Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Cơ sở lý luận chung về kế toán bán hàng trong doanh nghiệp

1 Cơ sở lý luận chung về kế toán bán hàng trong doanh nghiệp

Tải bản đầy đủ - 0trang

Các khoản giảm trừ doanh thu

Giảm giá hàng bán: Giảm giá hàng bán là khoản giảm trừ cho người mua do

hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.

Chiết khấu thương mại: Chiết khấu thương mại là khoản doanh nghiệp bán giảm

giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn. Trường hợp mua hàng

nhiều lần mới đạt đến lượng hàng được hưởng chiết khấu thương mại thì khoản chiết

khấu thương mại này được ghi giảm trừ vào giá bán trên hóa đơn lần cuối cùng.

Hàng bán bị trả lại: Hàng bán bị trả lại là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định

là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.

Chiết khấu thanh toán: Chiết khấu thanh toán là khoản tiền người bán giảm trừ

cho người mua, do người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn hợp đồng.

Giá vốn hàng bán

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, muốn đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh

nghiệp thì phải quản lý chặt chẽ vốn kinh doanh, sử dụng hiệu quả nhất nguồn vốn của

doanh nghiệp. Muốn vậy doanh nghiệp phải xác định được một cách chính xác nhất các

khoản chi phí chi ra. Giá vốn hàng bán là một trong những khoản chi phí chiếm tỷ trọng

lớn nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh. Muốn quản lý chặt chẽ và xác định đúng

giá vốn thì trước hết doanh nghiệp phải nắm vững được sự hình thành của giá vốn.

Theo Giáo trình “Kế tốn tài chính” trường Đại học Thương mại xuất bản năm

2010: “Giá vốn hàng bán là trị giá thực tế xuất kho của thành phẩm, hàng hóa được

xác định là tiêu thụ trong kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”.

Giá vốn hàng bán bao gồm:

+ Trị giá của sản phẩm, hàng hóa đã bán trong kỳ.

+ Số trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho.

+ Các khoản hao hụt, mất mát hàng tồn kho sau khi trừ đi phần bồi thường do

trách nhiệm cá nhân gây ra.

1.1.2 Các phương thức bán hàng và các phương thức thanh toán

1.1.2.1 Các phương thức bán hàng

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay,việc lựa chọn áp dụng các

phương thức bán hàng và các chính sách khuyến khích tiêu thụ góp phần quan trọng

vào việc thực hiện kế hoạch bán hàng,đồng thời giúp cho doanh nghiệp có cơ sở mở

rộng,chiếm lĩnh thị trường.Phương thức bán hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử

7



dụng các tài khoản kế tốn phản ánh tình hình xuất kho hàng hóa,đồng thời nó quyết

định đối với việc xác định thời điểm bán hàng, hình thành doanh thu bán hàng và tiết

kiệm chi phí bán hàng để tăng lợi nhuận.

Phương thức bán bn hàng hóa

Đặc điểm của hàng hố bán bn là hàng hố vẫn nằm trong lĩnh vực lưu thông,

chưa đi vào lĩnh vực tiêu dùng, do vậy giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá chưa

được thực hiện. Hàng bán buôn thường được bán theo lô hàng hoặc bán với số lượng

lớn. Giá bán biến động tùy thuộc vào số lượng hàng bán và phương thức thanh tốn.

Trong bán bn thường bao gồm 2 phương thức:

Bán bn hàng hố qua kho

Bán bn hàng hố qua kho là phương thức bán bn hàng hố mà trong đó hàng

bán phải được xuất từ kho bảo quản của doanh nghiệp. Có 2 hình thức bán bn hàng

hố qua kho:

+ Bán bn hàng hố qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp: Theo hình thức

này, bên mua cử đại diện đến kho của bên bán để nhận hàng. Doanh nghiệp thương mại

xuất kho hàng hoá, giao trực tiếp cho đại diện bên mua. Khi đại diện bên mua nhận đủ

hàng, thanh tốn tiền hoặc chấp nhận nợ thì hàng hố được xác định là tiêu thụ.

+ Bán bn qua kho theo hình thức chuyển hàng: Theo hình thức này, căn cứ vào

hợp đồng đã ký kết hoặc theo đơn đặt hàng, doanh nghiệp thương mại xuất kho hàng hố,

dùng phương tiện của mình hoặc đi th ngồi, chuyển hàng đến kho của bên mua hoặc

một địa điểm mà bên mua quy định trong hợp đồng. Khi bên mua nhận hàng và thanh

tốn hoặc chấp nhận thanh tốn thì số hàng chuyển giao mới được coi là tiêu thụ, người

bán mất quyền sở hữu với số hàng đó. Chi phí vận chuyển do doanh nghiệp thương mại

hay bên mua chịu là do sự thỏa thuận thống nhất giữa hai bên trước khi vận chuyển hàng.

Bán bn hàng hố vận chuyển thẳng

Doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng, nhận hàng mua không đưa về nhập

kho mà chuyển bán thẳng cho bên mua. Phương thức này thực hiện theo hai hình thức:

+ Bán bn hàng hố vận chuyển thẳng theo hình thức giao hàng trực tiếp (hình

thức giao tay ba): Doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng, giao trực tiếp cho đại

diện của bên mua tại kho người bán. Sau khi giao, nhận, đại diện bên mua ký nhận đủ

hàng bên mua đã thanh toán tiền hoặc chấp nhận nợ, hàng hoá được xác nhận là tiêu thụ.

+ Bán bn hàng hố vận chuyển thẳng theo hình thức chuyển hàng: Doanh

nghiệp sau khi mua hàng nhận hàng mua, sử dụng phương tiện vận tải của mình hoặc

8



th ngồi vận chuyển hàng đến giao cho bên mua ở địa điểm đã được thoả thuận. Hàng

hoá chuyển bán trong trường hợp này vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thương

mại. Khi nhận tiền của bên mua thanh toán hoặc giấy báo của bên mua đã nhận được

hàng và chấp nhận thanh tốn thì hàng hố chuyển đi mới được xác định là tiêu thụ.

Phương thức bán lẻ hàng hóa

Bán lẻ hàng hoá là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng, các tổ

chức kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính chất tiêu dùng nội bộ.

Đặc điểm của bán hàng theo phương thức này là hàng hoá đã ra khỏi lĩnh vực lưu

thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá đã được thưc

hiện. Bán lẻ thường bán đơn chiếc hoặc bán với số lượng nhỏ, giá bán thường ổn định.

Bán lẻ có thể thực hiện dưới các hình thức:

Hình thức bán lẻ thu tiền tập trung: Bán lẻ thu tiền tập trung là hình thức bán

hàng mà trong đó nghiệp vụ thu tiền của người mua và nghiệp vụ giao hàng cho người

mua được tách rời. Mỗi quầy hàng có một nhân viên thu tiền làm nhiệm vụ thu tiền

của khách hàng, viết các hố đơn hoặc tích kê cho khách để khách đến nhận hàng ở

quầy hàng do nhân viên bán hàng giao. Nhân viên bán hàng phải căn cứ vào hố đơn

và tích kê giao hàng cho khách hoặc kiểm kê hàng hoá tồn trong quầy để xác định chi

tiết số lượng hàng đã bán trong ngày và lập báo cáo bán hàng. Nhân viên thu tiền làm

giấy nộp tiền và nộp tiền bán hàng cho thủ quỹ.

Hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp: Theo hình thức này, nhân viên bán hàng trực

tiếp thu tiền của khách và giao hàng cho khách. Cuối ngày nhân viên bán hàng làm

giấy nộp tiền và nộp tiền cho thủ quỹ. Đồng thời, kiểm kê hàng hoá tồn quầy để xác

định số lượng hàng đã bán trong ngày và lập báo cáo bán hàng.

Hình thức bán hàng tự phục vụ (tự chọn): Khách hàng tự chọn lấy hàng hoá,

mang đến quầy thanh toán và thanh toán tiền hàng. Nhân viên thu tiền kiểm hàng, tính

tiền, lập hố đơn bán hàng và thu tiền của khách hàng. Hình thức này được áp dụng

phổ biến tại các siêu thị.

Hình thức bán hàng tự động: Các doanh nghiệp sử dụng các máy bán hàng tự

động chuyên dùng cho một hoặc một vài loại hàng nào đó đặt ở các nơi công cộng.

Khách hàng sau khi bỏ tiền vào máy, máy sẽ tự động đẩy hàng cho người mua.

Phương thức gửi hàng đại lý bán hay ký gửi hàng hóa

Gửi đại lý bán hay ký gửi hàng hóa là hình thức bán hàng mà trong đó doanh

nghiệp thương mại giao hàng cho cơ sở đại lý, ký gửi để các cơ sở này trực tiếp bán

9



hàng. Bên nhận làm đại lý, ký gửi sẽ trực tiếp bán hàng, thanh toán tiền hàng và được

hưởng hoa hồng đại lý, số hàng chuyển giao cho các cơ sở đại lý, ký gửi vẫn thuộc

quyền sở hữu của doanh nghiệp thương mại cho đến khi doanh nghiệp thương mại

được cơ sở đại lý, ký gửi thanh toán tiền hay chấp nhận thanh tốn hoặc thơng báo về

số hàng đã bán được, doanh nghiệp mới mất quyền sở hữu số hàng này.

Phương thức bán hàng trả chậm trả góp

Bán hàng theo trả chậm, trả góp là phương thức bán hàng thu tiền nhiều lần,

người mua thanh tóan lần đầu ngay tại thời điểm mua. Số tiền còn lại, người mua chấp

nhận trả dần ở các kỳ tiếp theo và phải chịu mặt tỷ lệ lãi xuất nhất định. Xét về bản

chất, hàng bán trả chậm trả góp vẫn được quyền sở hữu của đơn vị bán, nhưng quyền

kiểm soát tái sản và lợi ích kinh tế sẽ thu được của tài sản đã được chuyển giao cho

người mua. Vì vậy, doanh nghiệp thu nhận doanh thu bán hàng theo giá bán trả ngay

và ghi nhận vào doanh thu hoạt động tài chính phần lãi trả chậm tính trên khoản phải

trả nhưng trả chậm, phù hợp với thời điểm ghi nhận doanh thu được xác nhận.

1.1.2.2 Các phương thức thanh toán

Phương thức thanh toán là cách thức mà các doanh nghiệp thương mại thanh toán

sau khi giao hàng cho bên mua và được chấp nhận thanh tốn thì bên bán có thể nhận

tiền hàng theo nhiều phương thức khác nhau tuỳ thuộc vào sự tín nhiệm, thoả thuận

giữa hai bên mà lựa chọn phương thức cho phù hợp. Hiện nay các doanh nghiệp

thương mại thường áp dụng các phương thức sau:

Phương thức thanh toán trực tiếp

Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển từ người

mua sang người bán ngay sau khi quyền sở hữu hàng hố được chuyển giao. Thanh

tốn trực tiếp có thể bằng tiền mặt, ngân phiếu, séc hoặc có thể bằng hàng hoá.

Phương thức thanh toán trả chậm

Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu tiền tệ sẽ được chuyển giao sau một

khoảng thời gian so với thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hố, do đó hình

thành khoản nợ phải thu của khách hàng. Nợ phải thu được hạch toán chi tiết cho từng

đối tượng phải thu và ghi chép cho từng lần thanh tốn. Theo hình thức này sự vận

động về hàng hố và tiền tệ có khoảng cách về khơng gian và thời gian

Phương thức thanh tốn trả trước

Là phương thức thanh toán mà người mua hàng thanh toán tiền hàng cho doanh

10



nghiệp trước khi nhận hàng. Mục đích của việc thanh tốn trước là để chắc chắn việc

thực hiện hợp đồng mua hàng hóa của khách hàng. Theo phương thức thanh tốn này

thì sự vận động của hàng hóa và sự vận động của tiền cũng có khoảng cách về khơng

gian và thời gian.

1.1.3 u cầu quản lý và nhiệm vụ của kế toán bán hàng trong các doanh nghiệp

Yêu cầu quản lý kế toán bán hàng

– Giám sát chặt chẽ hàng hóa tiêu thụ trên tất cả các phương diện: số lượng, chất

lượng.

– Tránh hiện tượng mất mát hư hỏng hoặc tham ơ lãng phí, kiểm tra tính hợp lý

của các khoản chi phí đồng thời phân bổ chính xác cho đúng hàng bán để xác định kết

quả kinh doanh.

– Phải quản lý chăt chẽ tình hình thanh tốn của khách hàng u cầu thanh tốn

đúng hình thức và thời gian tránh mất mát ứ đọng vốn.

Nhiệm vụ của kế toán bán hàng

Từ những yêu cầu chung của quá trình quản lý kinh tế, khi tổ chức cơng tác kế

tốn bán hàng được khoa học, hợp lý sẽ cung cấp những thơng tin có ích, kịp thời cho

nhà quản lý trong việc ra quyết định về việc lập kế hoạch về dự trữ hàng hóa và bán

hàng một cách phù hợp, có hiệu quả, muốn vậy kế toán bán hàng phải thực hiện nhiệm

vụ sau:

– Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính sách tình hình hiện có và sự biến

động của từng loại sản phẩm, hàng hóa theo chỉ tiêu số lượng, chất lượng chủng loại

và giá trị.

– Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời và chính xác các khoản doanh thu, các

khoản giảm từ doanh thu và chi phí của từng hoạt động trong doanh thu và chi phí của

từng hoạt động trong doanh nghiệp. Đồng thời theo dõi và đôn đốc các khoản phải thu

của khách hàng.

Cung cấp các thơng tin kế tốn phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính và định kì

phân tích hoạt động kinh tế liên quan đến quá trình bán hàng, xác định và phân phối

kết quả.



11



1.2 Kế toán bán hàng trong các doanh nghiệp theo chuẩn mực kế toán Việt

Nam và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành

1.2.1

Kế toán bán hàng theo các chuẩn mực kế toán Việt Nam

1.2.1.1 Chuẩn mực kế toán số 01

Chuẩn mực kế toán số 01 - Chuẩn mực chung (Ban hành và công bố theo Quyết

định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ tài chính)

Các nguyên tắc cơ bản cơ bản:

- Cơ sở dồn tích: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của DN liên quan đến tài sản,

nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào

thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc

tương đương tiền. Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ánh tình hình tài

chính của DN trong q khứ, hiện tại và tương lai.

- Giá gốc: Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc của tài sản được

tính theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp

lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận. Giá gốc của tài sản khơng được

thay đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể.

- Phù hợp: Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi

nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan

đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo

ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến

doanh thu của kỳ đó.

- Nhất qn: Các chính sách và phương pháp kế toán DN đã chọn phải được áp

dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế tốn năm. Trường hợp có thay đổi chính sách

và phương pháp kế tốn đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi

đó trong phần Thuyết minh báo cáo tài chính.

- Thận trọng: Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các

ước tính kế tốn trong các điều kiện khơng chắc chắn. Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi:

a) Phải lập các khoản dự phòng nhưng khơng lập q lớn.

b) Khơng đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập.

c) Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí.

Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả

năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về

khả năng phát sinh chi phí.

1.2.1.2



Chuẩn mực kế toán số 02

12



Chuẩn mực kế toán số 02 - Hàng tồn kho (Ban hành và công bố theo Quyết định

số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ tài chính).

Hàng tồn kho được ghi nhận theo nguyên tắc giá gốc. Có 4 phương pháp xác

định giá trị hàng tồn kho:

+ Phương pháp tính theo giá đích danh: Theo phương pháp này sản phẩm, vật

tư, hàng hố xuất kho thuộc lơ hàng nhập nào thì lấy đơn giá nhập kho của lơ hàng đó

để tính. Được áp dụng đối với doanh nghiệp có ít loại mặt hàng hoặc mặt hàng ổn định

và nhận diện được.

Ưu điểm: Đây là phương án tốt nhất, nó tuân thủ nguyên tắc phù hợp của kế tốn;

chi phí thực tế phù hợp với doanh thu thực tế. Giá trị của hàng xuất kho đem bán phù

hợp với doanh thu mà nó tạo ra. Hơn nữa, giá trị hàng tồn kho được phản ánh đúng

theo giá trị thực tế của nó.

Nhược điểm: Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi những điều kiện

khắt khe, chỉ những doanh nghiệp kinh doanh có ít loại mặt hàng, hàng tồn kho có giá

trị lớn, mặt hàng ổn định và loại hàng tồn kho nhận diện được thì mới có thể áp dụng

được phương pháp này. Còn đối với những doanh nghiệp có nhiều loại hàng thì khơng

thể áp dụng được phương pháp này.

- Phương pháp bình quân gia quyền: Giá trị của từng loại hàng tồn kho được tính

theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho tương tự đầu kỳ và giá trị từng loại hàng

tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Giá trị trung bình có thể được tính theo thời kỳ

hoặc vào mỗi khi nhập một lơ hàng về, phụ thuộc vào tình hình của doanh nghiệp.

Theo giá bình quân gia quyền cuối kỳ (tháng)

Theo phương pháp này, đến cuối kỳ mới tính trị giá vốn của hàng xuất kho trong

kỳ. Tuỳ theo kỳ dự trữ của doanh nghiệp áp dụng mà kế toán hàng tồn kho căn cứ vào

giá nhập, lượng hàng tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ để tính giá đơn vị bình quân:

Đơn giá xuất kho bình quân trong kỳ của một loại sản phẩm = (Giá trị hàng tồn

đầu kỳ + Giá trị hàng nhập trong kỳ) / (Số lượng hàng tồn đầu kỳ + Số lượng hàng

nhập trong kỳ)

Ưu điểm: Đơn giản, dễ làm, chỉ cần tính tốn một lần vào cuối kỳ.

Nhược điểm: Độ chính xác khơng cao, hơn nữa, cơng việc tính tốn dồn vào cuối

tháng gây ảnh hưởng đến tiến độ của các phần hành khác. Ngoài ra, phương pháp này

chưa đáp ứng yêu cầu kịp thời của thơng tin kế tốn ngay tại thời điểm phát sinh

nghiệp vụ.

Theo giá bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập (bình quân thời điểm)

Sau mỗi lần nhập sản phẩm, vật tư, hàng hoá, kế toán phải xác định lại giá trị

13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Cơ sở lý luận chung về kế toán bán hàng trong doanh nghiệp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x