Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phương pháp tổng hợp dữ liệu

Phương pháp tổng hợp dữ liệu

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trường Đại Học Thương Mại



Khoa Kế Toán – Kiểm Toán



ty TNHH Sản xuất và Thương mại Việt Thái ở chương 3 này. Từ đó giúp doanh

nghiệp hồn thiện tốt cơng tác kế toán bán các sản phẩm dụng cụ nhà bếp để hoạt

động kinh doanh của doanh nghiệp tốt hơn.



SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo



xiv



MSV: 13D150045



Trường Đại Học Thương Mại



Khoa Kế Toán – Kiểm Toán

CHƯƠNG I:



CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP.

1.1. Một số lý luận chung về kế toán bán hàng trong doanh nghiệp.

1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về kế toán bán hàng trong các doanh

nghiệp.

+ Bán hàng

Theo chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập khác” đoạn 02(a), Bán

hàng được định nghĩa là: Bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra và bán hàng

hóa mua vào.

+ Khi bán hàng thành cơng mà kế tốn ta ghi nhận một khoản gọi là doanh

thu, vậy doanh thu là:

+ Khái niệm doanh thu và các khoản giảm trừ doanh thu

Mọi doanh nghiệp thương mại bán hàng đều mong muốn đạt được mục tiêu lợi

nhuận cao, bởi vậy mà doanh thu và các khoản giảm trừ doanh thu có tác động khá

là lớn lợi nhuận, phản ánh trực tiếp đến hiệu suất bán hàng.

Theo chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập khác” ban hành theo

Quyết định 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2011 của Bộ Tài chính thì Doanh thu và

các khoản giảm trừ doanh thu được định nghĩa như sau:

Doanh thu: Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được

trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của

doanh nghiệp góp phần tăng vốn chủ sở hữu.

(Theo chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập khác” đoạn 03)

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ:

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu được, hoặc sẽ

thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm, hàng

hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm các khoản phụ thu và phí thu thêm

ngồi giá bán (nếu có).

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thuần mà doanh nghiệp thực hiện

trong kỳ kế tốn có thể thấp hơn doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ ghi nhận

ban đầu do các nguyên nhân: Doanh nghiệp chiết khấu thương mại, giảm giá hàng đã

bán cho khách hàng hoặc hàng đã bán bị trả lại (do không đảm bảo điều kiện về quy



SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo



1



MSV: 13D150045



Trường Đại Học Thương Mại



Khoa Kế Toán – Kiểm Toán



cách, phẩm chất ghi trong hợp đồng kinh tế), và doanh nghiệp phải nộp thuế tiêu thụ

đặc biệt hoặc thuế xuất khẩu, thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp được tính trên

doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thực tế mà doanh nghiệp đã thực hiện trong

một kỳ kế tốn.

(Theo Thơng tư 89/2002/TT-BTC ngày 09/10/2002-Chương IV-phần 2.2(b))

Các khoản giảm trừ doanh thu

Khi bán hàng, còn phát sinh các khoản giảm trừ doanh thu, tức các khoản theo

quy định cuối kỳ được trừ khỏi doanh thu thực tế, bao gồm chiết khấu thương mại,

giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại. Theo chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu

và thu nhập khác” đoạn 03 nêu rõ khái niệm các khoản giảm trừ doanh thu như sau:

- Giảm giá hàng bán: Giảm giá hàng bán là khoản giảm trừ cho người mua do

hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.

- Chiết khấu thương mại: Chiết khấu thương mại là khoản doanh nghiệp bán

giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn. Trường hợp mua

hàng nhiều lần mới đạt đến lượng hàng được hưởng chiết khấu thương mại thì

khoản chiết khấu thương mại này được ghi giảm trừ vào giá bán trên hóa đơn lần

cuối cùng.

- Hàng bán bị trả lại: Hàng bán bị trả lại là giá trị khối lượng hàng bán đã xác

định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.

- Chiết khấu thanh toán: Chiết khấu thanh toán là khoản tiền người bán

giảm trừ cho người mua, do người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn

hợp đồng.

+ Giá vốn hàng bán

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, muốn đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh

nghiệp thì phải quản lý chặt chẽ vốn kinh doanh, sử dụng hiệu quả nhất nguồn vốn của

doanh nghiệp. Muốn vậy doanh nghiệp phải xác định được một cách chính xác nhất các

khoản chi phí chi ra. Giá vốn hàng bán là một trong những khoản chi phí chiếm tỷ trọng

lớn nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh. Muốn quản lý chặt chẽ và xác định đúng giá

vốn thì trước hết doanh nghiệp phải nắm vững được sự hình thành của giá vốn.

Theo Giáo trình “Kế tốn tài chính” trường Đại học Thương Mại tác giả

Nguyễn Tuấn Duy, Đặng Thị Hoài chủ biên - Nhà xuất bản Thống kê năm 2010 thì:



SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo



2



MSV: 13D150045



Trường Đại Học Thương Mại



Khoa Kế Toán – Kiểm Toán



“Giá vốn hàng bán là trị giá thực tế xuất kho của thành phẩm, hàng hóa được xác

định là tiêu thụ trong kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”.

Giá vốn hàng bán bao gồm:

+ Trị giá của sản phẩm, hàng hóa đã bán trong kỳ.

+ Số trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho.

+ Các khoản hao hụt, mất mát hàng tồn kho sau khi trừ đi phần bồi thường do

trách nhiệm cá nhân gây ra.

1.1.2.Đặc điểm, yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán bán hàng trong doanh

nghiệp.

1.1.2.1-Đặc điểm của kế toán bán hàng trong doanh nghiệp.

Đối tượng bán hàng trong doanh nghiệp thương mại

Doanh nghiệp thương mại làm nhiệm vụ lưu chuyển hàng hoá phục vụ cho sản

xuất và tiêu dùng vì vậy đối tượng bán hàng của doanh nghiệp thương mại bao

gồm:

+ Bán cho sản xuất.

+ Bán trực tiếp cho người tiêu dùng.

+ Bán trong hệ thống thương mại.

+ Bán xuất khẩu.

- Q trình này hồn tất khi hàng hoá đã giao cho người mua và đã thu được

tiền bán hàng. Quá trình này diễn ra đơn giản hay phức tạp, nhanh hay chậm có

quan hệ chặt chẽ với phương thức bán hàng.

Các phương thức và các hình thức bán hàng trong doanh nghiệp

Xác định phương thức bán hàng có liên quan trực tiếp các kênh bán hàng.

Hoạt động mua bán hàng của các doanh nghiệp thương mại có thể thực hiện qua

hai phương thức: bán buôn và bán lẻ, được chi tiết dưới nhiều hình thức khác

nhau (trực tiếp, chuyển hàng...). Trong đó, bán bn là bán hàng cho các đơn vị

sản xuất kinh doanh để tiếp tục q trình lưu chuyền hàng hóa, còn bán lẻ là bán

hàng hóa cho người tiêu dùng, kết thúc q trình lưu chuyển hàng hóa. Trong

thực tế có nhiều doanh nghiệp thường sử dụng đan xen cả phương thức bán buôn

và bán lẻ nhằm bổ sung cho nhau, hạn chế các nhược điểm tạo nên hệ thống bán

hàng tối ưu nhất. Cụ thể:



SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo



3



MSV: 13D150045



Trường Đại Học Thương Mại



Khoa Kế Tốn – Kiểm Tốn



 Bán bn hàng hóa

Bán bn hàng hóa là phương thức bán hàng chủ yếu của các đơn vị thương

mại, các doanh nghiệp sản xuất để thực hiện bán ra hoặc để gia công chế biến. Đặc

điểm của hàng bn bán là hàng hóa vẫn trong lĩnh vực lưu thông, chưa đưa vào

lĩnh vực tiêu dùng, do vậy giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa chưa được thực

hiện. Hàng hóa thường được bán buôn theo lô hoặc được bán với số lượng lớn,

giá biến động tùy thuộc vào khối lượng hàng bán và phương thức thanh tốn.

Trong bán bn bao gồm hai phương thức là bán bn hàng hóa qua kho và bán

bn hàng hóa vận chuyển thẳng.

- Bán bn hàng hóa qua kho là phương thức bán bn hàng hóa mà trong đó

hàng phải được xuất từ kho bảo quản của doanh nghiệp. Bán bn hàng hóa qua

kho được thể hiện dưới hai hình thức:

Bán bn hàng hóa qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp: theo hình thức

này bên mua cử đại diện đến kho của bên bán để nhận hàng. Doanh nghiệp thương

mại xuất kho hàng hóa, giao trực tiếp cho đại diện bên mua. Sau khi đại diện bên

mua nhận đủ hàng, thanh toán tiền hoặc chứng từ nhận nợ, hàng hóa được xác định

là tiêu thụ.

Bán bn qua kho theo hình thức chuyển hàng: Theo hình thức này căn cứ vào

hợp đồng đã ký kết hoặc theo đơn đặt hàng doanh nghiệp thương mại xuất kho hàng

hóa, dùng phương tiện của mình hoặc phương tiện đi thuê ngoài chuyển hàng đến

kho của bên mua hoặc một địa điểm mà bên mua quy định trong hợp đồng. Hàng

hóa chuyển bán vẫn thuộc quyền sở hữu của bên doanh nghiệp thương mại, chỉ khi

nào bên mua kiểm nhận, thanh tốn hoặc chấp nhận thanh tốn thì số hàng chuyển

giao mới được coi là tiêu thụ, người bán mất quyền sở hữu số hàng đã giao. Chi phí

vận chuyển do doanh nghiệp thương mại chịu hay bên mua chịu là do thỏa thuận

của hai bên. Nếu doanh nghiệp thương mại chịu chi phí vận chuyển, sẽ được tính

vào chi phí bán hàng. Nếu bên mua chịu sẽ phải thu tiền của bên mua.

- Bán bn hàng hóa vận chuyển thẳng là phương thức bán hàng mà doanh

nghiệp thương mại sau khi mua hàng, nhận hàng mua không đưa về nhập kho mà

chuyển bán thẳng cho bên mua. Phương thức này có thể thực hiện theo hai hình thức:



SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo



4



MSV: 13D150045



Trường Đại Học Thương Mại



Khoa Kế Toán – Kiểm Tốn



Bán bn hàng hóa vận chuyển thẳng theo hình thức giao hàng trực tiếp:

Doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng giao trực tiếp cho đại diện của bên mua

tại kho người bán. Sau khi giao nhận, đại diện bên mua ký nhận đủ hàng bên mua

đã thanh tốn hoặc chấp nhận nợ.

Bán bn hàng hóa vận chuyển thẳng theo hình thức chuyển hàng: theo hình

thức này doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng dùng phươn tiện vận tải của

mình hoặc th ngồi vận chuyển hàng đến giao cho bên mua ở địa điểm đã được

thỏa thuận. Hàng hóa chuyển bán trong trường hợp này vẫn thuộc quyền sở hữu của

doanh nghiệp thương mại. Khi nhận tiền của bên mua thanh toán hoặc giấy báo của

bên mua đã nhận được hàng và chấp nhận thanh tốn thì hàng hóa chuyển đi mới

xác định là tiêu thụ.

 Bán lẻ hàng hố

Bán lẻ hàng hóa là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng, các

đơn vị kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính chất tiêu dùng nội

bộ. Đặc điểm là hàng hố đã ra khỏi lĩnh vực lưu thơng và đi vào lĩnh vực tiêu

dùng, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá đã được thưc hiện. Bán lẻ có thể thực

hiện dưới các hình thức sau:

Hình thức bán lẻ thu tiền tập trung: Là hình thức bán hàng mà trong đó, tách

rời nghiệp vụ thu tiền của người mua và nghiệp vụ giao hàng cho người mua. Mỗi

quầy hàng có một nhân viên thu tiền làm nhiệm vụ thu tiền của khách, viết các hố

đơn hoặc tích kê cho khách để khách đến nhận hàng ở quầy hàng do nhân viên bán

hàng giao. Căn cứ vào hoá đơn và tích kê giao hàng cho khách hoặc kiểm kê hàng

hoá tồn quầy để xác định số lượng hàng đã bán trong ngày và lập báo cáo bán hàng.

Nhân viên thu tiền làm giấy nộp tiền và nộp tiền bán hàng cho thủ quỹ.

Hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp: Theo hình thức này, nhân viên bán hàng

trực tiếp thu tiền của khách và giao hàng cho khách. Cuối ngày nhân viên bán hàng

làm giấy nộp tiền và nộp tiền cho thủ quỹ. Đồng thời, kiểm kê hàng hoá tồn quầy để

xác định số lượng hàng đã bán trong ngày và lập báo bán hàng.

Hình thức bán hàng tự phục vụ: Khách hàng tự chọn lấy hàng hoá, mang đến

bàn tính tiền và thanh tốn tiền hàng. Nhân viên thu tiền kiểm hàng, tính tiền lập

hố đơn bán hàng và thu tiền của khách hàng.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo



5



MSV: 13D150045



Trường Đại Học Thương Mại



Khoa Kế Toán – Kiểm Tốn



Hình thức bán hàng trả góp: Người mua hàng được trả tiền mua hàng thành

nhiều lần cho DNTM, ngoài số tiền thu theo giá bán thơng thường còn thu thêm

người mua một khoản lãi do trả chậm.

Hình thức bán hàng tự động: Các doanh nghiệp sử dụng các máy bán hàng tự

động chuyên dùng cho một hoặc một vài loại hàng nào đó đặt ở các nơi cơng cộng

khách hàng sau khi bỏ tiền vào máy, máy tự động đẩy hàng cho người mua.

Phương thức gửi hàng đại lý bán hay ký gửi hàng hóa: DNSXTM giao hàng

cho cơ sở đại lý, ký gửi để cho cơ sở này trực tiếp bán hàng, bên nhận đại lý ký gửi sẽ

trực tiếp bán hàng, thanh toán tiền hàng và được hưởng hoa hồng đại lý bán, số hàng

chuyển giao cho các cơ sở đại lý, ký gửi vẫn thuộc về DNSXTM cho đến khi

DNSXTM được cơ sở đại lý, ký gửi thanh tốn tiền hay chấp nhận thanh tốn hoặc

thơng báo về số hàng đã bán được, doanh nghiệp mới mất quyền sở hữu số hàng này.

 Các phương thức thanh tốn và hình thức thanh tốn

Sau khi giao hàng cho bên mua và nhận được chấp nhận thanh toán bên bán có

thể nhận tiền hàng theo nhiều phương thức khác nhau tuỳ vào sự thoả thuận giữa 2 bên

mà lựa chọn các phương thức thanh tốn cho phù hợp. Có 3 phương thức thanh toán:

Phương thức thanh toán trực tiếp: Là phương thức thanh toán mà quyền sở

hữu về tiền tệ được chuyển từ người mua sang người bán sau khi quyền chuyển sở

hữu về hàng hóa bị chuyển giao. Thanh tốn trực tiếp có thể bằng tiền mặt, séc hoặc

có thể bằng hàng hố (nếu bán theo phương thức hàng đổi hàng). Theo phương thức

thanh tốn này thì sự vận động của hàng hoá gắn liền với sự vận động của tiền tệ.

Phương thức thanh toán trả chậm: Là phương thức thanh toán mà quyền sở

hữu về tiền tệ sẽ được chuyển giao sau một khoảng thời gian so với thời điểm

chuyển quyền sở hữu về hàng hoá. Từ phương thức thanh tốn này hình thành

nên khoản nợ phải thu của khách hàng. Theo phương thức thanh toán này thì sự

vận động của hàng hố, sự vận động của tiền tệ có khoảng cách về khơng gian và

thời gian.

Phương thức thanh toán trả trước: Là phương thức thanh toán mà quyền sở

hữu về tiền tệ sẽ được chuyển giao trước thời điểm giao nhận hàng hóa. Mục đích

của việc thanh toán trước là để chắc chắn việc thực hiện hợp đồng mua hàng hóa



SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo



6



MSV: 13D150045



Trường Đại Học Thương Mại



Khoa Kế Toán – Kiểm Toán



của khách hàng. Như vậy, theo phương thức thanh tốn này thì sự vận động của

hàng hóa và sự vận động của tiền cũng có khoảng cảnh về khơng gian và thời gian.

 Đặc điểm về giá

Giá bán hàng hoá trong các doanh nghiệp thương mại là giá thoả thuận giữa

người mua và người bán, được ghi trên hoá đơn hoặc hợp đồng.

Nguyên tắc chung khi xây dựng giá bán trong các doanh nghiệp thương mại là

phải bảo đảm bù đắp được giá vốn, bù đắp được chi phí bán hàng và có hình thành

lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Từ ngun tắc đó, giá bán hàng hoá trong các doanh nghiệp thương mại

thường được xác định theo công thức sau:

Giá bán = Giá mua thực tế + Thặng số thương mại

Hoặc: Giá bán = Giá mua thực tế x (1 + % thặng số thương mại)

Trong đó, thặng số thương mại dùng để bù đắp chi phí bán hàng và hình thành lợi

nhuận cho doanh nghiệp, được tính theo tỷ lệ % trên giá mua thực tế của hàng đã bán.

1.1.2.2 Yêu cầu quản lý nghiệp vụ bán hàng

 Yêu cầu quản lý nghiệp vụ bán hàng

- Quản lý về mặt số lượng:

Phản ánh giá trị và giám đốc tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất, tình hình

nhập xuất tồn kho, doanh nghiệp dự trữ sản phẩm kịp thời, và đề ra các biện pháp

xử lý hàng hoá tồn kho lâu ngày, tránh ứ đọng vốn.

- Quản lý về mặt chất lượng:

Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh, với nhu cầu ngày càng cao của người

tiêu dùng đòi hỏi chất lượng hàng hố ngày càng phải hồn thiện hơn nữa, kiểu

dáng chất lượng hàng hố phải làm tốt cơng việc của mình, cất giữ bảo quản hợp lý

từng loại hành hố tránh hư hỏng, giảm chất lượng hàng hoá. Như vậy bên cạnh

việc quản lý về mặt hiện vật, quản lý về mặt chất lượng cũng rất quan trọng như

quản lý về trị giá hàng hoá nhập, xuất kho.

 Nhiệm vụ của kế toán bán hàng

Kế toán nghiệp vụ bán hàng trong doanh nghiệp thương mại có các nhiệm vụ

cơ bản sau:



SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo



7



MSV: 13D150045



Trường Đại Học Thương Mại



Khoa Kế Toán – Kiểm Toán



- Ghi chép, phản ánh kịp thời, đầy đủ và chính xác tính hình bán hàng của

doanh nghiệp trong kỳ, cả về giá trị và số lượng hàng bán trên tổng số và trên từng

mặt hàng, từng địa điểm bán hàng, từng phương thức bán hàng.

- Tính tốn và phản ánh chính xác tổng giá thanh toán của hàng bán ra, bao

gồm cả doanh thu bán hàng, thuế giá trị gia tăng đầu ra của từng nhóm mặt hàng,

từng hố đơn, từng khách hàng, từng đơn vị trực thuộc (theo các cửa hàng, quầy

hàng...).

- Xác định chính xác giá mua thực tế của lượng hàng đã tiêu thụ, đồng thời

phân bổ chi phí thu mua cho hàng tiêu thụ nhằm xác định kết quả bán hàng.

- Kiểm tra, đơn đốc tính hình thu hồi và quản lý tiền hàng, quản lý khách

nợ; theo dõi chi tiết theo từng khách hàng, lô hàng, số tiền khách nợ, thời hạn

và tính hình trả nợ....

- Tập hợp đầy đủ, chính xác, kịp thời các khoản chi phí bán hàng thực tế phát

sinh và kết chuyển (hay phân bổ) chi phí bán hàng cho hàng tiêu thụ, làm căn cứ để

xác định kết quả kinh doanh.

- Cung cấp thông tin cần thiết về tình hình bán hàng phục vụ cho việc chỉ đạo,

điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

- Tham mưu cho lãnh đạo về các giải pháp để thúc đẩy quá trình bán hàng.

1.2. Nội dung nghiên cứu kế tốn bán hàng trong doanh nghiệp

Q trình bán hàng kế tốn ghi nhận doanh thu và chi phí vậy doanh thu và chi

phí được hạch tốn, theo dõi và ghi nhận như thế nào đã được quy định trong chuẩn

mực 01: “chuẩn mực chung”, chuẩn mực 02: “Hàng tồn kho”, chuẩn mực 14: “

Doanh thu và thu nhập khác”.

1.2.1. Kế toán bán hàng theo quy định của chuẩn mực kế toán Việt Nam

Kế toán bán hàng trong doanh nghiệp thương mại được quy định trực tiếp

trong VAS 14 “doanh thu và thu nhập khác”, VAS 01 “ chuẩn mực chung”, VAS 02”

hàng tồn kho”.

1.2.1.1. Kế toán bán hàng theo chuẩn mực kế toán số 01 “Chuẩn mực chung”

VAS 01 được ban hành theo QĐ 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm

2012 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính. Chuẩn mực này phản ánh các nguyên tắc, yêu



SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo



8



MSV: 13D150045



Trường Đại Học Thương Mại



Khoa Kế Toán – Kiểm Toán



cầu kế toán cơ bản, các yếu tố của báo cáo tài chính. Doanh nghiệp cần tơn trọng

một số quy định trong kế tốn bán hàng:

 Cơ sở dồn tích

Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của Doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ

phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế tốn vào thời

điểm phát sinh, khơng căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc

tương đương tiền. Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ảnh tình hình tài

chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Trong hoạt động bán

hàng, doanh thu sẽ được ghi nhận ngay tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ, doanh thu

được ghi nhận trong kỳ đó, khơng đợi đến kỳ tiếp theo khi nhận được tiền thanh

toán mới ghi nhận, làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của kỳ đó.

Vì việc ghi nhận doanh thu và chi phí có ảnh hưởng quyết định đến báo cáo

kết quả kinh doanh của Doanh nghiệp trong một kỳ, cơ sở kế tốn dồn tích được

xem là một nguyên tắc chính yếu đối với việc xác định lợi nhuận của Doanh nghiệp.

Lợi nhuận theo cơ sở dồn tích là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí; từ đó

BCTC nói chung và BCKQKD nói riêng được lập trên cơ sở dồn tích phản ánh đầy

đủ (hay tuân thủ yêu cầu trung thực) các giao dịch kế tốn trong kỳ và từ đó, cho

phép tình trạng tái sản, nguồn vốn của một Doanh nghiệp một cách đầy đủ, hợp lý.

Hơn nữa, do khơng có sự trùng hợp giữa lượng tiền thu vào và doanh thu trong kỳ

và tồn tại chênh lệch giữa chi phí ghi nhận và lượng tiền chi ra trong một kỳ, kế

toán theo cơ sở dồn tích cho phép theo dõi các giao dịch kéo dài qua các kỳ khác

nhau, như nợ phải thu, nợ phải trả, khấu hao, dự phòng,...

 Nguyên tắc phù hợp

Nguyên tắc phù hợp quy định việc ghi nhận doanh thu, chi phí phải phù hợp

với nhau. Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí

tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh

thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của kỳ trước hoặc chi phí phải trả

nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó.

Như vậy chi phí ghi nhận trong kỳ là tồn bộ các khoản chi phí liên quan đến

việc tạo ra doanh thu và thu nhập của kỳ đó, khơng phụ thuộc khoản chi phí đó

được chia ra trong thời kỳ nào.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo



9



MSV: 13D150045



Trường Đại Học Thương Mại



Khoa Kế Toán – Kiểm Toán



Quy định hạch toán phù hợp giữa doanh thu và chi phí nhằm xác định và đánh

giá đúng kết quả hoạt động kinh doanh của từng thời kỳ kế tốn, giúp cho các nhà

quản trị có những quyết định kinh doanh đúng đắn và hiệu quả.

Trong kỳ kế toán khi có nghiệp vụ bán hàng tạo ra doanh thu, kế tốn cần xác

định được những khoản chi phí đi kèm theo để tạo ra doanh thu đó, như giá vốn

hàng bán, chi phí vận chuyển, chi phí quảng cáo…

 Nguyên tắc thận trọng

Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đốn cần thiết để lập các ước tính kế

tốn trong các điều kiện khơng chắc chắn. Ngun tắc này yêu cầu việc ghi tăng vốn chủ

sở hữu chỉ được thực hiện khi có bằng chứng chắc chắn, còn việc ghi giảm vốn chủ sở

hữu phải được ghi nhận ngay từ khi có chứng cứ về khả năng có thể xảy ra.

Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi:

- Phải lập các khoản dự phòng nhưng khơng lập q lớn;

- Khơng đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập;

- Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí;

- Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về

khả năng thu được lợi ích kinh tế;

- Chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng có thể về khả năng phát sinh.

Tuân thủ theo nguyên tắc thận trọng sẽ giúp cho DN bảo toàn nguồn vốn, hạn

chế rủi ro và tăng khả năng hoạt động liên tục.

Khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, ln có những rủi ro tồn tại mà

doanh nghiệp không lường hết được, đặc biệt là trong lĩnh vực bán hàng, doanh

nghiệp cần lập dự phòng để khắc phục và hạn chế những tình huống khơng mong

muốn xảy ra như hàng hóa giảm giá do khơng hợp thị hiếu hoặc do hàng hóa của

doanh nghiệp xuống cấp. Một số khoản nợ xấu từ khách hàng chưa thu hồi được

cũng cần lập dự phòng.

 Nguyên tắc nhất qn

Các chính sách và phương pháp kế tốn doanh nghiệp đã chọn phải được áp

dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế tốn năm. Trường hợp có thay đổi chính

sách và phương pháp kế tốn đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự

thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo



10



MSV: 13D150045



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phương pháp tổng hợp dữ liệu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x