nguyên tắc phù

hợp và nguyên tắc thận trọng. Nguyên tắc liên quan đến giá vốn hàng tồn kho là

nguyên tắc giá gốc. Ngoài ra nguyên tắc nhất quán cũng chi phối đến hoạt động kế

tốn bán hàng.

- Ngun tắc cơ sở dồn tích đối với doanh thu

Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải

trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế tốn vào thời điểm

phát sinh, khơng căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương

đương tiền. Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ánh tình hình tài chính của

doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

Vì việc ghi nhận doanh thu và chi phí có ảnh hưởng quyết định đến báo cáo kết

quả kinh doanh của Doanh nghiệp trong một kỳ, cơ sở kế tốn dồn tích được xem là

một ngun tắc chính yếu đối với việc xác định lợi nhuận của Doanh nghiệp. Lợi

nhuận theo cơ sở dồn tích là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí; từ đó, BCTC

nói chung và BCKQKD nói riêng được lập trên cơ sở dồn tích phản ánh đầy đủ (hay

tuân thủ yêu cầu trung thực) các giao dịch kế toán trong kỳ và từ đó, cho phép tình

trạng tái sản, nguồn vốn của một Doanh nghiệp một cách đầy đủ, hợp lý. Hơn nữa, do

khơng có sự trùng hợp giữa lượng tiền thu vào và doanh thu trong kỳ và tồn tại chênh

lệch giữa chi phí ghi nhận và lượng tiền chi ra trong một kỳ, kế tốn theo cơ sở dồn

tích cho phép theo dõi các giao dịch kéo dài qua các kỳ khác nhau, như nợ phải thu, nợ

phải trả, khấu hao, dự phòng,...

Theo ngun tắc này, kế tốn bán hàng phải ghi nhận doanh thu ngay khi hàng

xác định bán, không căn cứ vào thời điểm thực tế doanh nghiệp thu được tiền hay các



khoản tương đương tiền của khách hàng.

- Nguyên tắc phù hợp đối với doanh thu

Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi nhận một

khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến tạo ra

doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi

phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó.

Như vậy, chi phí ghi nhận trong kỳ là tồn bộ các khoản chi phí liên quan đến

việc tạo ra doanh thu và thu nhập của kỳ đó, khơng phụ thuộc khoản chi phí đó được

chia ra trong thời kỳ nào.

Quy định hạch toán phù hợp giữa doanh thu và chi phí nhằm xác định và đánh

giá đúng kết quả hoạt động kinh doanh của từng thời kỳ kế toán, giúp cho các nhà

quản trị có những quyết định kinh doanh đúng đắn và hiệu quả.

Trong kỳ kế tốn khi có nghiệp vụ bán hàng tạo ra doanh thu, kế toán cần xác

định được những khoản chi phí đi kèm theo để tạo ra doanh thu đó, như giá vốn hàng

bán, chi phí vận chuyển, chi phí quảng cáo…

- Nguyên tắc thận trọng đối với doanh thu

Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế

tốn trong các điều kiện khơng chắc chắn. Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi:

a) Phải lập các khoản dự phòng nhưng khơng lập q lớn;

b) Khơng đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập;

c) Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí;

d) Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả

năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về

khả năng phát sinh chi phí.

Tn thủ theo nguyên tắc thận trọng sẽ giúp cho DN bảo toàn nguồn vốn, hạn

chế rủi ro và tăng khả năng hoạt động liên tục.

Khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, ln có những rủi ro tồn tại mà

doanh nghiệp không lường hết được, đặc biệt là trong lĩnh vực bán hàng, doanh nghiệp

cần lập dự phòng để khắc phục và hạn chế những tình huống khơng mong muốn xảy ra

như giảm giá hàng tồn kho do không hợp thị hiếu hoặc do hàng hóa của doanh nghiệp



xuống cấp, lỗi thời. Một số khoản phải thu khó đòi từ khách hàng chưa thu hồi được

cũng cần lập dự phòng.

- Nguyên tắc giá gốc đối với doanh thu

Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc của tài sản được tính theo số

tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài

sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận. Giá gốc của tài sản không được thay đổi

trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế tốn cụ thể.

Theo đó, sản phẩm, hàng hóa… được ghi nhận theo nguyên tắc giá gốc. Nếu

không thực hiện đúng nguyên tắc này sẽ dẫn tới trị giá hàng xuất kho bị sai từ đó ảnh

hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

- Nguyên tắc nhất quán đối với doanh thur

Các chính sách và phương pháp kế toán doanh nghiệp đã chọn phải được áp dụng

thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm. Trường hợp có thay đổi chính sách và

phương pháp kế tốn đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó

trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.

Như vậy, trong một kỳ kế tốn năm, đơn vị phải được thực hiện nhất quán đối

với các phương pháp kế tốn đã lựa chọn như: phương pháp tính giá xuất kho, hình

thức ghi sổ kế tốn.

1.2.1.2. Chuẩn mực kế toán số 02 “Hàng tồn kho” (VAS02)

Để xác định được trị giá hàng tồn kho và trị giá hàng bán chính xác thì các yếu tố

liên quan vào q trình hạch tốn hàng bán, hàng tồn kho phải chính xác, từ đó làm

căn cứ lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho.

 Việc tính giá trị HTK trong kế toán bán hàng được áp dụng một trong các

phương pháp sau:

- Phương pháp tính giá theo giá đích danh: Theo phương pháp này sản phẩm,

vật tư, hàng hoá xuất kho thuộc lơ hàng nhập nào thì lấy đơn giá nhập kho của lơ hàng

đó để tính.

Ưu điểm: Đây là phương án tốt nhất, nó tuân thủ nguyên tắc phù hợp của kế tốn;

chi phí thực tế phù hợp với doanh thu thực tế. Giá trị của hàng xuất kho đem bán phù

hợp với doanh thu mà nó tạo ra. Hơn nữa, giá trị hàng tồn kho được phản ánh đúng

theo giá trị thực tế của nó.

Nhược điểm: Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi những điều kiện



khắt khe, chỉ những doanh nghiệp kinh doanh có ít loại mặt hàng, hàng tồn kho có giá

trị lớn, mặt hàng ổn định và loại hàng tồn kho nhận diện được thì mới có thể áp dụng

được phương pháp này. Còn đối với những doanh nghiệp có nhiều loại hàng thì khơng

thể áp dụng được phương pháp này.

- Phương pháp bình quân gia quyền: Theo phương pháp này giá trị của từng

loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho đầu kỳ

và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Phương pháp bình

qn có thể được tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lô hàng, phụ thuộc vào

tình hình của doanh nghiệp. Có 2 cách tính theo phương pháp bình qn gia quyền:

+Theo giá bình quân gia quyền cuối kỳ (tháng): Theo phương pháp này, đến cuối

kỳ mới tính trị giá vốn của hàng xuất kho trong kỳ. Tuỳ theo kỳ dự trữ của doanh

nghiệp áp dụng mà kế toán hàng tồn kho căn cứ vào giá nhập, lượng hàng tồn kho đầu



kỳ và nhập trong kỳ để tính giá đơn vị bình qn:

Giá mua thực tế của hàngGiá

tồnmua

đầuthực

kỳ tế của hàng nhập trong k

+

Đơn giá thực tế bình quân =

Số lượng hàng nhập trong kỳ

Số lượng hàng tồn trong kỳ

+



Ưu điểm: Đơn giản, dễ làm, chỉ cần tính tốn một lần vào cuối kỳ.

Nhược điểm: Độ chính xác khơng cao, hơn nữa, cơng việc tính tốn dồn vào

cuối tháng gây ảnh hưởng đến tiến độ của các phần hành khác. Ngoài ra, phương pháp

này chưa đáp ứng yêu cầu kịp thời của thông tin kế toán ngay tại thời điểm phát sinh

nghiệp vụ.

+Theo giá bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập (bình quân thời điểm: Sau mỗi

lần nhập sản phẩm, vật tư, hàng hoá, kế toán phải xác định lại giá trị thực của hàng tồn

kho và giá đơn vị bình quân. Giá đơn vị bình qn được tính theo cơng thức sau:



Giá mua thực tế củaGiá

hàng

mua

tồnthực

đầu tế

kỳcủa hàng nhập trướ

Đơn giá thực tế bình quân xuất kho lần thứ i



=



+



Số lượng

Số lượng hàng tồn trong

kỳ hàng nhập trước lần x

+



Ưu điểm: là khắc phục được những hạn chế của phương pháp bình qn gia

quyền cuối kỳ (tháng).

Nhược điểm: việc tính tốn phức tạp, nhiều lần, tốn nhiều công sức. Do đặc

điểm trên mà phương pháp này được áp dụng ở các doanh nghiệp có ít chủng loại hàng

tồn kho, có lưu lượng nhập xuất ít.

- Phương pháp nhập trước xuất trước: Phương pháp này áp dụng dựa trên giả

định là hàng được mua trước thì được xuất trước và giá trị hàng xuất kho được tính

theo giá của lơ hàng nhập trước và thực hiện tuần tự cho đến khi chúng được xuất ra

hết.

Ưu điểm: Phương pháp này giúp cho chúng ta có thể tính được ngay trị giá vốn

hàng xuất kho từng lần xuất hàng, do vậy đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời cho kế

toán ghi chép các khâu tiếp theo cũng như cho quản lý. Trị giá vốn của hàng tồn kho sẽ

tương đối sát với giá thị trường của mặt hàng đó. Vì vậy chỉ tiêu hàng tồn kho trên báo

cáo kế tốn có ý nghĩa thực tế hơn.

Nhược điểm: phương pháp này có nhược điểm là làm cho doanh thu hiện tại

không phù hợp với những khoản chi phí hiện tại. Theo phương pháp này, doanh thu

hiện tại được tạo ra bởi giá trị sản phẩm, vật tư, hàng hố đã có được từ cách đó rất

lâu. Đồng thời nếu số lượng chủng loại mặt hàng nhiều, phát sinh nhập xuất liên tục

dẫn đến những chi phí cho việc hạch tốn cũng như khối lượng công việc sẽ tăng lên

rất nhiều.

- Phương pháp giá bán lẻ Các công ty bán lẻ lớn trên thế giới thường áp dụng

phương pháp kiểm kê định kỳ trong hạch toán hàng tồn kho. Theo phương pháp này trị

giá vốn hàng bán được xác định bằng cách lấy Trị giá hàng tồn kho đầu kỳ + Trị giá hàng

mua vào thuần – Trị giá hàng tồn kho cuối kỳ.

- Theo cách tính thơng thường, trị giá hàng tồn kho cuối kỳ được xác định thông

qua việc kiểm kê và áp dụng đơn giá theo 1 trong các phương pháp: bình quân, nhập trước

xuất trước cho số lượng kiểm kê thực tế.



- Tuy nhiên việc kiểm kê thường rất tốn kém nhiều thời gian và công sức. Do vậy

các công ty bán lẻ có thể sử dụng phương pháp giá bán lẻ để ước tính giá trị hàng tồn kho

cuối kỳ khi lập các báo cáo tài chính giữa niên độ.

- Để áp dụng dược phương pháp giá bán lẻ trong ước tính giá trị hàng tồn kho,

cơng ty cần ghi chép cả giá gốc và giá bán lẻ cho số hàng sẵn có để bán (hàng tồn đầu kỳ

và hàng mua vào thuần).

Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho theo Chuẩn mực kế toán số 02

Cuối kỳ kế toán năm, khi giá trị thuần có thể thực hiện được của HTK nhỏ hơn

giá gốc thì phải lập dự phòng giảm giá HTK. Số dự phòng giảm giá HTK phải lập là

số chênh lệch giữa giá gốc của HTK lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện được của

chúng.

Theo Điều 4, Thông tư 89/2013/TT-BTC ngày 28/06/2013 sửa đổi, bổ sung thơng

tư số 228/2009/TT-BTC ngày 7/12/2009 của bộ tài chính hướng dẫn chế độ trích lập

và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tổn thất các khoản đầu tư tài

chính, nợ phải thu khó đòi và bảo hành sản phẩm, hàng hố, cơng trình xây lắp tại

doanh nghiệp về trích lập dự phòng: Mức trích lập dự phòng tính theo cơng thức sau:

Mức

dự

phòng giảm giá

vật tư hàng hóa



Lượng vật tư

= hàng hóa thực tế tồn

kho tại thời điểm lập

báo cáo tài chính



Giá gốc

x hàng tồn kho

theo sổ kế

tốn



Giá

trị

- thuần có thể

thực hiện được

của hàng tồn

kho

Giá gốc hàng tồn kho bao gồm: chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên



quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái hiện tại

theo quy định tại Chuẩn mực kế toán số 02 - Hàng tồn kho ban hành kèm theo Quyết

định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho (giá trị dự kiến thu hồi) là

giá bán (ước tính) của hàng tồn kho trừ (-) chi phí để tiêu thụ (ước tính).

Mức lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho được tính cho từng loại hàng tồn kho bị

giảm giá và tổng hợp toàn bộ vào bảng kê chi tiết. Bảng kê là căn cứ để hạch toán vào

giá vốn hàng bán (giá thành tồn bộ sản phẩm hàng hố tiêu thụ trong kỳ) của doanh

nghiệp.

Riêng dịch vụ cung cấp dở dang, việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho tính

theo từng loại dịch vụ có mức giá riêng biệt.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN NHÓM HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x