Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CÁC KHOẢN THANH TOÁN VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CÁC KHOẢN THANH TOÁN VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Kế tốn – Kiểm tốn

Tóm lại “Tiền lương là số tiền mà chủ doanh nghiệp trả cho người lao động căn

cứ vào khối lượng, tính chất, và chất lượng lao động của từng người sau một thời

gian làm việc. Tiền lương là những khoản thu nhập chủ yếu dùng để bù đắp hao phí

về thời gian, về sức lực, về trí tuệ và tích lũy cho người lao động trong quá trình

làm việc tại doanh nghiệp”.

Chúng ta cần phân biệt giữa hai khái niệm tiền lương:

- Tiền lương danh nghĩa: là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người

lao động. Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc trực tiếp vào NSLĐ và hiệu quả làm

việc của người lao động, phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm làm việc…ngay trong

quá trình lao động.

- Tiền lương thực tế: là số lượng hàng hóa tiêu dùng và các loại dịch vụ cần thiết

mà người lao động hưởng lương có thể mua được bằng tiền lương danh nghĩa của họ.

1.1.1.2 Các khoản trích theo lương.

Ngồi tiền lương người lao động còn được hưởng các khoản trợ cấp thuộc phúc

lợi xã hội trong đó có trợ cấp bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo

hiểm thất nghiệp (BHTN), kinh phí cơng đồn (KPCĐ).

- Theo Điều 3 Luật BHXH: "Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù

đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm

đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động

hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH".

Nguồn hình thành bảo hiểm xã hội chủ yếu được trích lập theo tỷ lệ phần trăm

tính trên tiền lương phải trả cho người lao động. Trong đó các doanh nghiệp được

tính vào chi phí sản xuất kinh doanh một phần, một phần người lao động phải nộp.

Theo quy định hiện hành các doanh nghiệp phải trích BHXH 17% và thu từ người

lao động 8% tính trên lương cơ bản.

Về tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc, Điều 17, Nghị định 115/ 2015 quy định

từ ngày 1/1/2016 đến ngày 31/12/2017, tiền lương tháng đóng BHXH là mức lương và

phụ cấp lương theo quy định của pháp luật về lao động ghi trong hợp đồng lao động.

Từ ngày 1/1/2018 trở đi, tiền lương tháng đóng BHXH là mức lương, phụ cấp

lương và các khoản bổ sung khác theo quy định của pháp luật về lao động ghi trong

hợp đồng lao động.

- Bảo hiểm y tế là ngân quỹ được sử dụng để hỗ trợ chi cho việc khám chữa

bệnh cho người lao động trong doanh nghiệp.

SVTH: Hà Thị Ngọc



6

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam



Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Kế toán – Kiểm toán

Theo quy định hiện hành thì số trích lập BHYT là 4,5% tính trên lương cơ bản

của người lao động, trong đó doanh nghiệp tính trích vào chi phí sản xuất kinh

doanh 3%, còn 1,5% người lao động phải nộp.

- Bảo hiểm thất nghiệp là ngân quỹ được hình thành nhằm trợ cấp thất nghiệp

cho người lao động trong trường hợp bị mất việc làm, hỗ trợ học nghề, hỗ trợ tìm

việc làm và hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho người lao động.

Theo quy định hiện hành thì quỹ BHTN được hình thành từ 3 nguồn chủ yếu:

Người lao động đóng bằng 1% tiền lương tháng đóng BHTN, người sử dụng lao

động đóng bằng 1% tiền lương tháng đóng BHTN của những người lao động tham

gia BHTN, Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách 1% quỹ tiền lương của người lao động

tham gia BHTN và mỗi năm chuyển một lần.

- Kinh phí cơng đồn là khoản tiền để duy trì hoạt động của các tổ chức cơng

đồn đơn vị và cơng đồn cấp trên. Các tổ chức này hoạt động nhằm bảo vệ quyền

lợi và nâng cao đời sống của người lao động. Theo nghị định 191/2013 NĐ-CP

doanh nghiệp phải đóng mức kinh phí cơng đồn bằng 2% quỹ tiền lương để làm

căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động. Quỹ tiền lương này là tổng tiền

lương của người lao động thuộc đối tượng phải đóng bảo hiểm xã hội theo quy định

của pháp luật về đóng bảo hiểm xã hội. Phí cơng đồn được đóng mỗi tháng một

lần cùng thời điểm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động.

1.1.1.3 Các khoản thanh toán khác.

o Thuế thu nhập cá nhân (TNCN)

Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của mỗi cá nhân trong xã

hội phát sinh trong kỳ tính thuế (thường là một năm). Thuế TNCN phản ánh sự

đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa

kinh tế. Người chịu thuế thu nhập cá nhân khơng có khả năng chuyển giao gánh

nặng thuế khố sang cho các đối tượng khác tại thời điểm đánh thuế. Thuế TNCN là

một công cụ phân phối đảm bảo công bằng xã hội, là một công cụ đảm bảo nguồn

thu quan trọng cho ngân sách. Góp phần quan trọng trong điều tiết kinh tế vĩ mơ vì

thế ở mỗi thời kỳ kinh tế phát triển khác nhau Nhà nước sẽ điều chỉnh mức thuế

TNCN khác nhau để điều tiết vĩ mơ nền kinh tế sao cho phù hợp.

Thuế TNCN có diện đánh thuế rất rộng, thể hiện trên hai khía cạnh: một là đối

tượng đánh thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhân thuộc diện đánh

SVTH: Hà Thị Ngọc



7

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam



Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Kế tốn – Kiểm tốn

thuế khơng phân biệt thu nhập đó có nguồn gốc phát sinh trong nước hay ở nước

ngoài; hai là đối tượng phải kê khai nộp thuế TNCN là tồn bộ những người có thu

nhập, bao gồm tất cả công dân của nước sở tại và những người nước ngồi cư trú

thường xun hay khơng thường xuyên nhưng có số ngày có mặt, làm việc, có thu

nhập theo mức độ quy định của pháp luật thuế TNCN.

o Quỹ khen thưởng.

Là tổng số tiền doanh nghiệp trả cho người lao động nhằm mục đích nâng cao

năng suất lao động, rút ngắn thời gian làm việc. Tiền thưởng thực chất là những

khoản thu nhập ngoài lương mà doanh nghiệp trả cho người lao động.

- Đối tượng xét thưởng:

+ Lao động có thời gian làm việc tại doanh nghiệp từ một năm trở lên.

+ Có đóng góp vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty.

- Mức thưởng: mức thưởng một năm không thấp hơn một tháng theo

nguyên tắc sau :

+ Căn cứ vào kết quả của người lao động với doanh nghiệp thể hiện qua năng

suất lao động chất lượng công việc.

+ Căn cứ vào thời gian làm việc tại doanh nghiệp.

- Các loại tiền thưởng:

+ Tiền thưởng bao gồm tiền thưởng thi đua (lấy từ quỹ khen thưởng) và tiền

thưởng trong sản xuất kinh doanh (thưởng nâng cao chất lượng sản phẩm, thưởng

tiết kiệm vật tư, thưởng phát minh sang kiến,..)

+ Tiền thưởng trong sản xuất kinh doanh (thường xun): hình thức này có tính

chất lương, đây thực chất là một phần của quỹ lương được tách ra để trả cho người

lao động dưới hình thức tiền thưởng của một tiêu chí nhất định.

+ Tiền thưởng về chất lượng sản phẩm: được tính trên cơ sở tỷ lệ quy định

chung (không quá 40%) và sự chênh lệch giá sản phẩm cấp cao và sản phẩm cấp

thấp.

+ Tiền thưởng thi đua (không thường xuyên): khoản tiền này được trả dưới hình

thức phân loại trong một kỳ.

o Các khoản phụ cấp mang tính chất tiền lương.



SVTH: Hà Thị Ngọc



8

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam



Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Kế toán – Kiểm toán

-



Là các khoản tiền trả thêm cho người lao động do đảm nhiệm thêm trách



nhiệm quản lý hoặc làm việc trong các ngành nghề độc hại hoặc ca làm đêm.

- Phân loại phụ cấp:

+ Phụ cấp trách nhiệm: nhằm bù đắp cho những người vừa trực tiếp sản xuất

hoặc làm công việc chuyên môn nghiệp vụ, vừa kiêm nhiệm cơng tác quản lý hoặc

những người đòi hỏi tách nhiệm cao chưa được xác định trong mức lương. Phụ cấp

trách nhiệm được tính và trả cùng trong lương tháng.

+ Phụ cấp thu hút: áp dụng với CBCNV đến làm việc tại vùng kinh tế mới, cơ

sở kinh tế và các đảo xa có điều kiện sinh hoạt đặc biệt khá khăn do chưa có cơ sở

hạ tầng ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần của người lao động.

+ Phụ cấp khác: là số tiền doanh nghiệp trả cho người lao động ngoài tiền

lương, thưởng gồm: phụ cấp làm thêm giờ, phụ cấp độc hại,…

 Quỹ phúc lợi:

- Quỹ phúc lợi là những khoản tiền người lao động nhận được người những

khoản lương, thưởng đã thỏa thuận nhằm hỗ trợ đời sống cho người lao động. Quỹ

phúc lợi có tác dụng động viên tinh thần của cán bộ cơng nhân viên, làm người lao

động gắn bó với công ty, nâng cao đời sống vật chất tinh thần.

 Các khoản khác:

- Khoản bồi thường vật chất: Trong quá trình sản xuất, người lao động làm hư

hại tới tài sản của công ty, hoặc làm mất mát, thất thốt tài sản thì phải bồi thường

theo quy định tại công ty.

- Tiền tạm ứng khấu trừ vào lương: Gồm tạm ứng tiền lương vì lý do cơng việc

mà chưa sử dụng hết hoặc tạm ứng tiền lương tháng sẽ được khấu trừ trực tiếp vào

tiền lương.

Ngồi ra còn có các khoản khác như: tiền điện, tiền nước, thuê nhà do công ty

trả thay cho người lao động.



SVTH: Hà Thị Ngọc



9

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam



Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Kế toán – Kiểm toán

1.1.2.Nội dung các khoản thanh toán với người lao động trong doanh nghiệp.

1.1.2.1. Quỹ tiền lương.

- Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ tiền lương của doanh nghiệp trả

cho tất cả các loại lao động thuộc doanh nghiệp quản lý và sử dụng. Quỹ tiền lương

của doanh nghiệp bao gồm tất cả các khoản tiền lương, tiền cơng và các khoản phụ

cấp có tính chất tiền lương (tiền ăn giữa ca, tiền hỗ trợ phương tiện đi lại, tiền quần

áo đồng phục ...) mà doanh nghiệp trả cho các loại lao động thuộc doanh nghiệp

quản lý.

- Thành phần quỹ lương của doanh nghiệp gồm các khoản:

+ Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian làm việc thực tế (tiền

lương theo thời gian, tiền lương sản phẩm và tiền lương khoán).

+ Tiền lương trả cho người lao động sản xuất ra sản phẩm hỏng trong phạm vi

chế độ quy định.

+ Tiền lương trả cho người lao động trong phạm vi thời gian ngừng sản xuất do

nguyên nhân khách quan, trong thời gian được điều động đi công tác, làm nghĩa vụ

theo chế độ quy định, thời gian nghỉ phép, thời gian đi học.

+ Tiền ăn trưa, ăn ca.

+ Các loại phụ cấp thường xuyên (phụ cấp làm thêm giờ, phụ cấp dạy nghề,

phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp thâm niên,…)

+ Các khoản tiền thưởng có tính chất thường xun : để phục vụ cho cơng tác

hạch tốn tiền lương trong doanh nghiệp, có thể chia thành hai loại: tiền lương

chính và tiền lương phụ.

Tiền lương chính là tiền lương doanh nghiệp trả cho người lao động trong thời

gian lao động thực hiên nhiệm vụ chính của họ, gồm tiền lương trả theo cấp bậc và

phụ cấp kèm theo như phụ cấp trách nhiệm: phụ cấp khu vực, phụ cấp thâm niên,…

Tiền lương phụ là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian người lao

động thực hiện nhiệm vụ khác ngoài nhiệm vụ chính và thời gian lao động nghỉ

phép nghỉ tết, nghỉ vì ngừng sản xuất,… được hưởng theo chế độ.



SVTH: Hà Thị Ngọc



10

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam



Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Kế tốn – Kiểm tốn

1.1.2.2. Các hình thức trả lương.

 Hình thức trả lương theo thời gian:

Theo hình thức này việc tính trả lương cho nhân viên theo thời gian làm việc,

theo ngành nghề và trình độ nghiệp vụ, kỹ thuật, chun mơn của người lao động.

Tùy theo tính chất lao động khác nhau mà mỗi ngành nghề cụ thể có một thang

lương riêng. Hình thức trả lương theo thời gian có nhược điểm vì nó chưa gắn thu

nhập với kết quả lao động mà họ đạt được trong thời gian làm việc.

Tùy theo yêu cầu và trình độ quản lý thời gian lao động người ta trả lương theo

hai chế độ:

o



Chế độ trả lương theo thời gian giản đơn:



Theo chế độ này tiền lương nhận được của mỗi người lao động là do bậc lương

cao hay thấp, thời gian làm việc thực tế nhiều hay ít quyết định.

Có ba hình thức trả lương theo thời gian giản đơn:

Lương tháng: Tính theo số lương cấp bậc tháng.

Mức lương tháng = lương cơ bản× hệ số lương + phụ cấp.

Lương ngày: áp dụng cho những cơng việc có thể chấm cơng theo ngày.

Mức lương ngày =



Mức lương tháng + Phụ cấp

Số ngày làm việc theo chế độ



+ Lương giờ: Căn cứ vào mức lương ngày, số giờ làm việc trong ngày. Lương

giờ dùng tính lương trả thuê cho người lao động do làm thêm ca thêm giờ.

Mức lương ngày

Số ngày làm việc theo chế độ



Mức lương giờ =



Ưu điểm: dễ tính, dễ trả lương cho người lao động. Người lao động có thể n

tâm làm việc vì tiền lương được trả cố định không phụ thuộc vào kết quả sản xuất

kinh doanh của doanh nghiệp. Tiền lương phụ thuộc vào thâm niên cơng tác. Thâm

niên càng nhiều thì tiền lương càng cao.

Nhược điểm: mang tính bình qn nên khơng khuyến khích được người lao

động tích cực trong cơng việc, sử dụng thười gian hợp lý, tiết kiệm nguyên vật liệu

và không quán triệt theo nguyên tắc phân phối lao động.

 Chế độ trả lương theo thời gian có thưởng:

SVTH: Hà Thị Ngọc



11

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam



Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Kế toán – Kiểm toán

Thực chất của việc trả lương này là sự kết hợp của hình thức trả lương theo thời

gian giản đơn với tiền thưởng khi người lao động đạt được những chỉ tiêu về số

lượng hay chất lượng đã quy định.

Tiền lương = lương theo thời gian lao động giản đơn + tiền thưởng

Để khắc phục hạn chế trên người ta áp dụng hình thức tiền lương có thưởng.

Tiền thưởng đóng vai trò khuyến khích người nhân viên nâng cao hiệu năng làm

việc. Hình thức trả lương này phản ánh trình độ thành thạo, vừa gắn chặt thành tích

cơng tác của từng người thơng qua các chỉ tiêu xét tuyển đã đạt được. Vì vậy

khuyến khích người lao động quan tâm đến trách nhiệm và kết quả công tác.

 Hình thức trả lương theo sản phẩm:

Là hình thức tiền lương trả cho người lao động dựa trực tiếp vào số lượng và

chất lượng sản phẩm (hay dịch vụ) cơng việc mà họ đã hồn thành đảm bảo u cầu

chất lượng và đơn giá tiền lương tính cho một đơn vị sản phẩm, cơng việc đó.

Phương pháp này được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp, nhất là các xí

nghiệp sản xuất.

Hình thức trả lương theo sản phẩm có nhiều ưu điểm hơn so với hình thức trả

lương theo thời gian và có tác dụng sau:

+ Quán triệt tốt nguyên tắc trả lương theo lao động vì tiền lương mà người lao

động nhận được phụ thuộc vào số lương, chất lượng sản phẩm mà họ hoàn thành.

Điều này có tác dụng làm tăng năng suất lao động.

+ Trả lương theo sản phẩm có tác dụng khuyến khích người lao động nâng cao

trình độ lao động, rèn luyện kĩ năng, phát huy sáng tạo… để nâng cao khả năng làm

việc và năng suất lao động.

+ Trả lương theo sản phẩm góp phần vào việc nâng cao và hồn thiện cơng tác

quản lý, nâng cao tính tự chủ, chú động trong làm việc của người lao động.

Tuy nhiên tiền lương trả theo sản phẩm có thể khơng khuyến khích việc tiết

kiệm nguyên vật liệu, bảo vệ máy móc thiết bị và có thể làm giảm tính tập thể giữa

các nhân viên.

o

-



Điều kiện để thực hiện trả lương theo sản phẩm bao gồm:

Kết quả của lao động phải thể hiện bằng số đo tự nhiên.

Có thể thống kê kết quả lao động một cách hiệu quả.

Có định mức lao động một cách chính xác.

Xác định đúng suất lương cấp bậc trả cho cơng việc đó.



SVTH: Hà Thị Ngọc



12

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam



Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Kế tốn – Kiểm tốn

Tùy theo đặc điểm tổ chức sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp mà có nhiều

cách trả lương sản phẩm khác nhau. Các chế độ tiền lương sản phẩm thường là:

o



Tiền lương sản phẩm trực tiếp cá nhân:



Chế độ tiền lương này áp dụng với công nhân hoạt động tương đối độc lập, tạo

ra những sản phẩm tương đối hoàn chỉnh và đòi hỏi có mức lao động áp dụng với

từng cá nhân.

Tiền lương sản phẩm trực tiếp cá nhân được xác định như sau:

Tiền lương sản phẩm = đơn giá tiền lương sản phẩm × khối lượng sản phẩm

Chế độ tiền lương này gắn trực tiếp tiền lương của từng cá nhân với kết quả lao

động của bản thân họ, do đó tạo ra sự khuyến khích cao đối với người lao động

nhằm nâng cao năng suất lao động. Tuy nhiên chế độ tiền lương bộc lộ rõ nhất

những nhược điểm của hình thức trả lương theo sản phẩm. Đó là: cơng nhân ít quan

tâm đến việc bảo vệ máy móc thiết bị, khơng chú ý đến tiết kiệm vật tư, nguyên vật

liệu, và không quan tâm đến kết quả chung của tập thể .

Vì vậy khi áp dụng chế độ tiền lương này doanh nghiệp cần phải có những quy

định chặt chẽ nhằm hạn chế những ảnh hưởng khơng tốt của chế độ tiền lương này.

o



Hình thức trả lương theo sản phẩm gián tiếp: Được áp dụng với các cơng



nhân phục vụ cho cơng nhân chính như cơng nhân bảo dưỡng máy móc thiết bị, vận

chuyển nguyên vật liệu thành phẩm,...

Tiền lương sản

phẩm gián tiếp



Đơn giá sản phẩm hồn

=



Đơn giá tiền lương gián tiếp



×



thành của cơng nhân sản



xuất chính

Chế độ trả cơng này khuyến khích cơng nhân phụ phục vụ tốt hơn cho hoạt



đơng của cơng nhân chính, góp phần nâng cao năng suất lao động của cơng nhân

chính. Tuy nhiên, tiền lương của cơng nhân phụ phụ thuộc vào kết quả làm việc của

cơng nhân chính mà kết quả này lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nên nó có thể

làm hạn chế sự cố gắng của công nhân phụ.

o



Chế độ trả công theo sản phẩm tập thể (Lsptt):



Hình thức này áp dụng với cơng việc cần tập thể cơng nhân hồn thành như lắp

ráp thiết bị hoặc sản xuất theo dây chuyền. Chế độ trả công theo sản phẩm tập thể

được thực hiện trong điều kiện khó có thể định mức lao động chính xác mà chỉ xác

SVTH: Hà Thị Ngọc



13

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam



Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Kế tốn – Kiểm tốn

định căn cứ vào số sản phẩm mà cả tập thể hoàn thành, áp dụng trả cơng cho một

nhóm người lao động khi họ hồn thành một khối lượng cơng việc nhất định.

Lsptt = ĐG x Q

Trong đó:

ĐG – là tiền lương trả cho tập thể lao động khi thực hiện một đơn vị sản phẩm.

Q – là Sản lượng chung của tập thể .

+ Ưu điểm: Khuyến khích cơng nhân trong tổ nhóm nâng cao trách nhiệm trước

tập thể, quan tâm đến kết quả cuối cùng của cả tổ.

Nhược điểm: Sản lượng của mỗi công nhân không trực tiếp quyết định tiền

cơng của họ mà nó phụ thuộc vào kết quả chung của cả tổ do đó nó hạn chế việc

tăng năng suất lao động cá nhân.

o



Chế độ trả công theo sản phẩm có thưởng (Lspct):



Chế độ trả cơng theo sản phẩm có thưởng là sự kết hợp giữa trả lương theo sản

phẩm và tiền thưởng. Tiền lương sản phẩm có thưởng được xác định như sau :

Lspct = Lsp + (mh/100 x Lsp)

Trong đó:

h là phần trăm hồn thành vượt mức

m: là phần trăm tiền thưởng so với sản phẩm cho 1 % hoàn thành vượt mức sản lượng

Chế độ tiền lương này khi áp dụng cần tính cho cả tháng để tránh tình trạng

trong tháng cơng nhân khơng đạt mức mà vẫn được hưởng tiền thưởng.

Ưu điểm : Khuyến khích cơng nhân hồn thành vượt mức chỉ tiêu được giao.

Nhược điểm: Việc phân tích tính tốn các chỉ tiêu xét thưởng, mức thưởng

nguồn thưởng khơng chính xác sẽ có thể làm tăng chi phí tiền lương.

o Chế độ trả cơng theo sản phẩm khốn:

Chế độ trả lương khốn áp dụng cho những cơng việc được giao khốn cho

cơng nhân, chế độ này được áp dụng khá phổ biến trong ngành nông nghiệp, xây

dựng cơ bản và một số ngành khác khi cơng nhân làm các cơng việc mang tính đột

xuất không thể định mức công việc một cách ổn định. Đơn giá giao khốn có thể

tính theo đơn vị cần hoàn thành như hoàn thành một số lượng doanh thu, lợi nhuận

bán hàng đã ghi trong phiếu giao khoán.



SVTH: Hà Thị Ngọc



14

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam



Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Kế toán – Kiểm toán

Nếu đối tượng giao khoán là tập thể, tổ nhóm thì tiền cơng nhận được sẽ sẽ

phân phối cho cơng nhân trong tổ nhóm giống như chế độ tiền cơng theo sản

phẩm tập thể.

Lương khốn = Đơn giá khốn × Khối lượng cơng việc hồn thành

Điều cần chú ý là khi xây dựng đơn giá khốn để bảo đảm chính xác cần phải tỉ

mỉ, chặt chẽ.

Sự khác biệt chế độ tiền lương này với chế độ tiền lương sản phẩm trực tiếp cá

nhân là người ta khơng kiểm sốt thời gian làm việc của người lao động mà miễn

sao họ hồn thành cơng việc theo đúng hạn định là được. Và khi hoàn thành khối

lượng khốn người lao động khơng nhất thiết phải làm thêm.

Trả lương theo sản phẩm khốn có tác dụng làm cho người lao động phat huy

sáng kiến và tich cực cải tiến lao động để tối ưu hóa q trình làm việc, giảm thời

gian lao động, hồn thành nhanh cơng việc giao khoán. Tuy nhiên việc xác định đơn

giá giao khoán phức tạp, nhiều khi khó chính xác. Việc trả sản phẩm khốn có thể

làm cho cơng nhân bi quan hay không chú ý đầy đủ đến một số việc bô phận trong

q trình hồn thành cơng việc giao khốn.

o Chế độ trả công theo sản phẩm lũy tiến.

Chế độ trả công theo sản phẩm lũy tiến thường được áp dụng trong nhưng khâu chủ

yếu của sản xuất . Đó là khâu có ảnh hưởng đến tồn bộ q trình sản xuất. Việc hồn tất

nhưng khâu này có liên quan đến việc hoàn thành vượt mức của doanh nghiệp.

Ưu điểm: Việc tăng đơn giá cho những sản phẩm vượt mức khởi điểm làm cho

cơng nhân tích cực làm việc tăng năng suất lao động.

Nhược điểm: Áp dụng chế độ này dễ làm cho chế độ tăng của tiền lương lớn

hơn tốc độ tăng của năng suất lao động của nhưng khâu áp dụng trả lương sản phẩm

lũy tiến.



 Hình thức trả lương theo doanh thu

Là sự kết hợp giữa hình thức trả lương theo thời gian và trả lương theo sản

phẩm. Theo hình thức này tiền lương được chia làm hai bộ phận:

o



Bộ phận lương cứng: Bộ phận này tương đối ổn định nhằm đảm bảo mức



thu nhập tối thiểu cho người lao động. Bộ phận này sẽ được quy định theo bậc

lương cơ bản và ngày công làm việc của người lao động.

SVTH: Hà Thị Ngọc



15

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam



Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Kế tốn – Kiểm tốn

o



Bộ phận lương mềm: Tùy thuộc vào năng suất chất lượng và hiệu quả lao



động của từng cá nhân người lao động và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Hình thức trả lương theo thu nhập trong các doanh nghiệp hiện nay là một trong

những hình thức trả lương theo doanh thu.

1.1.2.3. Vai trò ý nghĩa của tiền lương.

o Vai trò của tiền lương:

+ Tái sản xuất sức lao động

Sức lao động là yếu tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất để đảm bảo tái

sản xuất và sức lao động cũng như lực lượng sản suất xã hội, tiền lương cần thiết

phải đủ nuôi sống người lao động và gia đình họ. Đặc biệt là trong điều kiện lương

là thu nhập cơ bản.

Để thực hiện chức năng này, trước hết tiền lương phải được coi là giá cả sức lao

động. Thực hiện trả lương theo việc, không trả lương theo người, đảm bảo nguyên

tắc phân phối theo lao động. Mức lương tối thiểu là nền tảng của chính sách tiền

lương và tiền cơng, có cơ cấu hợp lí về sinh học, xã hội học …

Đồng thời người sử dụng lao động không được trả công thấp hơn mức lương tối

thiểu do Nhà nước qui định.

+ Kích thích sản xuất:

Lợi ích của người lao động là động lực của sản xuất. Chính sách tiền lương

đúng đắn là động lực to lớn nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người trong

việc thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội. Vì vậy tổ chức tiền lương và tiền cơng

thúc đẩy và khuyến khích người lao động nâng cao nâng suất, chất lượng và hiệu

quả của lao động bảo đảm sự công bằng và xã hội trên cơ sở thực hiện chế độ trả

lương. Tiền lương phải đảm bảo:

Khuyến khích người lao động có tài năng.

Nâng cao trình độ văn hoá và nghiệp vụ cho người lao động.

Khắc phục chủ nghĩa bình quân trong phân phối, biến phân phối trở thành một

động lực thực sự của sản xuất.

+ Vai trò thước đo giá trị:

Là cơ sở điều chỉnh giá cả cho phù hợp. Mỗi khi giá cả biến động, bao gồm cả

giá cả sức lao động hay nói cách khác tiền lương là giá cả sức lao động, là một bộ

SVTH: Hà Thị Ngọc



16

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CÁC KHOẢN THANH TOÁN VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x