Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Sự cần thiết phải hoàn thiện kế toán bán hàng tại Công ty TNHH Kỹ Thương Duy Hưng

1 Sự cần thiết phải hoàn thiện kế toán bán hàng tại Công ty TNHH Kỹ Thương Duy Hưng

Tải bản đầy đủ - 0trang

+ Kiểm tra giám sát tiến độ thực hiện,kế hoạch bán hàng,kế hoạch lợi

nhuận,phân phối lợi nhuận và lỷ luật thanh toán,làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước.

+ Cung cấp thông tin chính xác, trung thực và đầy đủ về tình hinhg bán

hàng,xác định kết quả và phân phối kết quả,phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính

và quản lý doanh nghiệp.

Như vậy công tác bán hàng và xác định kết quả bán hàng là công việc quan

trọng của doanh nghiệp nhằm xác định số lượng và giá trị của lượng hàng hoá bán

ra cũng như doanh thu và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.song để phát huy

được vai trò và thực hiện tốt các nhiệm vụ đã nêu trên đòi hỏi phải tổ chức công tác

kế toán thật khoa học,hợp lý đồng thời cán bộ kế toán phải nắm vững nội dung của

việc tổ chức tốt công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng

1.1.2 Sự cần thiết phải hoàn thiện kế tốn bán hàng

Trong hoạt đợng kinh doanh, kế toán đóng một vai trò quan trọng vì nó là

công cụ rất có hiệu lực giúp cho việc điều hành quản lý các hoạt động kinh tế bằng

việc cung cấp và phân tích các số liệu để các nhà quản lý ra quyết định kinh doanh

cho phù hợp. Qua các tài liệu kế toán công ty mới có được một đánh giá chính xác

về thực trạng của mình cũng như phương hướng mở rộng kinh doanh.

Tại Công ty TNHH Kỹ Thương Duy Hưng, nghiệp vụ tiêu thụ diễn ra hàng

ngày, thường xuyên, liên tục. Công ty có nhiểu mối quan hệ với khách hàng, đối tác,

ngân hàng...Việc cung cấp thông tin Kế toán kịp thời, chính xác cho chủ doanh

nghiệp và các bên liên quan là một điều rất càn thiết.

Như vậy hoàn thiện kế toán bán hàng nhằm nâng cao hiệu quả làm việc của hệ

thống kế toán nói chung và kế toán bán hàng nói riêng là một yêu cầu thiết yếu.

Nhờ đó những người quản lý có thể nhận được những thông tin kịp thời nhất, chính

xác nhất, đầy đủ nhất và đưa ra được những quyết định kinh doanh đúng đắn nhất

mang lại hiệu quả kinh doanh cao, ngày càng khẳng định được vị trí của Công ty

trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh quyết liệt như hiện nay.

1.2. Cơ sở lý luận kế toán bán hàng trong doanh nghiệp thương mại

1.2.1. Các khái niệm

10



 Khái niệm về bán hàng:



Bán hàng là việc chuyển quyền sở hữu sản phẩm, hàng hóa gắn với phần lớn

lợi ích hoặc rủi ro cho khách hàng đồng thời được khách hàng thanh toán hoặc chấp

nhận thanh toán. Bán hàng là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất - kinh

doanh, đây là quá trình chuyển hóa vốn từ hình thái vốn sản phẩm, hàng hoá sang

hình thái vốn tiền tệ hoặc vốn trong thanh toán.

Quá trình bán hàng ở các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp thương

mại nói riêng có những đặc điểm chính sau đây:

Đó là sự trao đổi mua bán có thỏa thuận giữu doanh nghiệp và khách

hàng, doanh nghiệp đống ý bán, khách hàng đồng ý mua , họ trả tiền hoặc chấp

nhận trả tiền.

Có sự thay đổi quyền sở hữu về hàng hoá: người bán mất quyền sở hữu,

người mua có quyền sở hữu về hàng hoá đã mua bán. Trong quá trình tiêu thụ hàng

hóa, các doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng một khối lượng hàng hoá và nhận

lại của khách hàng một khoản gọi là doanh thu bán hàng. Số doanh thu này là cơ sở

để doanh nghiệp xác định kết quả kinh doanh của mình.

 Khái niệm về doanh thu:



Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 – Doanh thu và thu nhập khác, ban

hành theo quyết định 149 ngày 31/12/2001 của Bộ tài chính thì Doanh thu được

hiểu như sau: “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được

trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của

doanh nghiệp, góp phần làm tăng nguồn vốn chủ sở hữu.”

Doanh thu được phân thành ba loại như sau:

-



Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

Doanh thu hoạt động tài chính

Doanh thu khác

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu được hoặc số

thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh như bán sản phẩm, hàng hóa gồm

cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có).

11



Doanh thu hoạt động tài chính là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp

thu được từ hoạt động tài chính hoặc kinh doanh về vốn trong kỳ kế toán.

 Điều kiện ghi nhận doanh thu:



Theo chuẩn mực kế toán số 14, điều kiện để ghi nhận doanh thu

-



Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu



-



sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua.

Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng



-



hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa.

Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.

Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán



-



hàng;

Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.



 Các khoản giảm trừ doanh thu



Trong quá trình bán hàng có thể phát sinh các trường hợp đặc biệt làm giảm

trừ doanh thu. Chẳng hạn như các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh

toán, giảm giá hàng bán hay hàng bán bị trả lại…

Chiết khấu thương mại: là khoản mà doanh nghiệp giảm giá niêm yết cho từng

khách hàng mua với số lượng hàng lớn.

Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hoá kém phẩm

chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.

Chiết khấu thanh toán: là khoản tiền người bán giảm trừ cho người mua do

người mua thanh toán tiền hàng trước thời hạn trong hợp đồng kinh tế.

Hàng bán bị trả lại: là giá trị của khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ

bị khách hàng trả lại và từ chới thanh toán.

Thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp: Là khoản thuế tính trên giá trị tăng

thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.

Thuế tiêu thụ đặc biệt: là khoản thuế đánh trên những hàng hóa dịch vụ đặc

biệt không được Nhà nước khuyến khích kinh doanh.

Thuế xuất khẩu: Là khoản thuế định trên các mặt hàng xuất khẩu nước ngoài

thuộc diện chịu thuế.

 Giá vốn hàng bán:



12



Giá vốn hàng bán là trị giá thực tế xuất kho của thành phẩm, hàng hoá được

xác định là đã tiêu thụ trong kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Giá vốn hàng bán bao gồm:

- Trị giá của sản phẩm, hàng hóa đã bán trong kỳ

- Số trích lập quỹ dự phòng giảm giá hàng tồn kho.

- Các khoản hao hụt, mất mát hàng tồn kho sau khi trừ đi phần bồi thường do

trách nhiệm cá nhân gây ra.

Nguyên tắc quan trọng nhất trong hạch toán giá vốn hàng bán là nguyên tắc

nhất quán. Để tính giá thực tế của thành phẩm, hàng hoá xuất kho doanh nghiệp có

nhiều phương pháp để lựa chọn. Mỗi phương pháp sẽ cho ra một kết quả khác nhau,

do đó ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

 Doanh thu thuần:



Doanh thu thuần là doanh thu thực tế về bán hàng của doanh nghiệp trong kỳ

kế toán , là cơ sở để các định kế toán bán hàng.

Doanh thu thuần là kết quả của doanh thu bán hàng sau khi đã trừ đi các khoản

giảm trừ doanh thu (chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại,

thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp).

1.2.2. Đặc điểm của nghiệp vụ bán hàng

Việc tiêu thụ hàng hóa luôn là một vấn đề quan trọng trong bất kể nền kinh tế

nào, nó quyết định quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó liên quan

trực tiếp tới lợi ích của doanh nghiệp, bởi có thông qua tiêu thụ thì tính chất hữu ích

của hàng hóa mới được xã hội thừa nhận, mới có khả năng bù đắp những chi phí bỏ

ra và có lợi nhuận. Mặt khác, đẩy mạnh bán hàng cũng có nghĩa là làm tăng vòng

quay vốn lưu động, tiết kiệm vốn, sử dụng nguồn vốn hiệu quả, thực hiện tái sản

xuất mở rộng. Đây là tiền đề vật chất để tăng thu nhập cho doanh nghiệp, nâng cao

đời sống cho cán bộ công nhân viên.

Vì vậy, khi xem xét nghiệp vụ bán hàng cần lưu ý các đặc điểm sau:





Phạm vi hàng bán

Hàng hóa được coi là đã hoàn thành việc bán trong doanh nghiệp thương mại,

được ghi nhận doanh thu bán hàng phải đảm bảo các điều kiện nhất định. Theo quy

định hiện hành, được coi là hàng bán phải thỏa mãn các điều kiện sau:



13



-



Hàng hóa phải thông qua quá trình mua, bán và thanh toán theo một phương thức



-



thanh toán nhất định.

Hàng hóa phải được chuyển quyền sở hữu từ doanh nghiệp thương mại (bên bán)

sang bên mua và doanh nghiệp thương mại đã thu được tiền hay một loại hàng hóa



-



khác hoặc được người mua chấp nhận nợ.

Hàng hóa bán ra phải thuộc diện kinh doanh của doanh nghiệp, do doanh nghiệp mua



vào hoặc gia công chế biến hay nhận vốn góp, nhận cấp phạt, tặng thưởng…

• Các phương thức bán hàng trong doanh nghiệp thương mại

Bán buôn: Là phương thức bán mà kết thúc quá trình bán hàng, hàng hóa vẫn

còn trong lưu thông. Căn cứ vào địa điểm nhận và giao hàng, bán buôn được chia

thành các hình thức sau:

 Bán buôn qua kho: Là bán buôn hàng hóa mà hàng bán được từ kho bảo quản của

-



doanh nghiệp. Có hai hình thức bán buôn qua kho:

Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp: Theo hình thức này bên mua

đề cử đại diện đến kho của doanh nghiệp thương mại đề nhận hàng. Doanh nghiệp

thương mại xuất kho hàng hóa, giao trực tiếp cho đại diện bên mua. Sau khi đại

diện bên mua nhận đủ hàng, đã thanh toán tiền hoặc chấp nhận nợ, hàng hóa được



-



xác định là tiêu thụ.

Bán bn qua kho theo hình thức chuyển hàng: Theo hình thức này, căn cứ vào hợp

đồng đã ký kết hoặc theo đơn đặt hàng, doanh nghiệp thương mại xuất kho hàng

hóa, bằng phương tiện vận tải của mình hoặc đi thuê ngoài, chuyển hàng giao cho

bên mua ở một điểm thỏa thuận. Hàng hóa chuyển bán vẫn thuộc quyền sở hữu của

doanh nghiệp thương mại. Hàng hóa này được xác định là tiêu thụ khi nhận được

tiền do bên mua thanh toán hoặc giấy báo của bên mua đã nhận được hàng và chấp



nhận thanh toán.



Bán buôn vận chuyển thẳng: Theo hình thức này, doanh nghiệp thương mại sau

khi mua hàng, nhận mua hàng, không đưa về nhập kho mà chuyển bán thẳng cho

-



bên mua. Phương thức này có thể thực hiện theo hai hình thức:

Bán hàng vận chuyển thẳng theo hình thức giao trực tiếp (còn gọi là hình thức giao

tay ba): Theo hình thức này doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng, nhận hàng

mua và giao trực tiếp cho đại diện của bên mua tại kho người bán. Sau khi giao,

nhận, đại diện bên mua ký nhận đủ hàng, bên mua đã thanh toán tiền hàng hoặc

chấp nhận nợ, hàng hóa được xác nhận là tiêu thụ.

14



-



Bán bn vận chuyển thẳng theo hình thức gửi hàng: Theo hình thức này. Doanh

nghiệp thương mại sau khi mua hàng, nhận hàng mua,bằng phương tiện vận tải của

mình hoặc thuê ngoài chuyển hàng đến giao cho bên mua ở một địa điểm đã thỏa

thuận. Hàng hóa chuyển bán trong trường hợp này vẫn thuộc quyền sở hữu của

doanh nghiệp thương mại. Khi nhận được tiền của bên mua thanh toán hoặc giấy

báo của bên mua đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán thì hàng hóa được xác



-



định là tiêu thụ.

Bán lẻ: Là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc các tổ chức

kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về để tiêu dùng nội bộ. Đặc điểm của

phương thức này là hàng hóa đã ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu

dùng. Giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa được thực hiện. Bán lẻ thường bán đơn

chiếc hoặc với số lượng nhỏ phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng, giá bán



-



thường ổn định. Phương thức bán lẻ thường có ba hình thức sau:

Hình thức bán hàng thu tiền tập trung:

Theo hình thức này việc thu tiền của người mua và giao hàng cho người mua tách

rời nhau. Mỗi quầy hàng có một nhân viên thu tiền làm nhiệm vụ thu tiền của khách,

viết hóa đơn hoặc tích kê cho khách để khách đến nhận hàng ở quầy hàng do nhân viên

bán hàng giao.



-



Hình thức bán hàng thu tiền trực tiếp:

Theo hình thức này, nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền và giao hàng cho

khách. Hết ca, nhân viên bán hàng làm giấy nộp tiền và nộp lại tiền cho thủ quỹ. Đồng

thời, kiểm kê hàng hóa tồn tại quầy để xác định số lượng hàng đã bán ra trong ca và lập

báo cáo bán hàng.



-



Hình thức bán hàng tự phục vụ:

Theo hình thức này, khách hàng tự chọn lấy hàng hóa, sau đó mang đến bộ

phận thu tiền để thanh toán tiền hàng. Hình thức này khá phổ biến ở các siêu thị.

Phương thức bán hàng đại lý

Theo hình thức này, doanh nghiệp thương mại giao hàng cho cơ sở nhận bán

đại lý, ký gửi để các cơ sở này trực tiếp bán hàng. Bên đại lý sẽ trực tiếp bán hàng

và thanh toán tiền cho doanh nghiệp thương mại và được hưởng hoa hồng đại lý

bán. Số hàng gửi đại lý vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thương mại. Số



15



hàng được xác định là tiêu thụ khi doanh nghiệp nhận được tiền do bên đại lý thanh

toán hoặc chấp nhận thanh toán.

Phương thức bán hàng trả góp, trả chậm

Là phương thức mà doanh nghiệp thương mại dành cho người mua ưu đãi

được trả tiền hàng trong kỳ. Doanh nghiệp thương mại được hưởng thêm khoản

chênh lệch giữa giá bán trả góp và giá bán thông thường theo phương thức trả tiền

ngay gọi là lãi trả góp. Khi doanh nghiệp thương mại giao hàng cho người mua,

hàng hóa được xác định là tiêu thụ.

Phương thức thanh toán:







Phương thức thanh toán trực tiếp: Là phương thức thanh toán mà quyền sở

hữu về tiền tệ sẽ được chuyển từ người mua sang người bán ngay sau khi quyền sở

hữu hàng hóa bị chuyển giao. Thanh toán trực tiếp có thể bằng tiền mặt, ngân phiếu,

séc hoặc có thể hàng hóa (nếu bán theo phương thức đổi hàng). Ở hình thức này sự

vận động của hàng hóa gắn với sự vận đợng của tiền tệ.

Phương thức thanh tốn chậm trả: Là phương thức thanh toán mà quyền sở

hữu về tiền tệ sẽ được chuyển giao sau một khoảng thời gian so với thời điểm

chuyển quyền sở hữu về hàng hóa, do đó hình thành khoản công nợ phải thu của

khách hàng. Ở hình thức này sự vận động của hàng hóa và tiền tệ có khoảng cách về

không gian và thời gian.

Giá cả hàng hóa







-



Giá bán hàng hóa của doanh nghiệp thương mại là giá thỏa thuận giữa



người mua và người bán được ghi trên hóa đơn hoặc hợp đồng. Tuy nhiên, nguyên

tắc xác định giá bán là phải đảm bảo cho doanh nghiệp có được khoản lợi nhuận

định mức.

Trên nguyên tắc đó, giá bán hàng hóa được xác định như sau:

Giá bán hàng hóa = Giá gốc + Thặng số thương mại

Thặng số thương mại dùng để bù đắp chi phí và hình thành lợi nhuận, nó được

tính theo tỉ lệ % trên giá thực tế của hàng hóa tiêu thụ.

Như vậy: Giá bán hàng hóa = Giá gốc (1 + %TSTM)

Hiện nay, nhà nước chỉ quy định giá ở một số mặt hàng thiết yếu, quan trọng

còn các hàng hóa khác giá cả được xác định theo quy luật cung cầu trên thị trường.

16



Vì vậy, mỗi doanh nghiệp cần phải tự xác định cho mình mức giá phù hợp dựa vào

nhu cầu thị trường, chu kỳ sống của sản phẩm, uy tín và nhãn mác sản phẩm đó trên

thị trường...để có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp khác.



17



1.2.3. Yêu cầu quản lý, nhiệm vụ kế toán bán hàng

 Yêu cầu quản lý



Trong quá trình bán hàng, tài sản của doanh nghiệp chuyển từ hình thái hàng

hóa sang hình thái tiền tệ. Do đó, để quản lý nghiệp vụ bán hàng, các doanh nghiệp

thương mại cần phải quản lý cả hai mặt tiền và hàng, cụ thể quản lý nghiệp vụ bán

hàng cần phải đảm bảo các chỉ tiêu sau:

-



Quản lý về doanh thu bán hàng hóa, đây là cơ sở quan trọng để xác định nghĩa vụ

của doanh nghiệp đối với nhà nước, đồng thời là cơ sở để xác định chính xác kết

quả kinh doanh của doanh nghiệp thương mại. Trong nền kinh tế thị trường, quản lý

doanh thu bao gồm:

+ Quản lý doanh thu thực tế: Doanh thu thực tế là doanh thu được tính theo

giá bán ghi trên hóa đơn hoặc trên hợp đồng bán hàng

+ Quản lý các khoản giảm trừ doanh thu: là các khoản phát sinh trong quá

trình bán hàng, theo quy định cuối kỳ được trừ khỏi doanh thu thực tế. Các khoản

giảm trừ khỏi doanh thu bao gồm:

*Khoản giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa

kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.

*Khoản giá trị hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định

là tiêu thụ nhưng đã bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán

*Chiết khấu thương mại: Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho

khách hàng mua hàng với khối lượng lớn.

+ Doanh thu thuần là doanh thu thực tế về bán hàng của doanh nghiệp trong



-



kỳ kế toán , là cơ sở để các định kế toán bán hàng.

Quản lý tình hình thu hồi tiền, tình hình công nợ và thanh toán công nợ phải thu ở

người mua. Kế toán phải theo dõi chặt chẽ thời hạn thanh toán tiền hàng để kịp thời



-



thu hồi tiền ngay khi đến hạn để tránh bị chiếm dụng vốn kinh doanh.

Phải quản lý giá vốn của hàng hóa đã tiêu thụ, đây cũng là cơ sở để xác định kết quả

bán hàng.

Nhiệm vụ của kế toán bán hàng:







Như đã khẳng định, bán hàng có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp. Kế

toán trong doanh nghiệp với tư cách là một công cụ quản lý kinh tế, thu nhận xử lý

và cung cấp toàn bộ thông tin về tài sản và sự vận động của tài sản đó trong doanh

nghiệp nhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính của doanh

nghiệp, có vai trò quan trọng trong việc phục vụ quản lý bán hàng và xác định kết

18



quả bán hàng của doanh nghiệp đó. Chính vì vậy, nhiệm vụ đặt ra đối với kế toán

bán hàng là phải:

-



Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác tình hình hiện có và sự biến động của

từng loại hàng hóa theo chỉ tiêu số lượng, chất lượng, chủng loại và giá trị.

- Ghi chép, phản ánh kịp thời, đầy đủ và chính xác tình hình bán hàng của

doanh nghiệp trong kỳ. Ngoài kế toán tổng hợp trên các tài khoản kế toán, kế toán

bán hàng cần phải theo dõi, ghi chép, tính toán chính xác doanh thu bán hàng, các

khoản giảm trừ doanh thu, thuế GTGT đầu ra của từng nhóm mặt hàng, theo dõi

từng đơn vị trực thuộc.

- Tính toán đúng đắn trị giá vốn của hàng bán nhằm xác định chính xác kết

quả bán hàng.

- Phản ánh và giám sát tình hình thu hồi tiền, tình hình công nợ và thanh toán

công nợ phải thu ở người mua. Đối với hàng hóa bán chịu, cần phải mở sổ ghi chép

theo từng khách hàng, lô hàng, số tiền khách nợ, thời hạn và tình hình trả nợ…

- Cung cấp đầy đủ kịp thời, chính xác các thông tin cần thiết về tình hình bán

hàng, phục vụ cho việc lập BCTC và định kỳ phân tích hoạt động kinh tế liên quan

đến quá trình bán hàng, giúp nhà quản lý chỉ đạo, điều hành hoạt động kinh doanh

của doanh nghiệp tốt hơn.

Như vậy, kế toán bán hàng là công tác quan trọng của doanh nghiệp nhằm xác

định số lượng và giá trị của hàng hóa bán ra cũng như doanh thu và kết quả kinh

doanh của doanh nghiệp. Song để phát huy được vai trò thực hiện tốt các nhiệm vụ đã

nêu trên đòi hỏi phải tổ chức công tác kế toán thật khoa học, hợp lý, đồng thời cán bộ

kế toán phải nắm vững nội dung của công tác kế toán bán hàng trong doanh nghiệp.

1.3. Kế toán bán hàng trong các doanh nghiệp thương mại

1.3.1. Các quy định của chuẩn mực kế toán ảnh hưởng

đến kế toán bán hàng

1.3.1.1. Kế toán nghiệp vụ bán hàng theo chuẩn mực số 01

VAS 01 được ban hành và công bố theo quyết định 165/2002/QĐ – BTC ngày

31/12/2002 của Bộ trưởng Bộ tài chính trình bày 7 nguyên tắc kế toán cơ bản, trong

đó có một số nguyên tắc kế toán cơ bản chi phối tới kế toán bán hàng như:



 Nguyên tắc “Cơ sở dồn tích”: mọi nghiệp vụ bán hàng của doanh nghiệp phải được



ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực thu hoặc

thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền. Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích

19



phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

Do đó khi bán hàng cần phải lưu ý thời điểm ghi nhận doanh thu để đảm ảo phản

ánh đúng tình hình tài chính doanh nghiệp.

Vì việc ghi nhận doanh thu và chi phí có ảnh hưởng quyết định đến báo cáo

kết quả kinh doanh của Doanh nghiệp trong một kỳ, cơ sở kế toán dồn tích được

xem là một nguyên tắc chính yếu đối với việc xác định lợi nhuận của Doanh nghiệp.

Lợi nhuận theo cơ sở dồn tích là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí; từ đó,

BCTC nói chung và BCKQKD nói riêng được lập trên cơ sở dồn tích phản ánh đầy

đủ (hay tuân thủ yêu cầu trung thực) các giao dịch kế toán trong kỳ và từ đó, cho

phép tình trạng tái sản, nguồn vốn của một Doanh nghiệp một cách đầy đủ, hợp lý.

Hơn nữa, do không có sự trùng hợp giữa lượng tiền thu vào và doanh thu trong kỳ

và tồn tại chênh lệch giữa chi phí ghi nhận và lượng tiền chi ra trong một kỳ, kế

toán theo cơ sở dồn tích cho phép theo dõi các giao dịch kéo dài qua các kỳ khác

nhau, như nợ phải thu, nợ phải trả, khấu hao, dự phòng,...

 Nguyên tắc phù hợp: việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau.



Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng

có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi

phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng

liên quan đến doanh thu của kỳ đó.

Chi phí tương ứng với doanh thu bao gồm:

+ chi phí của kỳ tạo ra doanh thu, đó là các chi phí đã phát sinh thực tế trong

kỳ và liên quan đến việc tạo ra doanh thu của kì đó.

+ chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến việc tạo

ra doanh thu của kỳ đó

Như vậy, chi phí được ghi nhận trong kỳ là toàn bộ các khoản chi phí liên quan

đến việc tạo ra doanh thu và thu nhập của kỳ đó không phụ thuộc khoản chi phí đó

được chi ra trong kỳ nào.

Quy định hạch toán phù hợp giữa doanh thu và chi phí nhằm xác định và đánh

giá đúng kết quả kinh doanh đúng đắn và có hiệu quả.

 Nguyên tắc nhất quán: các chính sách và phương pháp kế toán doanh nghiệp đã chọn



phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm. Trường hợp có thay

20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Sự cần thiết phải hoàn thiện kế toán bán hàng tại Công ty TNHH Kỹ Thương Duy Hưng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x