Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

TẠI CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Các khoản giảm trừ doanh thu

Giảm giá hàng bán: Giảm giá hàng bán là khoản giảm trừ cho người mua do

hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.

Chiết khấu thương mại: Chiết khấu thương mại là khoản doanh nghiệp bán

giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn. Trường hợp mua

hàng nhiều lần mới đạt đến lượng hàng được hưởng chiết khấu thương mại thì

khoản chiết khấu thương mại này được ghi giảm trừ vào giá bán trên hóa đơn lần

cuối cùng.

Hàng bán bị trả lại: Hàng bán bị trả lại là giá trị khối lượng hàng bán đã xác

định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.

Chiết khấu thanh toán: Chiết khấu thanh toán là khoản tiền người bán giảm trừ

cho người mua, do người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn hợp đồng.

- Khái niệm Giá vốn hàng bán

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, muốn đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh

nghiệp thì phải quản lý chặt chẽ vốn kinh doanh, sử dụng hiệu quả nhất nguồn vốn

của doanh nghiệp. Muốn vậy doanh nghiệp phải xác định được một cách chính xác

nhất các khoản chi phí chi ra. Giá vốn hàng bán là một trong những khoản chi phí

chiếm tỷ trọng lớn nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh. Muốn quản lý chặt chẽ

và xác định đúng giá vốn thì trước hết doanh nghiệp phải nắm vững được sự hình

thành của giá vốn.

Theo Giáo trình “Kế tốn tài chính” trường Đại học Thương mại xuất bản năm

2010: “Giá vốn hàng bán là trị giá thực tế xuất kho của thành phẩm, hàng hóa được

xác định là tiêu thụ trong kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”.

Giá vốn hàng bán bao gồm:

+ Trị giá của sản phẩm, hàng hóa đã bán trong kỳ.

+ Số trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho.

+ Các khoản hao hụt, mất mát hàng tồn kho sau khi trừ đi phần bồi thường do

trách nhiệm cá nhân gây ra.

1.1.2. Đặc điểm hoạt động bán hàng

Trong doanh nghiệp thương mại, tiêu thụ hàng hóa được hiểu là hoạt động bán

hàng. Hoạt động bán hàng trong doanh nghiệp là một quá trình thực hiện chuyển



6



quyền sở hữu về hàng hóa cho khách hàng và thu tiền về. Đây cũng là hoạt động

chủ yếu của doanh nghiệp thương mại để tạo ra doanh thu cho doanh nghiệp. Công

tác bán hàng phản ánh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có tốt hay khơng.

Đặc điểm khác biệt cơ bản giữa doanh nghệp kinh doanh thương mại và doanh

nghiệp sản xuất là doanh nghiệp thương mại không trực tiếp tạo ra sản phẩm, nó

đóng vai trò trung gian môi giới cho người sản xuất và người tiêu dùng.

Hoạt động mua bán hàng của các doanh nghiệp thương mại có thể thực hiện

qua hai phương thức: bán bn và bán lẻ. Trong đó, bán bn là bán hàng cho các

đơn vị sản xuất kinh doanh để tiếp tục q trình lưu chuyền hàng hóa, còn bán lẻ là

bán hàng hóa cho người tiêu dùng, kết thúc q trình lưu chuyển hàng hóa.

Phương thức bán hàng

Hàng hóa bán bn và bán lẻ có thể thực hiện theo nhiều phương thức

khác nhau.

Bán bn hàng hóa là phương thức bán hàng chủ yếu của các đơn vị thương

mại, các doanh nghiệp sản xuất để thực hiện bán ra hoặc để gia công chế biến. Đặc

điểm của hàng buôn bán là hàng hóa vẫn trong lĩnh vực lưu thơng, chưa đưa vào

lĩnh vực tiêu dùng, do vậy giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa chưa được thực

hiện. Hàng hóa thường được bán buôn theo lô hoặc được bán với số lượng lớn, giá

biến động tùy thuộc vào khối lượng hàng bán và phương thức thanh tốn. Trong bán

bn bao gồm hai phương thức là bán bn hàng hóa qua kho và bán bn hàng

hóa vận chuyển thẳng.

Bán bn hàng hóa qua kho là phương thức bán bn hàng hóa mà trong đó

hàng phải được xuất từ kho bảo quản của doanh nghiệp. Bán bn hàng hóa qua

kho được thể hiện dưới hai hình thức :

Bán bn hàng hóa qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp : theo hình

thức này bên mua cử đại diện đến kho của bên bán để nhận hàng. Doanh nghiệp

thương mại xuất kho hàng hóa, giao trực tiếp cho đại diện bên mua. Sau khi đại

diện bên mua nhận đủ hàng, thanh toán tiền hoặc chứng từ nhận nợ, hàng hóa được

xác định là tiêu thụ.

Bán bn qua kho theo hình thức chuyển hàng : Theo hình thức này căn cứ

vào hợp đồng đã ký kết hoặc theo đơn đặt hàng doanh nghiệp thương mại xuất kho



7



hàng hóa, dùng phương tiện của mình hoặc phương tiện đi thuê ngoài chuyển hàng

đến kho của bên mua hoặc một địa điểm mà bên mua quy định trong hợp đồng.

Hàng hóa chuyển bán vẫn thuộc quyền sở hữu của bên doanh nghiệp thương mại,

chỉ khi nào bên mua kiểm nhận, thanh toán hoặc chấp nhận thanh tốn thì số hàng

chuyển giao mới được coi là tiêu thụ, người bán mất quyền sở hữu số hàng đã giao.

Chi phí vận chuyển do doanh nghiệp thương mại chịu hay bên mua chịu là do thỏa

thuận của hai bên. Nếu doanh nghiệp thương mại chịu chi phí vận chuyển, sẽ được

tính vào chi phí bán hàng. Nếu bên mua chịu sẽ phải thu tiền của bên mua.

Bán buôn hàng hóa vận chuyển thẳng là phương thức bán hàng mà doanh nghiệp

thương mại sau khi mua hàng, nhận hàng mua không đưa về nhập kho mà chuyển bán

thẳng cho bên mua. Phương thức này có thể thực hiện theo hai hình thức :

Bán bn hàng hóa vận chuyển thẳng theo hình thức giao hàng trực tiếp:

Doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng giao trực tiếp cho đại diện của bên mua

tại kho người bán. Sau khi giao nhận, đại diện bên mua ký nhận đủ hàng bên mua

đã thanh tốn hoặc chấp nhận nợ.

Bán bn hàng hóa vận chuyển thẳng theo hình thức chuyển hàng: theo hình

thức này doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng dùng phương tiện vận tải của

mình hoặc th ngồi vận chuyển hàng đến giao cho bên mua ở địa điểm đã được

thỏa thuận. Hàng hóa chuyển bán trong trường hợp này vẫn thuộc quyền sở hữu của

doanh nghiệp thương mại. Khi nhận tiền của bên mua thanh toán hoặc giấy báo của

bên mua đã nhận được hàng và chấp nhận thanh tốn thì hàng hóa chuyển đi mới

xác định là tiêu thụ.

Bán lẻ hàng hoá là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng, các

đơn vị kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính chất tiêu dùng nội

bộ. Đặc điểm là hàng hoá đã ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu

dùng, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hố đã được thưc hiện. Bán lẻ có thể thực

hiện dưới các hình thức sau:

Hình thức bán lẻ thu tiền tập trung: Là hình thức bán hàng mà trong đó, tách

rời nghiệp vụ thu tiền của người mua và nghiệp vụ giao hàng cho người mua. Mỗi

quầy hàng có một nhân viên thu tiền làm nhiệm vụ thu tiền của khách, viết các hố

đơn hoặc tích kê cho khách để khách đến nhận hàng ở quầy hàng do nhân viên bán



8



hàng giao. Căn cứ vào hố đơn và tích kê giao hàng cho khách hoặc kiểm kê hàng

hoá tồn quầy để xác định số lượng hàng đã bán trong ngày và lập báo cáo bán hàng.

Nhân viên thu tiền làm giấy nộp tiền và nộp tiền bán hàng cho thủ quỹ.

Hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp: Theo hình thức này, nhân viên bán hàng

trực tiếp thu tiền của khách và giao hàng cho khách. Cuối ngày nhân viên bán hàng

làm giấy nộp tiền và nộp tiền cho thủ quỹ. Đồng thời, kiểm kê hàng hoá tồn quầy để

xác định số lượng hàng đã bán trong ngày và lập báo bán hàng.

Hình thức bán hàng tự phục vụ: Khách hàng tự chọn lấy hàng hố, mang đến

bàn tính tiền và thanh toán tiền hàng. Nhân viên thu tiền kiểm hàng, tính tiền lập

hố đơn bán hàng và thu tiền của khách hàng.

Hình thức bán hàng trả góp: Người mua hàng được trả tiền mua hàng thành

nhiều lần cho DNTM, ngồi số tiền thu theo giá bán thơng thường còn thu thêm

người mua một khoản lãi do trả chậm.

Hình thức bán hàng tự động: Các doanh nghiệp sử dụng các máy bán hàng tự

động chuyên dùng cho một hoặc một vài loại hàng nào đó đặt ở các nơi cơng cộng

khách hàng sau khi bỏ tiền vào máy, máy tự động đẩy hàng cho người mua.

Phương thức gửi hàng đại lý bán hay ký gửi hàng hóa: DNSXTM giao hàng

cho cơ sở đại lý, ký gửi để cho cơ sở này trực tiếp bán hàng, bên nhận đại lý ký gửi

sẽ trực tiếp bán hàng, thanh toán tiền hàng và được hưởng hoa hồng đại lý bán, số

hàng chuyển giao cho các cơ sở đại lý, ký gửi vẫn thuộc về DNSXTM cho đến khi

DNSXTM được cơ sở đại lý, ký gửi thanh toán tiền hay chấp nhận thanh toán hoặc

thông báo về số hàng đã bán được, doanh nghiệp mới mất quyền sở hữu số hàng này.

Phương thức thanh toán

Sau khi giao hàng cho bên mua và nhận được chấp nhận thanh tốn bên bán

có thể nhận tiền hàng theo nhiều phương thức khác nhau tuỳ vào sự thoả thuận

giữa 2 bên mà lựa chọn các phương thức thanh tốn cho phù hợp. Có 3 phương

thức thanh tốn:

Phương thức thanh toán trực tiếp: Là phương thức thanh toán mà quyền sở

hữu về tiền tệ được chuyển từ người mua sang người bán sau khi quyền chuyển sở

hữu về hàng hóa bị chuyển giao.Thanh tốn trực tiếp có thể bằng tiền mặt, séc hoặc

có thể bằng hàng hố (nếu bán theo phương thức hàng đổi hàng). Theo phương thức

thanh toán này thì sự vận động của hàng hố gắn liền với sự vận động của tiền tệ.

9



Phương thức thanh toán trả chậm: Là phương thức thanh toán mà quyền sở

hữu về tiền tệ sẽ được chuyển giao sau một khoảng thời gian so với thời điểm

chuyển quyền sở hữu về hàng hố. Từ phương thức thanh tốn này hình thành

nên khoản nợ phải thu của khách hàng. Theo phương thức thanh tốn này thì sự

vận động của hàng hố, sự vận động của tiền tệ có khoảng cách về khơng gian và

thời gian.

Phương thức thanh toán trả trước: Là phương thức thanh toán mà quyền sở

hữu về tiền tệ sẽ được chuyển giao trước thời điểm giao nhận hàng hóa. Mục đích

của việc thanh tốn trước là để chắc chắn việc thực hiện hợp đồng mua hàng hóa

của khách hàng. Như vậy, theo phương thức thanh tốn này thì sự vận động của

hàng hóa và sự vận động của tiền cũng có khoảng cảnh về khơng gian và thời gian.

1.1.3. Yêu cầu quản lý kế toán bán hàng

- Xác định đúng phạm vi bán hàng

Theo quy định hiện hành để được coi là hàng bán phải thỏa mãn điều kiện:

+ Hàng hóa phải thơng qua q trình mua, bán, và thanh tốn theo một phương

thức nhất định.

+Hàng hóa phải được chuyển quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát từ doanh

nghiệp thương mại (bên bán) sang bên mua và doanh nghiệp đã thu được tiền hay

một loại hàng hóa khác hoặc được người mua chấp nhận nợ.

+ Hàng hóa bán ra phải thuộc diện kinh doanh của doanh nghiệp, doanh

nghiệp mua vào hoặc gia công chế biến rồi bán ra

Một số trường hợp sau cũng được coi là hàng bán

+ Hàng hóa xuất bán cho các đơn vị nội bộ có tổ chức kế tốn riêng.

+ Hàng hóa dùng để trao đổi lấy hàng hóa khác khơng tương tự về bản chất và

giá trị

+ Doanh nghiệp xuất hàng hóa của mình để tiêu dùng nội bộ

+ Hàng hóa xuất để biếu, tặng, để trả lương, trả thưởng cho cán bộ công nhân

viên, chia lãi cho các bên góp vốn hoặc đối tác kinh doanh.

- Quản lý về doanh thu bán hàng hóa, đây là cơ sở quan trọng để xác định

nghĩa vụ của daonh nghiệp với nhà nước, đồng thời là cơ sở để xác định chính xác

kết quả kinh doanh của doanh nghiệp thương mại. Trong nền kinh tế thị trường

quản lý doanh thu bao gồm:



10



+ Quản lý doanh thu thực tế: Doanh thu thực tế là doanh thu được tính theo

giá bán aghi trên hóa đơn hoặc hợp đồng bán hàng.

+ Quản lý các khoản giảm trừ doanh thu: Là các khoản phát sinh trong quá

trình bán hàng, theo quy định cuối kỳ được trừ khỏi doanh thu. Các khoản giảm trừ

doanh thu bao gồm:

Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém

phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.

Giá trị hàng bán bị trả lại: Là giá trị của khối lượng hàng hóa đã xác định là

tiêu thụ nhưng bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.

Chiết khấu thương mại: Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho

khách hàng mua hàng với khối lượng lớn.

+ Quản lý doanh thu thuần: Là doanh thu thực về bán hàng của doanh nghiệp

trong kỳ kế toán sau khi đã trừ các khoản giảm trừ doanh thu và là cơ sở xác định kế

tốn bán hàng.

- Quản lý tình hình thu tiền, tình hình cơng nợ và thanh tốn cơng nợ phải thu

ở người mua. Kế toán phải theo dõi chặt chẽ thời hạn thanh toán tiền hàng để kịp

thời thu hồi tiền ngay khi đến hạn để tránh bị chiếm dụng vốn kinh doanh.

- Quản lý giá vốn của hàng hóa đã tiêu thụ là cơ sở để xác định chính xác kết

quả bán hàng của doanh nghiệp.

(Theo giáo trình kế tốn hoạt động thương mại và dịch vụ trường Đại học

Thương Mại )

1.1.4. Nhiệm vụ của kế toán bán hàng

Bán hàng là khâu cuối cùng trong quá trình kinh doanh của một doanh nghiệp

thương mại, nó có vai trò vơ cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của

doanh nghiệp. Vì vậy để quản lý tốt nghiệp vụ này, kế toán nghiệp vụ bán hàng cần

phải thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

- Ghi chép phản ánh chính xác, kịp thời tình hình bán hàng của doanh nghiệp

cả về số lượng và giá trị theo từng, nhóm hàng.

- Phản ánh và giám đốc chính xác tình hình thu hồi tiền, tình hình cơng nợ và

thanh tốn cơng nợ phải thu của người mua.



11



- Tính tốn chính xác giá vốn của hàng hóa tiêu thụ, từ đó xác định chính xác

kết quả bán hàng.

Cung cấp các thông tin kinh tế cần thiết cho các bộ phận liên quan, trên cơ sở

đó có những biện pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động kinh doanh, giúp cho

ban giám đốc nắm được thực trạng, tình hình tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp

mình và kịp thời có những chính sách điều chỉnh thích hợp với thị trường. Định kỳ

tiến hành phân tích kinh tế đối với hoạt động bán hàng, thu thập và phân phối kết

quả của doanh nghiệp.

(Theo giáo trình kế tốn hoạt động thương mại và dịch vụ trường Đại học

Thương Mại )

1.2. Nội dung nghiên cứu kế toán bán hàng trong doanh nghiệp theo

chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam

1.2.1. Kế toán bán hàng theo chuẩn mực kế toán Việt Nam

Kế toán bán hàng theo chuẩn mực kế toán số 01 “Chuẩn mực chung”

Chuẩn mực này phản ánh các nguyên tắc, yêu cầu kế toán cơ bản, các yếu tố

của báo cáo tài chính. Doanh nghiệp cần tơn trọng một số quy định trong kế tốn

bán hàng:

Cơ sở dồn tích: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của Doanh nghiệp liên quan

đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ

kế tốn vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực

tế chi tiền hoặc tương đương tiền. Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ảnh

tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Trong

hoạt động bán hàng, doanh thu sẽ được ghi nhận ngay tại thời điểm phát sinh nghiệp

vụ, doanh thu được ghi nhận trong kỳ đó, khơng đợi đến kỳ tiếp theo khi nhận được

tiền thanh toán mới ghi nhận, làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doan của kỳ đó.

Vì việc ghi nhận doanh thu và chi phí có ảnh hưởng quyết định đến báo cáo

kết quả kinh doanh của Doanh nghiệp trong một kỳ, cơ sở kế tốn dồn tích được

xem là một nguyên tắc chính yếu đối với việc xác định lợi nhuận của Doanh nghiệp.

Lợi nhuận theo cơ sở dồn tích là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí; từ đó,

BCTC nói chung và BCKQKD nói riêng được lập trên cơ sở dồn tích phản ánh đầy

đủ (hay tuân thủ yêu cầu trung thực) các giao dịch kế tốn trong kỳ và từ đó, cho



12



phép tình trạng tái sản, nguồn vốn của một Doanh nghiệp một cách đầy đủ, hợp lý.

Hơn nữa, do khơng có sự trùng hợp giữa lượng tiền thu vào và doanh thu trong kỳ

và tồn tại chênh lệch giữa chi phí ghi nhận và lượng tiền chi ra trong một kỳ, kế

toán theo cơ sở dồn tích cho phép theo dõi các giao dịch kéo dài qua các kỳ khác

nhau, như nợ phải thu, nợ phải trả, khấu hao, dự phòng,...

Nguyên tắc phù hợp: Nguyên tắc phù hợp quy định việc ghi nhận doanh thu,

chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận

một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí

tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của kỳ

trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó.

Như vậy chi phí ghi nhận trong kỳ là tồn bộ các khoản chi phí liên quan đến

việc tạo ra doanh thu và thu nhập của kỳ đó, khơng phụ thuộc khoản chi phí đó

được chia ra trong thời kỳ nào.

Quy định hạch tốn phù hợp giữa doanh thu và chi phí nhằm xác định và đánh

giá đúng kết quả hoạt động kinh doanh của từng thời kỳ kế toán, giúp cho các nhà

quản trị có những quyết định kinh doanh đúng đắn và hiệu quả.

Trong kỳ kế tốn khi có nghiệp vụ bán hàng tạo ra doanh thu, kế toán cần xác

định được những khoản chi phí đi kèm theo để tạo ra doanh thu đó, như giá vốn

hàng bán, chi phí vận chuyển, chi phí quảng cáo…s

Nguyên tắc thận trọng: Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần

thiết để lập các ước tính kế tốn trong các điều kiện không chắc chắn. Nguyên tắc

này yêu cầu việc ghi tăng vốn chủ sở hữu chỉ được thực hiện khi có bằng chứng

chắc chắn, còn việc ghi giảm vốn chủ sở hữu phải được ghi nhận ngay từ khi có

chứng cứ về khả năng có thể xảy ra.

Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi:

- Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn;

- Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập;

- Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí;

- Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về

khả năng thu được lợi ích kinh tế;

- Chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng có thể về khả năng phát sinh.

Tuân thủ theo nguyên tắc thận trọng sẽ giúp cho DN bảo toàn nguồn vốn, hạn

chế rủi ro và tăng khả năng hoạt động liên tục.

13



Khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, luôn có những rủi ro tồn tại mà

doanh nghiệp khơng lường hết được, đặc biệt là trong lĩnh vực bán hàng, doanh

nghiệp cần lập dự phòng để khắc phục và hạn chế những tình huống khơng mong

muốn xảy ra như hàng hóa giảm giá do khơng hợp thị hiếu hoặc do hàng hóa của

doanh nghiệp xuống cấp. Một số khoản nợ xấu từ khách hàng chưa thu hồi được

cũng cần lập dự phòng.

Ngun tắc nhất qn: Các chính sách và phương pháp kế toán doanh nghiệp

đã chọn phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế tốn năm. Trường

hợp có thay đổi chính sách và phương pháp kế tốn đã chọn thì phải giải trình lý do

và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.

Như vậy trong một kỳ kế tốn năm, đơn vị phải thực hiện nhất quán đối với

các phương pháp kế toán đã lựa chọn ảnh hưởng tới kế tốn bán hàng như: phương

pháp tính trị giá hàng xuất kho.

Kế toán bán hàng theo chuẩn mực kế toán số 02 “Hàng tồn kho”

Chuẩn mực kế toán VAS 02 quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương

pháp kế toán hàng tồn kho. Để xác định được trị giá hàng tồn kho và trị giá hàng

bán chính xác thì các yếu tố liên quan vào quá trình hạch tốn hàng bán, hàng tồn

kho phải chính xác, từ đó làm căn cứ lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho.

Việc tính giá trị HTK trong kế tốn bán hàng được áp dụng một trong các

phương pháp sau:

Phương pháp tính giá theo giá đích danh: Theo phương pháp này sản phẩm,

vật tư, hàng hố xuất kho thuộc lơ hàng nhập nào thì lấy đơn giá nhập kho của lơ

hàng đó để tính.

Ưu điểm: Đây là phương án tốt nhất, nó tn thủ ngun tắc phù hợp của kế

tốn; chi phí thực tế phù hợp với doanh thu thực tế. Giá trị của hàng xuất kho đem

bán phù hợp với doanh thu mà nó tạo ra. Hơn nữa, giá trị hàng tồn kho được phản

ánh đúng theo giá trị thực tế của nó.

Nhược điểm: Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi những điều

kiện khắt khe, chỉ những doanh nghiệp kinh doanh có ít loại mặt hàng, hàng tồn kho

có giá trị lớn, mặt hàng ổn định và loại hàng tồn kho nhận diện được thì mới có thể

áp dụng được phương pháp này. Còn đối với những doanh nghiệp có nhiều loại

hàng thì khơng thể áp dụng được phương pháp này.



14



Phương pháp bình quân gia quyền: Theo phương pháp này giá trị của từng

loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho đầu

kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Phương pháp

bình qn có thể được tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lơ hàng, phụ

thuộc vào tình hình của doanh nghiệp.

Theo giá bình quân gia quyền cuối kỳ (tháng)

Theo phương pháp này, đến cuối kỳ mới tính trị giá vốn của hàng xuất kho

trong kỳ. Tuỳ theo kỳ dự trữ của doanh nghiệp áp dụng mà kế toán hàng tồn kho

căn cứ vào giá nhập, lượng hàng tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ để tính giá đơn vị

bình quân:

Đơn giá xuất kho bình quân trong kỳ của một loại sản phẩm = (Giá trị hàng

tồn đầu kỳ + Giá trị hàng nhập trong kỳ) / (Số lượng hàng tồn đầu kỳ + Số lượng

hàng nhập trong kỳ)

Ưu điểm: Đơn giản, dễ làm, chỉ cần tính tốn một lần vào cuối kỳ.

Nhược điểm: Độ chính xác khơng cao, hơn nữa, cơng việc tính tốn dồn vào

cuối tháng gây ảnh hưởng đến tiến độ của các phần hành khác. Ngoài ra, phương

pháp này chưa đáp ứng yêu cầu kịp thời của thơng tin kế tốn ngay tại thời điểm

phát sinh nghiệp vụ.

Theo giá bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập (bình quân thời điểm)

Sau mỗi lần nhập sản phẩm, vật tư, hàng hoá, kế toán phải xác định lại giá trị

thực của hàng tồn kho và giá đơn vị bình quân. Giá đơn vị bình quân được tính theo

cơng thức sau:

Đơn giá xuất kho lần thứ i = (Trị giá vật tư hàng hóa tồn đầu kỳ + Trị giá vật

tư hàng hóa nhập trước lần xuất thứ i)/(Số lượng vật tư hàng hóa tồn đầu kỳ + Số

lượng vật tư hàng hóa nhập trước lần xuất thứ i)

Ưu điểm: là khắc phục được những hạn chế của phương pháp bình quân gia

quyền cuối kỳ.

Nhược điểm: việc tính tốn phức tạp, nhiều lần, tốn nhiều cơng sức. Do đặc

điểm trên mà phương pháp này được áp dụng ở các doanh nghiệp có ít chủng loại

hàng tồn kho, có lưu lượng nhập xuất ít.



15



Phương pháp nhập trước xuất trước: Phương pháp này áp dụng dựa trên giả

định là hàng được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước và giá trị hàng

xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập trước hoặc sản xuất trước và thực hiện

tuần tự cho đến khi chúng được xuất ra hết.

Ưu điểm: Phương pháp này giúp cho chúng ta có thể tính được ngay trị giá

vốn hàng xuất kho từng lần xuất hàng, do vậy đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời cho

kế toán ghi chép các khâu tiếp theo cũng như cho quản lý. Trị giá vốn của hàng tồn

kho sẽ tương đối sát với giá thị trường của mặt hàng đó. Vì vậy chỉ tiêu hàng tồn

kho trên báo cáo kế tốn có ý nghĩa thực tế hơn.

Nhược điểm: phương pháp này có nhược điểm là làm cho doanh thu hiện tại

không phù hợp với những khoản chi phí hiện tại. Theo phương pháp này, doanh thu

hiện tại được tạo ra bởi giá trị sản phẩm, vật tư, hàng hố đã có được từ cách đó rất

lâu. Đồng thời nếu số lượng chủng loại mặt hàng nhiều, phát sinh nhập xuất liên tục

dẫn đến những chi phí cho việc hạch tốn cũng như khối lượng cơng việc sẽ tăng

lên rất nhiều.

Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho theo Chuẩn mực kế toán số 02 và thơng

tư 200/2014/TT-BTC ban hành ngày 22/12/2014 :

Cuối kỳ kế tốn năm, khi giá trị thuần có thể thực hiện được của HTK nhỏ

hơn giá gốc thì phải lập dự phòng giảm giá HTK. Số dự phòng giảm giá HTK

phải lập là số chênh lệch giữa giá gốc của HTK lớn hơn giá trị thuần có thể thực

hiện được của chúng.

Nguyên tắc kế tốn dự phòng giảm giá hàng tồn kho:

Doanh nghiệp trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập khi có những

bằng chứng tin cậy về sự suy giảm của giá trị thuần có thể thực hiện được so với giá

gốc của hàng tồn kho. Dự phòng là khoản dự tính trước để đưa vào chi phí sản xuất

kinh doanh phần giá trị bị giảm xuống thấp hơn giá trị đã ghi sổ kế toán của hàng

tồn kho và nhằm bù đắp các khoản thiệt hại thực tế xảy ra do vật tư, sản phẩm, hàng

hóa tồn kho bị giảm giá.

Dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập vào thời điểm lập báo cáo tài chính.

Việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải được thực hiện theo đúng các quy

định của chuẩn mực kế toán về hàng tồn kho.



16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TẠI CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x