Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Nội dung nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất

2 Nội dung nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khóa luận tốt nghiệp

Khoa: Kế tốn – Kiểm tốn

chi phí sản xuất là căn cứ để tính giá thành sản phẩm, chi phí phát sinh liên quan

đến nhiều kỳ sản xuất, nhiều loại sản phẩm thì phải được phân bổ hợp lý cho từng

kỳ. từng loại sản phẩm.Vì thế việc tuân thủ nguyên tắc phù hợp là cần thiết trong kế

tốn chi phí sản xuất.

“Ngun tắc thận trọng quy định doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi

có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải

được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí”.Vì thế tất cả các

chi phí phát sinh trong q trình sản xuất phải được kế toán ghi nhận đầy đủ bằng

các bằng chứng xác thực, tất cả phải thu thập dựa trên các chứng từ liên quan:

phiếu xuất, nhập kho, hóa đơn GTGT…

Theo CMKT số 02 “Hàng Tồn Kho” chi phối kế tốn chi phí sản xuất thơng

qua các khoản chi phí cấu thành nên giá gốc HTK, bao gồm chi phí mua, chi phí

chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được HTK ở địa

điểm và trạng thái hiện tại.

Nội Dung:Xác định giá trị hàng tồn kho.

Hàng tồn kho được tính theo giá gốc. Trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện

được thấp hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được.

Giá gốc hàng tồn kho bao gồm: Chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí

liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái

hiện tại.

Chi phí mua:

Chi phí mua của hàng tồn kho bao gồm giá mua, các loại thuế khơng được

hồn lại, chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản trong q trình mua hàng và các chi

phí khác có liên quan trực tiếp đến việc mua hàng tồn kho. Các khoản chiết khấu

thương mại và giảm giá hàng mua do hàng mua không đúF30ng quy cách, phẩm

chất được trừ (-) khỏi chi phí mua.

Chi phí chế biến:

Chi phí chế biến hàng tồn kho bao gồm những chi phí có liên quan trực tiếp

đến sản phẩm sản xuất, như chi phí nhân cơng trực tiếp, chi phí sản xuất chung cố

định và chi phí sản xuất chung biến đổi phát sinh trong q trình chuyển hóa

ngun liệu, vật liệu thành thành phẩm.

GVHD: Th.S Nguyễn Quỳnh Trang

SVTH: Lê Thùy Dung



Khóa luận tốt nghiệp

Khoa: Kế tốn – Kiểm tốn

Chi phí sản xuất chung cố định là những chi phí sản xuất gián tiếp, thường

không thay đổi theo số lượng sản phẩm sản xuất, như chi phí khấu hao, chi phí bảo

dưỡng máy móc thiết bị, nhà xưởng,... và chi phí quản lý hành chính ở các phân

xưởng sản xuất.

Chi phí sản xuất chung biến đổi là những chi phí sản xuất gián tiếp, thường

thay đổi trực tiếp hoặc gần như trực tiếp theo số lượng sản phẩm sản xuất, như chi

phí nguyên liệu, vật liệu gián tiếp, chi phí nhân cơng gián tiếp.

Chi phí sản xuất chung cố định phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị

sản phẩm được dựa trên cơng suất bình thường của máy móc sản xuất. Cơng suất

bình thường là số lượng sản phẩm đạt được ở mức trung bình trong các điều kiện

sản xuất bình thường.

- Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra cao hơn cơng suất bình

thường thì chi phí sản xuất chung cố định được phân bổ cho mỗi đơn vị sản phẩm

theo chi phí thực tế phát sinh.

- Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra thấp hơn cơng suất bình

thường thì chi phí sản xuất chung cố định chỉ được phân bổ vào chi phí chế biến cho

mỗi đơn vị sản phẩm theo mức công suất bình thường. Khoản chi phí sản xuất

chung khơng phân bổ được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ.

Chi phí sản xuất chung biến đổi được phân bổ hết vào chi phí chế biến cho

mỗi đơn vị sản phẩm theo chi phí thực tế phát sinh.

Trường hợp một quy trình sản xuất ra nhiều loại sản phẩm trong cùng một

khoảng thời gian mà chi phí chế biến của mỗi loại sản phẩm không được phản ánh

một cách tách biệt, thì chi phí chế biến được phân bổ cho các loại sản phẩm theo

tiêu thức phù hợp và nhất qn giữa các kỳ kế tốn.

Trường hợp có sản phẩm phụ, thì giá trị sản phẩm phụ được tính theo giá trị

thuần có thể thực hiện được và giá trị này được trừ (-) khỏi chi phí chế biến đã tập

hợp chung cho sản phẩm chính.

Chi phí liên quan trực tiếp khác:

Chi phí liên quan trực tiếp khác tính vào giá gốc hàng tồn kho bao gồm các

khoản chi phí khác ngồi chi phí mua và chi phí chế biến hàng tồn kho. Ví dụ, trong

giá gốc thành phẩm có thể bao gồm CP thiết kế sản phẩm cho một đơn đặt hàng cụ

thể.

GVHD: Th.S Nguyễn Quỳnh Trang

SVTH: Lê Thùy Dung



Khóa luận tốt nghiệp

Khoa: Kế tốn – Kiểm tốn

Chi phí khơng tính vào giá gốc hàng tồn kho:

Chi phí khơng được tính vào giá gốc hàng tồn kho, gồm:

(a)



Chi phí ngun liệu, vật liệu, chi phí nhân cơng và các chi phí sản xuất,



kinh doanh khác phát sinh trên mức bình thường;

(b)



Chi phí bảo quản hàng tồn kho trừ các khoản chi phí bảo quản hàng tồn



kho cần thiết cho q trình sản xuất tiếp theo và chi phí bảo quản quy định ở đoạn 06;

(c)



Chi phí bán hàng;



(d)



Chi phí quản lý doanh nghiệp.



Chi phí cung cấp dịch vụ:

Chi phí cung cấp dịch vụ bao gồm chi phí nhân viên và các chi phí khác liên

quan trực tiếp đến việc cung cấp dịch vụ, như chi phí giám sát và các chi phí chung

có liên quan.

Chi phí nhân viên, chi phí khác liên quan đến bán hàng và quản lý doanh

nghiệp khơng được tính vào chi phí cung cấp dịch vụ.

PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ TRỊ HÀNG TỒN KHO

Việc tính giá trị hàng tồn kho được áp dụng theo một trong các phương pháp

sau

(a)



Phương pháp tính theo giá đích danh;



(b)



Phương pháp bình quân gia quyền;



(c)



Phương pháp nhập trước, xuất trước;



(d)



Phương pháp nhập sau, xuất trước.



* Phương pháp nhập trước xuất trước(FIFO)

Phương pháp này áp dụng dựa trên giả định là hàng được mua trước hoặc sản

xuất trước thì được xuất trước, và hàng còn lại cuối kỳ là hàng được mua hoặc sản

xuất ở thời điểm cuối kỳ. Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính

theo giá của lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng

tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ

còn tồn kho.

Phương pháp này giúp cho chúng ta có thể tính được ngay trị giá vốn hàng

xuất kho từng lần xuất hàng, do vậy đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời cho kế toán

ghi chép các khâu tiếp theo cũng như cho quản lý. Trị giá vốn của hàng tồn kho sẽ

GVHD: Th.S Nguyễn Quỳnh Trang

SVTH: Lê Thùy Dung



Khóa luận tốt nghiệp

Khoa: Kế toán – Kiểm toán

tương đối sát với giá thị trường của mặt hàng đó. Vì vậy chỉ tiêu hàng tồn kho trên

báo cáo kế tốn có ý nghĩa thực tế hơn.

Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là làm cho doanh thu hiện tại

không phù hợp với những khoản chi phí hiện tại. Theo phương pháp này, doanh thu

hiện tại được tạo ra bởi giá trị sản phẩm, vật tư, hàng hố đã có được từ cách đó rất

lâu. Đồng thời nếu số lượng chủng loại mặt hàng nhiều, phát sinh nhập xuất liên tục

dẫn đến những chi phí cho việc hạch tốn cũng như khối lượng cơng việc sẽ tăng

lên rất nhiều.

*Phương pháp nhập sau - xuất trước(LIFO)

Phương pháp này giả định là hàng được mua sau hoặc sản xuất sau thì được

xuất trước, và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là những hàng được mua hoặc sản xuất

trước đó. Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lơ

hàng nhập sau hoặc gần sau cùng, giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của

hàng nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ.

Như vậy với phương pháp này chi phí của lần mua gần nhất sẽ tương đối sát

với trị giá vốn của hàng thay thế. Việc thực hiện phương pháp này sẽ đảm bảo được

yêu cầu của nguyên tắc phù hợp trong kế toán. Tuy nhiên, trị giá vốn của hàng tồn

kho cuối kỳ có thể khơng sát với giá thị trường của hàng thay thế.

*Phương pháp giá hạch tốn.

Đối với các doanh nghiệp có nhiều loại hàng, giá cả thường xuyên biến động,

nghiệp vụ nhập xuất hàng diễn ra thường xun thì việc hạch tốn theo giá thực tế

trở nên phức tạp, tốn nhiều công sức và nhiều khi khơng thực hiện được. Do đó việc

hạch toán hàng ngày nên sử dụng giá hạch toán.

Giá hạch tốn là loại giá ổn định, doanh nghiệp có thể sử dụng trong thời gian

dài để hạch toán nhập, xuất, tồn kho hàng trong khi chưa tính được giá thực tế của

nó. Doanh nghiệp có thể sử dụng giá kế hoạch hoặc giá mua hàng hoá ở một thời

điểm nào đó hay giá hàng bình qn tháng trước để làm giá hạch toán. Sử dụng giá

hạch toán để giảm bớt khối lượng cho cơng tác kế tốn nhập xuất hàng hàng ngày

nhưng cuối tháng phải tính chuyển giá hạch tốn của hàng xuất, tồn kho theo giá

thực tế. Việc tính chuyển dựa trên cơ sở hệ số giữa giá thực tế và giá hạch toán.



GVHD: Th.S Nguyễn Quỳnh Trang

SVTH: Lê Thùy Dung



Khóa luận tốt nghiệp

Khoa: Kế tốn – Kiểm tốn

Phương pháp hệ số giá cho phép kết hợp chặt chẽ hạch toán chi tiết và hạch

toán tổng hợp về hàng trong cơng tác tính giá, nên cơng việc tính giá được tiến hành

nhanh chóng do chỉ phải theo dõi biến động của hàng với cùng một mức giá và đến

cuối kỳ mới điều chỉnh và không bị phụ thuộc vào số lượng danh điểm hàng , số lần

nhập, xuất của mỗi loại nhiều hay ít.

Phương pháp này phù hợp với các doanh nghiệp có nhiều chủng loại hàng và

đội ngũ kế tốn có trình độ chun mơn cao.

Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, giá thực tế của hàng nhập kho luôn biến

động phụ thuộc vào các yếu tố thị trường, các chính sách điều tiết vi mơ và vĩ mơ,

cho nên việc sử dụng giá hạch tốn cố định trong suốt kỳ kế tốn là khơng còn phù

hợp nữa.

* Phương pháp giá thực tế đích danh.

Theo phương pháp này sản phẩm, vật tư, hàng hố xuất kho thuộc lơ hàng

nhập nào thì lấy đơn giá nhập kho của lơ hàng đó để tính. Đây là phương án tốt

nhất, nó tuân thủ nguyên tắc phù hợp của kế toán; chi phí thực tế phù hợp với doanh

thu thực tế. Giá trị của hàng xuất kho đem bán phù hợp với doanh thu mà nó tạo ra.

Hơn nữa, giá trị hàng tồn kho được phản ánh đúng theo giá trị thực tế của nó.

Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi những điều kiện khắt khe,

chỉ những doanh nghiệp kinh doanh có ít loại mặt hàng, hàng tồn kho có giá trị lớn,

mặt hàng ổn định và loại hàng tồn kho nhận diện được thì mới có thể áp dụng được

phương pháp này. Còn đối với những doanh nghiệp có nhiều loại hàng thì khơng thể

áp dụng được phương pháp này.

*Phương pháp giá bình quân:

Theo phương pháp này giá trị của từng loại hàng tồn kho được tính theo giá trị

trung bình của từng loại hàng tồn kho đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được

mua hoặc sản xuất trong kỳ. Phương pháp bình qn có thể được tính theo thời kỳ

hoặc vào mỗi khi nhập một lơ hàng , phụ thuộc vào tình hình của doanh nghiệp.

* Tóm lại: Các phương pháp khác nhau có ảnh hưởng khác nhau tới các chỉ

tiêu trên các báo cáo tài chính. Phương pháp FIFO cho kết quả số liệu trong bảng

cân đối kế toán là sát nhất với giá phí hiện tại so với các phương pháp tính giá hàng

tồn kho khác vì giá của các lần mua sau cũng được phản ánh trong giá hàng tồn kho

GVHD: Th.S Nguyễn Quỳnh Trang

SVTH: Lê Thùy Dung



Khóa luận tốt nghiệp

Khoa: Kế tốn – Kiểm tốn

cuối kỳ còn trị giá vốn hàng xuất là giá cũ từ trước, phương pháp FIFO giả sử rằng

giá của hàng tồn kho đầu kỳ theo giá nhập trước và giá các lần nhập trước trở thành

trị giá vốn hàng xuất (hoặc thành chi phí). Khi giá cả tăng lên, phương pháp FIFO

thường dẫn đến lợi nhuận cao nhất trong 3 phương pháp FIFO, LIFO và bình qn,

còn khi giá cả giảm xuống thì phương pháp FIFO cho lợi nhuận là thấp nhất trong 3

phương pháp tính giá. Phương pháp FIFO là một phương pháp tính giá theo hướng

bảng cân đối kế tốn, vì nó đưa ra sự dự đốn chính xác nhất giá trị hiện tại của

hàng tồn kho trong những kỳ giá cả thay đổi. Trong những kỳ giá tăng lên, phương

pháp FIFO sẽ cho kết quả thuế cao hơn bất kỳ phương pháp nào trong khi những kỳ

giá cả giảm sút thì FIFO giúp cho doanh nghiệp giảm đi gánh nặng thuế. Song một

ưu điểm lớn của FIFO là phương pháp này không phải là đối tượng cho những qui

định và những yêu cầu của các điều khoản ràng buộc thuế như phương pháp LIFO

phải gánh chịu.

Trong phương pháp LIFO, thơng thường thì số hàng tồn cuối kỳ gồm giá gốc

của những mặt hàng mua từ cũ . Khi giá cả tăng lên, phương pháp LIFO cho số liệu

trên bảng cân đối kế tốn thường thấp hơn so với giá phí hiện tại. LIFO thường cho

kết quả lợi nhuận thấp nhất trong trường hợp giá cả tăng vì giá vốn trong phương

pháp này là cao nhất và cho lợi nhuận cao nhất khi giá cả giảm (vì giá vốn là thấp

nhất). Phương pháp LIFO thường dẫn đến sự giao động thấp nhất về lợi nhuận báo

cáo ở những nơi mà giá bán có xu hướng thay đổi cùng với giá hiện tại của các mặt

hàng tồn kho thay đổi.

Phương pháp LIFO tạo ra sự ảnh hưởng khác nhau tới báo cáo tài chính do

phương pháp này thường phản ánh số liệu giá vốn hàng bán theo giá phí hiện hành,

phương pháp này cũng có nhiều thuận lợi thiết thực về thuế thu nhập doanh nghiệp.

Nếu một doanh nghiệp sử dụng phương pháp LIFO trong việc tính tốn thuế thu

nhập doanh nghiệp thì phương pháp này cũng phải được sử dụng trong các báo cáo

tài chính cho các cổ đơng.

Phương pháp bình qn trong tính giá hàng tồn kho là phương pháp tạo ra sự

quân bình ở giữa hai phương pháp LIFO và FIFO trong việc ảnh hưởng tới bảng cân

đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh. Phương pháp này không đưa ra một dự

kiến về thơng tin giá phí hiện thời trên cả báo cáo tài chính và báo cáo kết quả kinh

GVHD: Th.S Nguyễn Quỳnh Trang

SVTH: Lê Thùy Dung



Khóa luận tốt nghiệp

Khoa: Kế tốn – Kiểm tốn

doanh, nó cũng không giúp việc giảm thiểu gánh nặng thuế cũng như khơng phát

sinh những kết quả nặng nề nhất khi có những thay đổi khác nhau.Phương pháp

nhập sau, xuất trước áp dụng dựa trên giả định là hàng tồn kho được mua sau hoặc

sản xuất sau thì được xuất trước, và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho

được mua hoặc sản xuất trước đó. Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho

được tính theo giá của lô hàng nhập sau hoặc gần sau cùng, giá trị của hàng tồn kho

được tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ còn tồn kho.

1.2.2. Nội dung kế tốn chi phí sản xuất sản phẩm theo chế độ kế toán

hiện hành.

1.2.2.1. Tập hợp chi phí

- Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn mà các chi phí sản

xuất phát sinh được tổ chức tập hợp và phân bổ theo đó. Giới hạn tập hợp chi phí

sản xuất có thể là nơi gây ra chi phí hoặc nơi chịu phí. Để xác định đúng đối tượng

tập hợp chi phí cần căn cứ vào loại hình sản xuất, đặc điểm quy trình cơng nghệ sản

xuất sản phẩm và u cầu quản lý của doanh nghiệp.

Việc xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là khâu đầu tiên, cần thiết

của cơng tác hạch tốn chi phí sản xuất. Chỉ có xác định đúng đắn đối tượng hạch

tốn chi phí sản xuất mới có thể tổ chức tốt cơng tác hạch tốn chi phí. Trên cơ sở

đối tượng hạch tốn chi phí, kế tốn lựa chọn phương pháp hạch tốn chi phí thích

ứng.

- Phương pháp hạch tốn chi phí sản xuất: Tuỳ theo từng loại chi phí và điều

kiện cụ thể, kế tốn có thể vận dụng phương pháp tập hợp chi phí sản xuất thích

hợp. Có 2 phương pháp tập hợp chi phí sản xuất:

+ Phương pháp trực tiếp: phương pháp này áp dụng trong trường hợp chi phí

sản xuất phát sinh có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế tốn chi phí sản xuất

riêng biệt. Do đó, có thể căn cứ vào chứng từ ban đầu để hạch toán trực tiếp cho

từng đối tượng riêng biệt.

+ Phương pháp phân bổ gián tiếp: phương pháp này áp dụng trong trường hợp

chi phí sản xuất phát sinh có liên quan đến nhiều đối tượng kế tốn chi phí, khơng

tổ chức ghi chép riêng cho từng đối tượng được. Như vậy, phải tập hợp chung cho

nhiều đối tượng, sau đó lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ thích hợp để



phân bổ khoản



chi phí này cho từng đối tượng kế tốn chi phí.

GVHD: Th.S Nguyễn Quỳnh Trang

SVTH: Lê Thùy Dung



Khóa luận tốt nghiệp

Khoa: Kế toán – Kiểm toán

Mức phân bổ cho từng đối tượng: Ci = Ti * H (i = 1,n )

Trong đó:

H là hệ số phân bổ

Ci: Chi phí phân bổ cho từng đối tượng i Ti: Tiêu chuẩn phân bổ cho từng đối

tượng i



- Là một phương pháp hay hệ thống các phương pháp được sử dụng để tập

hợp và phân loại các chi phí sản xuất trong phạm vi giới hạn của đối tượng hạch

tốn chi phí. Trong doanh nghiệp sản xuất có phương pháp hạch tốn chi phí sản

xuất theo cơng trình, hạng mục cơng trình, phương pháp hạch tốn chi phí sản xuất

theo đơn đặt hàng.

1.2.2.2. Kế tốn tập hợp chi phí sản xuất

- Kế tốn tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên

a,Chứng từ sử dụng: Phiếu xuất kho, hóa đơn GTGT…, Bảng lương, bảng

phân bổ Lao cụ, Bảng phân bổ NVL CCDC, các sổ chi tiết và sổ cái TK621,

TK622, TK 627….

Trình tự luân chuyển chứng từ:

- Phiếu xuất kho: chứng từ chứng minh cho nghiệp vụ về xuất kho một loại

hàng hóa tồn kho nào đó. Phiếu xuất kho do kế toán trưởng hoặc phụ trách viết khi

muốn xuất vật tư, sản phẩm , hàng hóa. Khi xuất kho phải căn cứ vào các nguyên

nhân xuất thông qua các chứng từ nguồn bao gồm: Lệnh xuất kho, phiếu xin lĩnh

vật tư, hóa đơn bán hàng, hợp đồng cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ…

Luân chuyển:



Bước 1: Người có nhu cầu vật tư, sản phẩm, hàng hóa lập



giấy xin xuất hoặc ra lệnh xuất đối với vật tư, sản phẩm, hàng hóa…

Bước 2: Chuyển cho chủ doanh nghiệp, hoặc phụ trách đơn vị duyệt lệnh

xuất.

Bước 3: Phụ trách bộ phận hoặc kế toán vật tư căn cứ vào đề nghị xuất hoặc

lệnh xuất tiến hành lập phiếu xuất kho.

GVHD: Th.S Nguyễn Quỳnh Trang

SVTH: Lê Thùy Dung



Khóa luận tốt nghiệp

Khoa: Kế toán – Kiểm toán

Bước 4: Chuyển phiếu xuất kho cho thủ kho tiến hành xuất vật tư, sản phẩm ,

hàng hóa… sau đó ký vào phiếu xuất kho rồi chuyển cho kê toán vật tư.

Bước 5: Khi nhận phiếu xuất kho, chuyển cho kế toán trưởng ký duyệt chứng

từ rồi ghi sổ kế tốn.

- Hóa đơn GTGT:

Căn cứ để người bán xuất kho sản phẩm, tính khối lượng dịch vụ đã cung cấp

cho người mua, do đó có thể gọi là hoá đơn hoặc hoá đơn kiêm phiếu xuất kho.

Đối với người mua hàng, hoá đơn này là căn cứ pháp lý để vận chuyển hàng

hoá trên đường. Nếu khơng có hố đơn này thì hàng hố vận chuyển trên đường có

thể coi như là bất hợp pháp.

Bộ Tài chính quy định mẫu hố đơn, tổ chức in, phát hành và sử dụng hoá đơn

bán hàng. Trường hợp tổ chức hoặc cá nhân tự in hoá đơn bán hàng thì phải được cơ

quan Tài chính có thẩm quyền chấp thuận bằng văn bản trước khi thực hiện

Trình tự xử lý và ln chuyển hóa đơn (GTGT):

- Hố đơn do bộ phận kế toán hoặc bộ phận kinh doanh lập thành 3 liên (đặt

giấy than viết 1 lần) - người lập phiếu ký.

- Chuyển hoá đơn cho kế toán trưởng và thủ trưởng đơn vị ký duyệt. Nếu hoá

đơn thanh toán tiền ngay, phải đến bộ phận kế toán làm thủ tục nộp tiền (tiền mặt,

séc).

- Người mua nhận hàng hố, sản phẩm ký vào hố đơn, còn nếu vận chuyển,

dịch vụ thì khi cơng việc vận chuyển, dịch vụ hồn thành, khách hàng mua dịch vụ

ký vào hố đơn.

Ba liên hoá đơn được phân chia và luân chuyển như sau: liên 1 lưu tại

quyển hố đơn (nhơmg), liên 2 giao cho khách hàng, liên 3 thủ kho giữ lại ghi thẻ

kho, cuối ngày hoặc định kỳ chuyển cho bộ phận kế toán để ghi sổ.

b,Tài khoản sử dụng và vận dụng TK kế toán: Kế toán sử dụng các TK như:

- TK621- “ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”

- TK622- “ Chi phí nhân cơng trực tiếp”

- TK627- “ Chi phí sản xuất chung”

- TK154- “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”



GVHD: Th.S Nguyễn Quỳnh Trang

SVTH: Lê Thùy Dung



Khóa luận tốt nghiệp

Khoa: Kế tốn – Kiểm tốn

Chi phí ngun vật liệu trực tiếp: “ Chi phí NVLTT ” phản ánh chi phí

nguyên liệu, vật liệu sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm của doanh

nghiệp, nó được mở chi tiết cho từng phân xưởng.

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ hạch toán vào tài khoản 621: “Chi phí nguyên vật liệu trực

tiếp”

(Phụ lục 1.1).

+ Khi xuất kho NVL sử dụng cho sản xuất sản phẩm kế tốn ghi tăng cho tài

khoản Chi phí NVLTT và ghi giảm cho tài khoản NVL.

+ Khi mua NVL,CCDC đưa thẳng vào bộ phân sản xuất, kế toán ghi tăng cho

tài khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và tài khoản thuế giá trị gia tăng được

khấu trừ và ghi giảm cho tài khoản thanh toán.

+ NVL sử dụng khơng hết nhập lại kho kế tốn ghi tăng tài khoản NVL và ghi

giảm cho tài khoản chi phí NVLTT.

+ Cuối kỳ căn cứ vào giá trị kết chuyển hoặc phân bổ nguyên vật liệu cho từng

loại sản phẩm, kế tốn ghi tăng tài khoản “Chi phí SXKD dở dang”, ghi giảm tài

khoản “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”

- TK Chi phí nhân cơng trực tiếp- TK 622: Tài khoản này dùng để phản ánh

chi phí nhân cơng trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh

Chi phí nhân cơng trực tiếp là tồn bộ tiền lương , phụ cấp mang tính chất

lương mà doanh nghiệp phải trả cho người lao động trực tiếp sản phẩm, thực

hiện các dịch vụ. Ngồi ra, nó còn bao gồm các khoản BH T,BHXH,CPCĐ mà

doanh nghiệp phải chịu.

Sơ đồ 1.2 Sơ đồ hạch tốn TK 622: “Chi phí nhân cơng trực tiếp” (Phụ lục

1.2)

Hàng tháng tính lương phải trả cho cơng nhân trực tiếp sản xuất kế toán ghi

tăng cho tài khoản chi phí NCTT và ghi tăng cho tài khoản phải trả cơng nhân viên.

Tính trích BHXH, KPCĐ, BH T, BHTN cả cơng nhân sản xuất kế tốn ghi

tăng cho tài khoản chi phí nhân cơng trực tiếp đồng thời ghi tăng cho tài khoản phải

trả phải nộp khác.

Khi trích trước chi phí tiền lương nghỉ phép phải trả trong năm cho cơng nhân

sản xuất kế tốn ghi tăng cho tài khoản chi phí NCTT và ghi tăng cho tài khoản chi

phí phải trả.

GVHD: Th.S Nguyễn Quỳnh Trang

SVTH: Lê Thùy Dung



Khóa luận tốt nghiệp

Khoa: Kế tốn – Kiểm tốn

+ Cuối kỳ kết chuyển chi phí nhân cơng trực tiếp theo đối tượng tập hợp chi

phí, kế tốn ghi tăng cho TK chi phí kinh doanh dở dang và ghi giảm cho tài khoản

chi phí nhân cơng trực tiếp.

- Tài khoản “chi phí sản xuất chung” – TK 627

Tài khoản này dùng để phản ánh chi phí phục vụ sản xuất, kinh doanh chung

phát sinh ở phân xưởng, bộ phận, đội. . . phục vụ sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch

vụ gồm: Lương nhân viên quản lý phân xưởng, bộ phận, đội...khoản trích bảo hiểm

xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí cơng đồn được tính theo t lệ quy định trên tiền

lương phải trả của nhân viên phân xưởng, bộ phận, đội sản xuất

Sơ đồ1.3 Sơ đồ hạch toán TK 627: “Chi phí sản xuất chung” ( Phụ lục 1.3)

+ Khi tính tiền lương, tiền cơng, các khoản phụ cấp phải trả cho cán bộ công

nhân viên phân xưởng, bộ phận sản xuất ghi tăng cho tài khoản CPSXC và ghi tăng

cho tài khoản phải trả cơng nhân viên.

Tính BHXH, BH T, KPCĐ của nhân viên phân xưởng bộ phận sản xuất kế

tốn ghi tăng TK chi phí SXC và ghi tăng tài khoản phải trả phải nộp khác.

+ Khi xuất dùng chung cho phân xưởng như sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ dùng

cho quản lý tổ đội sản xuất kế tốn ghi tăng TK chi phí SXC và ghi giảm cho TK

NVL.

+ Khi xuất dùng CCDC sản xuất có giá trị nhỏ cho hoạt động sản xuất phân

xưởng, bộ phận sản xuất, căn cứ vào phiếu xuất kho kế tốn ghi tăng cho TK chi phí

SXC và ghi giảm cho TK CCDC.

+ Khi xuất CCDC dùng cho sản xuất một lần có giá trị lớn phải phân bổ dần,

kế tốn ghi tăng cho TK chi phí trả trước và ghi giảm cho TK CCDC.

+ Khi phân bổ giá trị CCDC vào chi phí sản xuất chung, kế tốn ghi tăng cho

TK chi phí SXC và ghi giảm cho TK chi phí trả trước.

+ Trích khấu hao máy móc thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải do phân

xưởng sản xuất quản lý sử dụng ,kế toán ghi tăng tài khoản chi phí sản xuất chung,

đồng thời ghi giảm các TK liên quan 111,112,331,335.

- Trường hợp sử dụng phương pháp trích trước về chi phí sửa chữa TSCĐ

thuộc phân xưởng, bộ phận sản xuất quản lý sử dụng tính vào chi phí sản xuất

chung. Khi trích trước hoặc tính dần số chi phí sửa chữa, kế tốn ghi tăng chi phí

GVHD: Th.S Nguyễn Quỳnh Trang

SVTH: Lê Thùy Dung



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Nội dung nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x