Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Tạ Quang Bình



- Khái niệm về bán hàng

“Bán hàng là khâu cuối cùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

thương mại, nó chính là q trình chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa từ tay người

bán sang tay người mua để nhận quyền sở hữu về tiền tệ hoặc quyền được đòi tiền ở

người mua”(TS. Nguyễn Tuấn Duy, Giáo trình Kế tốn hoạt động thương mại và dịch

vụ, 2014).

- Khái niệm về doanh thu

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 – Doanh thu và thu nhập khác, ban

hành theo quyết định 149 ngày 31/12/2001 của Bộ Tài chính (BTC) thì Doanh thu

được hiểu như sau: “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu

được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thơng thường

của doanh nghiệp, góp phần làm tăng nguồn vốn chủ sở hữu”.

- Các khoản giảm trừ doanh thu

Trong q trình bán hàng có thể phát sinh các trường hợp đặc biệt làm giảm trừ

doanh thu. Chẳng hạn như các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán,

giảm giá hàng bán hay hàng bán bị trả lại…

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 – Doanh thu và thu nhập khác, ban

hành theo quyết định 149 ngày 31/12/2001 của BTC thì các khoản giảm trừ doanh thu

bao gồm:

Chiết khấu thương mại: Là khoản mà doanh nghiệp giảm giá niêm yết cho từng

khách hàng mua với số lượng hàng lớn.

Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua hàng theo quy định của

công ty.

Hàng bán bị trả lại: Là giá trị của khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị

khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.

Chiết khấu thanh toán: Là khoản tiền người bán giảm trừ cho người mua, do

người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn theo hợp đồng.

1.1.2. Một số lý thuyết

1.1.2.1. Các phương thức bán hàng

* Phương thức bán bn hàng hóa

“Bán bn hàng hố là phương thức bán hàng cho các doanh nghiệp thương mại,

các doanh nghiệp sản xuất... để thực hiện bán ra hoặc để gia công chế biến rồi bán ra”

(TS. Nguyễn Tuấn Duy, Giáo trình Kế tốn hoạt động thương mại và dịch vụ, 2014).

10



SVTH: Hồng Thị Thủy



10



Lớp: K17D _SB



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Tạ Quang Bình



Căn cứ vào địa điểm nhận và giao hàng, bán buôn được chia thành các hình thức

sau:

- Phương thức bán bn hàng hóa qua kho

Là phương thức bán bn hàng hóa mà hàng bán được xuất từ kho bảo quản của

doanh nghiệp.

Có hai hình thức bán bn qua kho:

+Bán bn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp tại kho

Theo hình thức này bên mua cử đại diện mang giấy ủy nhiệm đến kho của doanh

nghiệp thương mại đề nhận hàng. Doanh nghiệp thương mại xuất kho hàng hóa, giao

trực tiếp cho đại diện bên mua. Sau khi nhận đủ hàng, đại diện bên mua ký nhận đã

nhận đủ hàng vào chứng từ bán hàng đồng thời thanh toán tiền hoặc chấp nhận nợ.

+Bán bn qua kho theo hình thức gửi hàng

Theo hình thức này, căn cứ vào hợp đồng đã ký kết hoặc theo đơn đặt hàng,

doanh nghiệp thương mại xuất kho hàng hóa, bằng phương tiện vận tải của mình hoặc

đi th ngoài, chuyển hàng giao cho bên mua ở một điểm thỏa thuận. Hàng hóa

chuyển bán vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thương mại. Hàng hóa này được

xác định là tiêu thụ khi nhận được tiền do bên mua thanh toán hoặc giấy báo của bên

mua đã nhận được hàng và chấp nhận thanh tốn.

- Phương thức bán bn hàng hóa vận chuyển thẳng

Theo hình thức này, doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng, nhận mua hàng,

không đưa về nhập kho mà giao bán ngay hoặc chuyển bán ngay cho bên mua. Phương

thức này có thể thực hiện theo hai hình thức:

+Bán bn vận chuyển thẳng theo hình thức giao hàng trực tiếp (hay Hình thức

giao tay ba).

Theo hình thức này doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng, nhận hàng mua

và giao trực tiếp cho đại diện của bên mua tại kho người bán. Sau khi giao, nhận, đại

diện bên mua ký nhận đủ hàng, bên mua đã thanh tốn tiền hàng hoặc chấp nhận nợ,

hàng hóa được xác nhận là tiêu thụ.

+ Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức gửi hàng

Theo hình thức này doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng (nhận hàng

mua), bằng phương tiện vận tải của mình hoặc th ngồi chuyển hàng đến giao cho

bên mua ở một địa điểm đã thỏa thuận. Hàng hóa chuyển bán trong trường hợp này

vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thương mại. Khi nhận được tiền của bên



11



SVTH: Hồng Thị Thủy



11



Lớp: K17D _SB



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Tạ Quang Bình



mua thanh tốn hoặc giấy báo của bên mua đã nhận được hàng và chấp nhận thanh

tốn thì hàng hóa được xác định là tiêu thụ.

* Phương thức bán lẻ hàng hóa

“Bán lẻ hàng hóa là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc

các tổ chức kinh tế, không thông qua các trung gian. Đặc điểm của phương thức này là

hàng hóa đã ra khỏi lĩnh vực lưu thơng và đi vào lĩnh vực tiêu dùng, giá trị và giá trị sử

dụng của hàng hóa được thực hiện. Bán lẻ thường bán đơn chiếc hoặc với số lượng

nhỏ phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng, giá bán thường ổn định” (TS. Nguyễn

Tuấn Duy, Giáo trình Kế tốn hoạt động thương mại và dịch vụ, 2014).

Phương thức bán lẻ thường có hai hình thức sau:

- Bán lẻ thu tiền tập trung

Theo hình thức này việc thu tiền của người mua và giao hàng cho người mua

tách rời nhau. Mỗi quầy hàng có một nhân viên thu tiền làm nhiệm vụ thu tiền của

khách, viết hóa đơn hoặc tích kê cho khách để khách đến nhận hàng ở quầy hàng do

nhân viên bán hàng giao.

- Bán lẻ thu tiền trực tiếp

Theo hình thức này, nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền và giao hàng cho

khách. Hết ca, nhân viên bán hàng làm giấy nộp tiền và nộp lại tiền cho thủ quỹ. Đồng

thời, kiểm kê hàng hóa tồn tại quầy để xác định số lượng hàng đã bán ra trong ca và

lập báo cáo bán hàng.

* Phương thức bán hàng đại lý

“Bán hàng đại lý là phương thức bán hàng mà trong đó doanh nghiệp thương

mại (bên giao đại lý) giao hàng cho một doanh nghiệp thương mại khác (bên nhận đại

lý) để các cơ sở này trực tiếp bán hàng”(TS. Nguyễn Tuấn Duy, Giáo trình Kế tốn

hoạt động thương mại và dịch vụ, 2014).

Bên đại lý sẽ trực tiếp bán hàng và thanh toán tiền cho doanh nghiệp thương mại

và được hưởng hoa hồng đại lý bán. Số hàng gửi đại lý vẫn thuộc quyền sở hữu của

doanh nghiệp thương mại. Số hàng được xác định là tiêu thụ khi doanh nghiệp nhận

được tiền do bên đại lý thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán.

* Phương thức bán hàng trả góp, trả chậm



12



SVTH: Hồng Thị Thủy



12



Lớp: K17D _SB



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Tạ Quang Bình



“Bán hàng trả góp, trả chậm là phương thức bán hàng mà doanh nghiệp thương

mại dành cho người mua ưu đãi được trả tiền hàng trong kỳ. Doanh nghiệp thương mại

được hưởng thêm khoản chênh lệch giữa giá bán trả góp và giá bán thơng thường theo

phương thức trả tiền ngay gọi là lãi trả góp. Khi doanh nghiệp thương mại giao hàng

cho người mua, hàng hóa được xác định là tiêu thụ”(TS. Nguyễn Tuấn Duy, Giáo trình

Kế tốn hoạt động thương mại và dịch vụ, 2014).

1.1.2.2. Các phương thức thanh toán

- Phương thức thanh toán ngay

“Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển từ người

mua sang người bán ngay sau khi quyền sở hữu hàng hóa bị chuyển giao. Ở hình thức

này sự vận động của hàng hóa gắn với sự vận động của tiền tệ”(TS. Nguyễn Tuấn Duy,

Giáo trình Kế tốn hoạt động thương mại và dịch vụ, 2014).

- Phương thức thanh toán trả chậm

“Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển giao sau

một khoảng thời gian so với thời điểm chuyển quyền sở hữu về hàng hóa, do đó hình

thành khoản cơng nợ phải thu của khách hàng. Ở hình thức này sự vận động của hàng

hóa và tiền tệ có khoảng cách về khơng gian và thời gian” (TS. Nguyễn Tuấn Duy,

Giáo trình Kế tốn hoạt động thương mại và dịch vụ, 2014).

1.1.2.3. Phương thức xác định giá bán

Việc xác định giá bán hàng hóa phải dựa trên nguyên tắc: phải đảm bảo bù đắp

được giá vốn, chi phí đã bỏ ra đồng thời đảm bảo cho doanh nghiệp có được khoản lợi

nhuận định mức.

Trên nguyên tắc đó, giá bán hàng hóa được xác định như sau:

Giá bán hàng hóa = Giá gốc + Thặng số thương mại

Thặng số thương mại dùng để bù đắp chi phí và hình thành lợi nhuận, nó được

tính theo tỉ lệ % trên giá thực tế của hàng hóa tiêu thụ.

Như vậy: Giá bán hàng hóa = Giá gốc (1 + %TSTM)

Hiện nay, nhà nước chỉ quy định giá ở một số mặt hàng thiết yếu, quan trọng còn

các hàng hóa khác giá cả được xác định theo quy luật cung cầu trên thị trường. Vì vậy,

mỗi doanh nghiệp cần phải tự xác định cho mình mức giá phù hợp dựa vào nhu cầu thị

trường, chu kỳ sống của sản phẩm, uy tín và nhãn mác sản phẩm đó trên thị trường...để

có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp khác.

13



SVTH: Hồng Thị Thủy



13



Lớp: K17D _SB



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Tạ Quang Bình



1.1.2.4. Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho

Thơng tư số 228/2009/TT-BTC ngày 7/12/2009 của BTC hướng dẫn chế độ trích

lập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho:

- Đối tượng trích lập dự phòng

Đối tượng lập dự phòng bao gồm nguyên vật liệu, dụng cụ dùng cho sản xuất, vật

tư, hàng hóa, thành phẩm tồn kho (gồm cả hàng tồn kho bị hư hỏng, kém mất phẩm

chất, lạc hậu mốt, lạc hậu kỹ thuật, lỗi thời, ứ đọng, chậm luân chuyển...), sản phẩm dở

dang, chi phí dịch vụ dở dang (sau đây gọi tắt là hàng tồn kho) mà giá gốc ghi trên sổ kế

tốn cao hơn giá trị thuần có thể thực hiện được và đảm bảo điều kiện sau:

+ Có hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của BTC hoặc các bằng chứng

khác chứng minh giá vốn hàng tồn kho.

+ Là những vật tư hàng hóa thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp tồn kho tại

thời điểm lập báo cáo tài chính.

Trường hợp ngun vật liệu có giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn

so với giá gốc nhưng giá bán sản phấm dịch vụ được sản xuất từ ngun vật liệu này

khơng bị giảm giá thì khơng được trích lập dự phòng giảm giá ngun vật liệu tồn kho

đó.

- Phương pháp lập dự phòng

Mức trích lập dự phòng tính theo cơng thức sau:

Mức dự phòng



Lượng vật tư hàng hóa



Giá gốc hàng



giảm giá vật tư



= thực tế tồn kho tại thời x



tồn kho theo



hàng hóa



điểm lập báo cáo tài



sổ kế tốn



chính



Giá trị thuần có

-



thể thực hiện

được của hàng

tồn kho



- Xử lý dự phòng

+ Nếu số dự phòng giảm giá phải trích lập bằng số dư khoản dự phòng giảm giá

hàng tồn kho thì doanh nghiệp khơng phải trích lập khoản dự phòng giảm giá hàng tồn

kho;

+ Nếu số dự phòng giảm giá phải trích lập cao hơn số dư khoản dự phòng giảm

giá hàng tồn kho thì doanh nghiệp được trích thêm phân chênh lệch vào giá vốn hàng

bán ra trong kỳ;

+ Nếu số dự phòng phải trích lập thấp hơn số dư khoản dự phòng giảm giá hàng tồn

kho thì doanh nghiệp phải hồn nhập phần chênh lệch và ghi giảm giá vốn hàng bán.

14



SVTH: Hoàng Thị Thủy



14



Lớp: K17D _SB



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Tạ Quang Bình



1.1.2.5. Lập dự phòng phải thu khó đòi

Thơng tư số 228/2009/TT-BTC ngày 7/12/2009 của BTC hướng dẫn chế độ trích

lập và sử dụng các khoản dự phòng phải thu khó đòi:

* Điều kiện

Là các khoản nợ phải thu khó đòi đảm bảo các điều kiện sau:

-Khoản nợ phải có chứng từ gốc, có đối chiếu xác nhận của khách nợ về số tiền

còn nợ, bao gồm: hợp đồng kinh tế, khế ước vay nợ, bản thanh lý hợp đồng, cam kết

nợ, đối chiếu công nợ và các chứng từ khác.

Các khoản không đủ căn cứ xác định là nợ phải thu theo quy định này phải xử lý

như một khoản tổn thất.

- Có đủ căn cứ xác định là khoản nợ phải thu khó đòi:

+ Nợ phải thu đã q hạn thanh toán ghi trên hợp đồng kinh tế, các khế ước vay

nợ hoặc các cam kết nợ khác.

+ Nợ phải thu chưa đến thời hạn thanh toán nhưng tổ chức kinh tế (các công ty,

doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, tổ chức tín dụng...) đã lâm vào tình trạng phá sản

hoặc đang làm thủ tục giải thể, người nợ mất tích, bỏ trốn, đang bị các cơ quan pháp

luật truy tố, giam giữ, xét xử, đang thi hành án hoặc đã chết.

* Phương pháp lập dự phòng

Doanh nghiệp phải dự kiến mức tổn thất có thể xảy ra hoặc tuổi nợ quá hạn của

các khoản nợ và tiến hành lập dự phòng cho từng khoản nợ phải thu khó đòi, kèm theo

các chứng cứ chứng minh các khoản nợ khó đòi nói trên. Trong đó:

Đối với nợ phải thu q hạn thanh tốn, mức trích lập dự phòng như sau:

+ 30% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ trên 6 tháng đến dưới 1năm.

+ 50% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 1 năm đến dưới 2 năm.

+ 70% giá trị đốỉ với khoản nợ phảithu quá hạn từ 2 năm đến dưới 3 năm.

+ 100% giá trị đối với khoản nợ phải thu từ 3 năm trở lên.

Đối với nợ phải thu chưa đến hạn thanh toán nhưng tổ chức kinh tế đã lâm vào

tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; người nợ mất tích, bỏ trốn, đang bị

các cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử hoặc đang thi hành án hoặc đã chết...

thì doanh nghiệp dự kiến mức tổn thất khơng thu hồi được để trích lập dự phòng.



15



SVTH: Hồng Thị Thủy



15



Lớp: K17D _SB



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Tạ Quang Bình



Sau khi lập dự phòng cho từng khoản nợ phải thu khó đòi, doanh nghiệp tổng

hợp tồn bộ khoản dự phòng các khoản nợ vào bảng kê chi tiết đế làm căn cứ hạch

tốn vào chi phí quản lý của doanh nghiệp.

* Xử lý khoản dự phòng

- Nếu số dự phòng phải trích lập bằng số dư dự phòng nợ phải thu khó đòi, thì

doanh nghiệp khơng phải trích lập;

- Nếu số dự phòng phải trích lập cao hơn số dư khoản dự phòng nợ phải thu khó

đòi, thì doanh nghiệp phải trích thêm vào chi phí quản lý doanh nghiệp phần chênh

lệch;

- Nếu số dự phòng phải trích lập thấp hơn số dư khoản dự phòng nợ phải thu khó

đòi, thì doanh nghiệp phải hoàn nhập phần chênh lệch ghi giảm chi phí quản lý doanh

nghiệp.

1.2. Nội dung kế tốn bán hàng

1.2.1. Kế toán bán hàng theo các chuẩn mực kế toán Việt Nam

1.2.1.1. Kế toán nghiệp vụ bán hàng theo chuẩn mực số 01(VAS - 01)

VAS 01 được ban hành và công bố theo quyết định 165/2002/QĐ – BTC ngày

31/12/2002 của Bộ trưởng BTC trình bày 7 nguyên tắc kế tốn cơ bản, trong đó có một

số ngun tắc kế toán cơ bản chi phối tới kế toán bán hàng như:

- Nguyên tắc cơ sở dồn tích: mọi nghiệp vụ bán hàng của doanh nghiệp phải

được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực thu hoặc

thực chi tiền hoặc tương đương tiền. Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ánh

tình hình tài chính của doanh nghiệp trong q khứ, hiện tại và tương lai.

- Nguyên tắc phù hợp: việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau.

Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có

liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Khi ghi nhận một khoản doanh thu bán hàng kế

toán đồng thời ghi nhận chi phí giá vốn hàng bán của mặt hàng đó.

- Ngun tắc nhất qn: các chính sách và phương pháp kế tốn doanh nghiệp như

chính sách chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh tốn, phương pháp tính giá trị hàng

tồn kho…phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế tốn năm. Trường hợp có

thay đổi chính sách và phương pháp kế tốn đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng

của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.



16



SVTH: Hồng Thị Thủy



16



Lớp: K17D _SB



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Tạ Quang Bình



- Ngun tắc thận trọng: kế tốn bán hàng cần phải được xác định nhanh chóng,

kịp thời nhưng vẫn đảm bảo chính xác các số liệu. Do đó, cần phải xem xét, cân nhắc,

phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế tốn trong các điều kiện khơng chắc chắn.

Nguyên tắc thận trọng áp dụng trong kế toán bán hàng đòi hỏi:

+ Phải lập các khoản dự phòng (dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng phải

thu khó đòi) nhưng khơng lập q lớn;

+ Khơng đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập;

+ Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí;

+ Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả

năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về

khả năng phát sinh chi phí.

1.2.1.2. Kế toán nghiệp vụ bán hàng theo chuẩn mực số 02 (VAS - 02)

VAS 02 được ban hành theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001

của Bộ trưởng BTC. Nội dung của VAS 02 “ Hàng tồn kho” là quy định và hướng dẫn

các nguyên tắc và phương pháp kế toán hàng tồn kho như : xác định giá trị hàng tồn

kho, cách lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, phương pháp tính giá trị hàng tồn kho

làm cơ sở ghi sổ kế tốn và lập báo cáo tài chính.

Theo chuẩn mực này thì: Trị giá hàng bán được tính theo giá gốc theo nguyên

tắc giá phí. Trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải

tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được. Trong đó, giá gốc hàng bán bao gồm: Chi

phí mua, chi phí chế biến, và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được

hàng hóa ở địa điểm và trạng thái sẵn sàng để bán.

Theo Đoạn 13 của Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 (VAS 02): Việc tính trị giá

HTK được áp dụng theo một trong các phương pháp sau:

* Phương pháp thực tế đích danh

Theo phương pháp này doanh nghiệp phải biết được các đơn vị hàng hóa tồn kho

và các đơn vị hàng hóa xuất bán thuộc những lần mua nào và dùng đơn giá của những

lần mua đó để xác định trị giá của hàng tồn kho cuối kỳ.

Phương pháp này phù hợp với các doanh nghiệp mà đơn giá hàng hóa rất lớn

như: vàng, bạc, chi tiết ơ tơ xe máy có thể nhận diện từng nhóm, hoặc từng loại theo

từng lần nhập kho, có ít loại mặt hàng.



17



SVTH: Hồng Thị Thủy



17



Lớp: K17D _SB



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Tạ Quang Bình



Giá thực tế của hàng hóa nhập kho được căn cứ vào đơn giá thực tế hàng hóa

nhập kho theo từng lô hàng, từng lần nhập và số lượng xuất kho theo từng lần.

* Phương pháp tính bình qn gia quyền

Theo phương pháp này, giá vốn của từng loại hàng bán được tính theo giá trị

trung bình của từng loại hàng tồn kho tương tự đầu kỳ và giá trị từng loại hàng đó

được mua trong kỳ. Giá trị trung bình có thể được tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi lần

nhập một lô hàng về hoặc giá trung bình kỳ trước.

Giá bán thực tế



=



Số lượng hàng



x



Đơn giá bình quân



* Phương pháp nhập trước xuất trước (FIFO)

Phương pháp này được áp dụng dựa trên giả định là hàng được mua trước hoặc

được sản xuất trước thì xuất trước, và hàng tồn cuối kỳ là hàng được mua hoặc sản xuất

gần tới thời điểm cuối kỳ. Theo phương pháp này thì giá vốn của số hàng được xác định

tiêu thụ trong kỳ được tính theo giá trị của lơ hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc

gần đầu kỳ, giá trị hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối

kỳ hoặc gần cuối kỳ hàng còn tồn kho.

* Phương pháp nhập sau xuất trước (LIFO)

Phương pháp này dựa trên giả định là hàng được mua sau hoặc sản xuất sau thì

được xuất trước, hàng tồn kho cuối kỳ là hàng được mua hoặc sản xuất trước đó. Theo

phương pháp này thì giá vốn của lô hàng được xác định tiêu thụ trong kỳ được tính

theo giá của lơ hàng nhập lần sau hoặc gần sau cùng, giá trị của hàng tồn kho được

tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ còn tồn kho.

1.2.1.3. Kế tốn nghiệp vụ bán hàng theo chuẩn mực kế toán số 14 (VAS – 14)

Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và

phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác, gồm: các loại doanh thu, thời điểm

ghi nhận doanh thu, phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác làm cơ sở ghi sổ

kế tốn và lập báo cáo tài chính. Chuẩn mực này quy định:

* Thời điểm ghi nhận doanh thu

Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả năm điều kiện

sau:

(1) DN đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc

18



SVTH: Hồng Thị Thủy



18



Lớp: K17D _SB



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Tạ Quang Bình



hàng hóa cho người mua. Những rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải như: hàng

hóa bị hư hỏng, kém phẩm chất, lạc hậu về mẫu mã và thị hiếu...

Trường hợp DN vẫn còn chịu phần lớn rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa

dưới nhiều hình thức khác nhau như:

+ Doanh nghiệp vẫn còn phải chịu trách nhiệm để đảm bảo cho tài sản được hoạt

động bình thường mà khơng nằm trong các điều khoản bảo hành thông thường.

+ Việc thanh tốn tiền hàng còn chưa chắc chắn vì còn phụ thuộc vào khách

hàng.

+ Hàng hóa được giao còn chờ lắp đặt và việc lắp đặt đã được thỏa thuận rõ trong

hợp đồng mà DN chưa hoàn thành.

+ Khi người mua có quyền hủy bỏ việc mua hàng vì một lý do nào đó được nêu

trong hợp đồng mua bán và DN chưa chắc chắn về khả năng hàng bán có bị trả lại hay

khơng.

Những lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa là khoản tiền thu được từ việc

bán hàng hóa hoặc lợi ích, thu nhập ước tính từ việc sử dụng hàng hóa.

Khi DN đã chuyển giao phần lớn những rủi ro và lợi ích kể trên thì mới được ghi

nhận doanh thu bán hàng

(2) DN khơng còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc



quyền kiểm sốt hàng hóa.

Trong hầu hết các trường hợp thì thời điểm chuyển giao quyền sở hữu trùng với

thời điểm chuyển quyền kiểm soát hàng hóa cho người mua. Tuy nhiên, trong một số

trường hợp lại có sự tách rời hai quyền này như: Khi bán hàng trả góp, quyền quản lý

và quyền kiểm sốt đã được chuyển giao nhưng quyền sở hữu chưa được chuyển giao,

điều này có nghĩa là phần lớn rủi ro và lợi ích của việc sở hữu hàng hóa gắn liền với

quyền kiểm soát được chuyển giao cho người mua mặc dù quyền sở hữu hợp pháp vẫn

thuộc về người bán. Người mua chỉ thực sự trở thành chủ sở hữu khi đã hồn thành

xong nghĩa vụ thanh tốn.

(3) Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.



Doanh thu được ghi nhận khi doanh nghiệp xác định được giá trị tương đương

của khoản đã thu hoặc sẽ thu được trong tương lai từ việc bán hàng hóa.

(4) DN đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng.



Doanh thu chỉ được ghi nhận khi đã tương đối chắc chắn rằng doanh nghiệp nhận

được lợi ích từ các giao dịch. Điều này cũng phù hợp với “nguyên tắc thận trọng” của

19



SVTH: Hoàng Thị Thủy



19



Lớp: K17D _SB



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Tạ Quang Bình



chuẩn mực 01: “Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc

chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế”.

(5) Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.



Doanh thu và chi phí liên quan tới cùng một giao dịch phải được ghi nhận đồng

thời theo nguyên tắc phù hợp. Các chi phí bao gồm cả chi phí phát sinh sau ngày giao

hàng (chi phí bảo hành và chi phí khác), thường được xác định chắc chắn khi các điều

kiện ghi nhận doanh thu được thỏa mãn

Như vậy, thời điểm ghi nhận doanh thu bán hàng cụ thể như sau:

Với phương thức bán buôn qua kho, bán bn vận chuyển thẳng theo hình thức

giao hàng trực tiếp: Thời điểm ghi nhận Doanh thu là thời điểm đại diện bên mua ký

nhận đủ hàng, thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận nợ.

Với phương thức bán bn qua kho, bán bn vận chuyển thẳng theo hình thức

gửi hàng: Thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm thu được tiền của bên mua hoặc

bên mua xác nhận đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán.

Với phương thức bán lẻ hàng hóa: Thời điểm ghi nhận Doanh thu là thời điểm

nhận được báo cáo bán hàng của nhân viên bán hàng.

Với phương thức bán hàng đại lý: Thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm bên

nhận đại lý thanh toán tiền hàng, chấp nhận thanh tốn hoặc thơng báo hàng đã bán

được.

Xác định doanh thu

Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được.

Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa DN với bên

mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã

thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu

thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại.

Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền khơng được nhận ngay thì doanh

thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được

trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãi suất

hiện hành. Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơn giá trị danh

nghĩa sẽ thu được trong tương lai.

Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự

về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó khơng được coi là một giao dịch tạo ra doanh

thu.

Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ khác

khơng tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu. Trường

20



SVTH: Hoàng Thị Thủy



20



Lớp: K17D _SB



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x