Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Căn cứ theo Điều 18, Chương III, Thông tư 39/2014/Tt-BTC ban hành ngày 31/03/2014 quy định

Căn cứ theo Điều 18, Chương III, Thông tư 39/2014/Tt-BTC ban hành ngày 31/03/2014 quy định

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thúy



phải thu của khách hàng (TK111, TK112, TK131) theo tổng giá thanh toán, tăng doanh

thu bán hàng (TK511) theo doanh thu bao gồm thuế GTGT. Định kỳ, DN xác định số

thuế GTGT phải nộp, kế toán ghi giảm doanh thu tương ứng: ghi giảm doanh thu

(TK511), tăng thuế GTGT phải nộp (TK3331).

B. Doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ.

Đối với các DN hạch toán HTK theo phương pháp kiểm kê định kỳ, kế toán thực

hiện các công tác:

- Đầu kỳ kết chuyển trị giá HTK đầu kỳ: ghi tăng chi phí mua hàng (TK611), ghi

giảm hàng tồn kho (TK151, TK152,..) theo trị giá thực tế của hàng tồn kho.

- Cuối kỳ, căn cứ vào kết quả kiểm kể xác định giá trị hàng tồn kho tồn cuối kỳ:

ghi tăng hàng tồn kho (TK151, TK152,..), ghi giảm chi phí mua hàng (TK611).

- Trong kỳ, các nghiệp vụ phát sinh làm tăng, giảm trị giá hàng tồn kho phản ánh

thông qua TK611, không phản ánh qua TK hàng tồn kho.

1.2.2.4 Sổ kế tốn.

Theo điều 122 Thơng tư 200/2014/TT-BTC quy định: DN được tự xây dựng mẫu

sổ kế toán và hình thức ghi sổ kế tốn nhưng phải đảm bảo cung cấp thông tin về giao

dịch kinh tế một cách minh bạch, phản ánh đầy đủ, kịp thời, dễ kiểm tra, kiểm sốt và

dễ đối chiếu.

Nếu DN khơng tự xây dựng được, thì tuỳ thuộc từng hình thức kế toán áp dụng ở

doanh nghiệp mà hệ thống sổ kế tốn được mở để ghi chép, theo dõi, tính tốn xử lý và

tổng hợp số liệu lên các báo cáo kế toán. Dưới đây là các loại sổ sách được tổ chức

theo 5 hình thức kế tốn.

+Hình thức nhật kí chung: Đặc trưng cơ bản của hình thức kế tốn Nhật ký

chung: Tất cả các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh đều phải được ghi vào sổ Nhật

ký, mà trọng tâm là sổ Nhật ký chung, theo trình tự thời gian phát sinh và theo nội

dung kinh tế (định khoản kế tốn) của nghiệp vụ đó. Sau đó lấy số liệu trên các sổ

Nhật ký để ghi Sổ Cái theo từng nghiệp vụ phát sinh.

Hình thức kế tốn Nhật ký chung trong kế toán bán hàng bao gồm:

- Sổ Nhật ký chung, sổ Nhật ký đặc biệt.

- Sổ Cái.

- Các sổ, thẻ kế toán chi tiết.

SVTH: Nguyễn Thị Thanh



21

Lớp: K17D-SB



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thúy



Trình tự ghi sổ: Hằng ngày căn cứ vào các chứng từ đã kiểm tra được dùng làm

căn cứ ghi sổ, trước hết ghi nghiệp vụ phát sinh vào sổ Nhật ký chung, sau đó căn cứ

vào số liệu đã ghi trên sổ Nhật ký chung để ghi vào sổ Cái các tài khoản phù hợp. Nếu

đơn vị có mở sổ, thẻ kế tồn chi tiết thì đồng hời với việc ghi sổ Nhật ký chung, các

nghiệp vụ kế toán được ghi vào các sổ, thẻ kế toán chi tiết liên quan. Cuối tháng, cuối

quý, cuối năm cộng số liệu trên sổ Cái, lập bảng cân đối số phát sinh.Sauk hi kiểm tra

đối chiếu khớp, đúng số liệu ghi trên sổ Cái và bảng tổng hợp chi tiết được dùng để lập

các Báo cáo tài chính. (Xem ở phụ lục số 01)

+ Hình thức Chứng từ- ghi sổ: Đặc trưng cơ bản của hình thức kế tốn Chứng

từ ghi sổ: Căn cứ trực tiếp để ghi sổ kế toán tổng hợp là “Chứng từ ghi sổ”. Việc ghi sổ

kế toán tổng hợp bao gồm:Ghi theo trình tự thời gian trên Sổ Đăng ký Chứng từ ghi sổ

và ghi theo hệ thồng trên Sổ Cái của các tài khoản.

Chứng từ ghi sổ do kế toán lập trên cơ sở từng chứng từ kế toán hoặc bảng tổng

hợp chứng từ kế toán cùng loại, có cùng nội dung kinh tế. Chứng từ ghi sổ được đánh

số hiệu liên tục trong từng tháng hoặc cả năm và có chứng từ kế tốn đính kèm , phải

được kế toán trưởng duyệt trước khi ghi sổ kế tốn.

Hình thức kế tốn Chứng từ- ghi sổ kế tốn bán hàng sử dụng các loại sổ sau:

- Chứng từ ghi sổ

- Sổ Đăng ký chứng từ ghi sổ.

- Sổ Cái.

- Sổ, thẻ kế tốn chi tiết.

Trình tự ghi sổ: hằng ngày căn cứ vào các chứng từ kế toán hoặc Bảng tổng hợp

các chứng từ kế toán cùng loại đã được kiểm tra, được dùng làm căn cứ ghi sổ, kế toán

lập Chứng từ ghi sổ. Căn cứ vào Chứng từ ghi sổ để ghi vào sổ Đăng ký chứng từ ghi

sổ, sau đó được dùng để ghi vào sổ Cái. Các chứng từ kế toán sau khi làm căn cứ lập

Chứng từ ghi sổ được dùng để ghi vào sổ, thẻ kế toán chi tiết liên quan. Cuối tháng,

phải khóa sổ tính tổng số tiền của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong tháng trên sổ

Đăng ký Chứng từ ghi sổ, tính ra Tổng số phát sinh Nợ, Tổng số phát sinh Có và số dư

của từng tài khoản trên Sổ Cái. Căn cứ vào sổ Cái lập Bảng cân đối số phát sinh.Sau

khi đối chiếu khớp đúng, số liệu ghi trên sổ Cái và Bảng tổng hợp chi tiết được dùng

để lập BCTC.( Xem ở phụ lục số 02).

SVTH: Nguyễn Thị Thanh



22

Lớp: K17D-SB



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thúy



+ Hình thức Nhật ký - Sổ cái: Đặc trưng cơ bản của hình thức kế tốn Nhật ký Sổ Cái: các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh được kết hợp ghi chép theo trình tự

thời gian và theo nội dung kinh tế trên cùng một quyển sổ kế toán tổng hợp duy nhất là

sổ Nhật ký – Sổ cái. Căn cứ để ghi vào sổ Nhật ký – Sổ cái là các chứng từ kế toán

hoặc bảng tổng hợp các chứng từ kế toán cùng loại.

Theo hình thức kế tốn Nhật ký - Sổ Cái, kế toán bán hàng sử dụng các loại sổ

kế toán sau:

- Nhật ký - Sổ cái: Sổ này phản ánh tất cả các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát

sinh theo trật tự thời gian.

- Các sổ, thẻ kế tốn chi tiết.

Trình tự ghi sổ:Hàng ngày, kế tốn căn cứ vào các chứng từ kế toán hoặc Bảng

tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại đã được kiểm tra và được dùng làm căn cứ ghi sổ,

trước hết xác định tài khoản ghi Nợ, tài khoản ghi Có để ghi vào Sổ Nhật ký – Sổ Cái.

Số liệu của mỗi chứng từ (hoặc Bảng tổng hợp chứng từ kế tốn cùng loại) được ghi

trên một dòng ở cả 2 phần Nhật ký và phần Sổ Cái. Bảng tổng hợp chứng từ kế toán

được lập cho những chứng từ cùng loại (Phiếu thu, phiếu chi, phiếu xuất, phiếu nhập,

…) phát sinh nhiều lần trong một ngày hoặc định kỳ 1 đến 3 ngày. Chứng từ kế toán

và Bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại sau khi đã ghi Sổ Nhật ký – Sổ Cái, được

dùng để ghi vào Sổ, Thẻ kế tốn chi tiết có liên quan.Cuối tháng, sau khi đã phản ánh

tồn bộ chứng từ kế tốn phát sinh trong tháng vào Sổ Nhật ký – Sổ Cái và các sổ, thẻ

kế toán chi tiết, kế toán tiến hành cộng số liệu của cột số phát sinh ở phần Nhật ký và

các cột Nợ, cột Có của từng tài khoản ở phần Sổ Cái để ghi vào dòng cộng phát sinh

cuối tháng. Căn cứ vào số phát sinh các tháng trước và số phát sinh tháng này tính ra

số phát sinh luỹ kế từ đầu quý đến cuối tháng này. Căn cứ vào số dư đầu tháng (đầu

q) và số phát sinh trong tháng kế tốn tính ra số dư cuối tháng (cuối quý) của từng

tài khoản trên Nhật ký – Sổ Cái.Các sổ, thẻ kế toán chi tiết cũng phải được khóa sổ để

cộng số phát sinh Nợ, số phát sinh Có và tính ra số dư cuối tháng của từng đối tượng.

Căn cứ vào số liệu khoá sổ của các đối tượng lập “Bảng tổng hợp chi tiết” cho từng tài

khoản. Số liệu trên “Bảng tổng hợp chi tiết” được đối chiếu với số phát sinh Nợ, số

phát sinh Có và Số dư cuối tháng của từng tài khoản trên Sổ Nhật ký – Sổ Cái. Số liệu



SVTH: Nguyễn Thị Thanh



23

Lớp: K17D-SB



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thúy



trên Nhật ký – Sổ Cái và trên “Bảng tổng hợp chi tiết” sau khi khóa sổ được kiểm tra,

đối chiếu nếu khớp, đúng sẽ được sử dụng để lập báo cáo tài chính.(Xem ở phụ lục số 03)

+ Hình thức Nhật ký – Chứng từ: Đặc trưng cơ bản của hình thức kế tốn Nhật

ký – Chứng từ: tập hợp và hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo bên Có

của các tài khoản kết hợp với việc phân tích các nghiệp vụ kinh tế đó theo các tài

khoản đối ứng Nợ. Kết hợp chặt chẽ việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo

trình tự thời gian với việc hệ thống hóa các nghiệp vụ theo nội dung kinh tế. Kết hợp

rộng rãi việc hạch toán tổng hợp với hạch toán chi tiết trên cùng một sổ kế toán và

trong cùng một quá trình ghi chép. Sử dụng các mẫu sổ in sẵn các quan hệ đối ứng tài

khoản, chỉ tiêu quản lý kinh tế, tài chính và lập Báo các tài chính.

Theo hình thức kế tốn Nhật ký – Chứng từ, kế toán bán hàng sử dụng các loại sổ

kế toán sau:

- Nhật ký chứng từ;

- Bảng kê;

- Sổ Cái;

- Sổ hoặc các thẻ kế tốn chi tiết.

Trình tự ghi sổ: Hàng ngày căn cứ vào các chứng từ kế toán đã được kiểm tra lấy

số liệu ghi trực tiếp vào các Nhật ký – Chứng từ hoặc Bảng kê, sổ chi tiết có liên

quan.Đối với các loại chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh nhiều lần hoặc mang tính

chất phân bổ, các chứng từ gốc trước hết được tập hợp và phân loại trong các bảng

phân bổ, sau đó lấy số liệu kết quả của bảng phân bổ ghi vào các Bảng kê và Nhật ký –

Chứng từ có liên quan.Đối với các Nhật ký – Chứng từ được ghi căn cứ vào các Bảng

kê, sổ chi tiết thì căn cứ vào số liệu tổng cộng của bảng kê, sổ chi tiết, cuối tháng

chuyển số liệu vào Nhật ký - Chứng từ.Cuối tháng khoá sổ, cộng số liệu trên các Nhật

ký – Chứng từ, kiểm tra, đối chiếu số liệu trên các Nhật ký – Chứng từ với các sổ, thẻ

kế toán chi tiết, bảng tổng hợp chi tiết có liên quan và lấy số liệu tổng cộng của các

Nhật ký - Chứng từ ghi trực tiếp vào Sổ Cái.Đối với các chứng từ có liên quan đến các

sổ, thẻ kế tốn chi tiết thì được ghi trực tiếp vào các sổ, thẻ có liên quan. Cuối tháng,

cộng các sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết và căn cứ vào sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết để lập

các Bảng tổng hợp chi tiết theo từng tài khoản để đối chiếu với Sổ Cái.Số liệu tổng

cộng ở Sổ Cái và một số chỉ tiêu chi tiết trong Nhật ký – Chứng từ, Bảng kê và các

SVTH: Nguyễn Thị Thanh



24

Lớp: K17D-SB



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thúy



Bảng tổng hợp chi tiết được dùng để lập báo cáo tài chính. (Xem ở phụ lục số 04)

+ Hình thức kế tốn trên máy vi tính:Đặc trưng cơ bản của Hình thức kế tốn

trên máy vi tính là cơng việc kế tốn được thực hiện theo một chương trình phần mềm

kế tốn trên máy vi tính. Phần mềm kế tốn được thiết kế theo nguyên tắc của một

trong bốn hình thức kế tốn hoặc kết hợp các hình thức kế tốn quy định trên đây.

Phần mềm kế tốn khơng hiển thị đầy đủ quy trình ghi sổ kế tốn, nhưng phải in được

đầy đủ sổ kế toán và báo cáo tài chính theo quy định.

Trình tự ghi sổ: Hàng ngày, kế toán căn cứ vào chứng từ kế toán hoặc Bảng tổng

hợp chứng từ kế toán cùng loại đã được kiểm tra, xác định tài khoản ghi Nợ, tài khoản

ghi Có để nhập dữ liệu vào máy vi tính theo các bảng, biểu được thiết kế sẵn trên

phầm mềm kế tốn. Theo quy trình của phần mềm kế tốn, các thông tin được nhập

vào máy theo từng chứng từ và tự động nhập vào sổ kế toán tổng hợp (Sổ Cái hoặc

Nhật ký- Sổ Cái…) và các sổ, thẻ kế tốn chi tiết có liên quan. Cuối tháng (hoặc vào

bất kỳ thời điểm cần thiết nào), kế toán thực hiện các thao tác khố sổ và lập báo cáo

tài chính. Việc đối chiếu giữa số liệu tổng hợp với số liệu chi tiết được thực hiện tự

động và luôn đảm bảo chính xác, trung thực theo thơng tin đã được nhập trong kỳ.

Người làm kế tốn có thể kiểm tra, đối chiếu số liệu giữa sổ kế toán với báo cáo tài

chính sau khi đã in ra giấy. Cuối kỳ kế tốn sổ kế tốn được in ra giấy, đóng thành

quyển và thực hiện các thủ tục pháp lý theo quy định về sổ kế toán ghi bằng tay.(Xem

ở phụ lục số 05)



SVTH: Nguyễn Thị Thanh



25

Lớp: K17D-SB



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thúy



CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN BÁN MẶT HÀNG VẬT LIỆU XÂY

DỰNG TẠI CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI VIỆT WORLD.

2.1 Tổng quan tình hình và ảnh hưởng của các nhân tố môi trường đến cơng

tác kế tốn bán hàng tại cơng ty.

2.1.1 Tổng quan về công ty TNHH xây dựng và thương mại Việt World.

2.1.1.1 Q trình hình thành và phát triển

Tên: Cơng ty TNHH xây dựng và thương mại Việt World

Địa chỉ: Số 68 đường Đỗ Đức Dục, phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Số lượng lao động: 25 lao động.

Vốn điều lệ: 4.8 tỷ đồng.

Chức năng: là một doanh nghiệp hoạt động trong cả hai lĩnh vực là xây dựng và

thương mại, công ty TNHH xây dựng và thương mại Việt World có chức năng nhận và

thực hiện các dịch vụ tư vấn về các hoạt động thiết kế, xây dựng cho các đơn vị có nhu

cầu, và cung cấp các nguyên vật liệu, hàng hóa liên quan đến lĩnh vực xây dựng cho

khách hàng.

Nhiệm vụ: Tuân thủ chính sách, chế độ pháp luật của Nhà nước về quản lý quá

trình thực hiện sản xuất và tuân thủ những quy định trong các hợp đồng kinh doanh

với các bạn hàng trong và ngoài nước; Quản lý và sử dụng vốn theo đúng quy định;

Thực hiện việc nghiên cứu phát triển nhằm nâng cao sức cạnh tranh của công ty trên

thị trường trong và ngoài nước; Thực hiện những quy định của Nhà nước về bảo vệ

quyền lợi của người lao động, vệ sinh và an toàn lao động, bảo vệ môi trường sinh

thái, đảm bảo phát triển bền vững, thực hiện đúng những tiêu chuẩn kỹ thuật mà công

ty áp dụng cũng như những quy định có liên quan tới hoạt động của công ty; Gia tăng

giá trị của công ty thông qua việc thực hiện các dự án, công trình chất lượng; Duy trì

các khách hàng hiện tại và tìm kiếm các nguồn khách hàng tiềm năng cho cơng ty;

Tìm kiếm các thị trường mới; Thực hiện nghiêm chỉnh chế độ quản lý tài chính, tài sản

các chế độ chính sách các bộ và quyền lợi của người lao động theo chế độ tự chủ,

chăm lo đời sống, đào tạo bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ cho cán bộ ngày càng

cao.



SVTH: Nguyễn Thị Thanh



26

Lớp: K17D-SB



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thúy



Ngành nghề kinh doanh: là một công ty hoạt động đồng thời trong cả hai lĩnh

vực là xây dựng và thương mại, ngành nghề kinh doanh của Việt World: Xây dựng các

cơng trình chống thấm và chống nóng sàn mái; Xây dựng các cơng trình chống thấm

khu bếp; Hoạt động thiết kế chuyên dụng; Bán buôn máy móc thiết bị phụ tùng; Xây

dựng các cơng trình kỹ thuật dân dụng; Mua bán các mặt hàng về vật liệu xây dựng.

Quá trình hình thành và phát triển của công ty: Công ty được thành lập ngày

07 tháng 03 năm 2012 với số vốn điều lệ 4,8 tỷ đồng hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực

xây dựng các công trình chống nóng, chống thấm và thực hiện cung ứng các vật liệu

trong xây dựng. Sau khi thành lập vào năm 2012, cơng ty gồm có 10 thành viên đã tiến

hành xây dựng các kho hàng, các mặt hàng chính của cơng ty, cùng với việc tìm kiếm

các hợp đồng về xây dựng và thương mại, cũng như dần hoàn thiện bộ máy kinh

doanh của công ty. Sau hơn 4 năm hoạt công ty đã xây dựng được đội ngũ nhân viên

có trình độ cao lâu năm cộng với việc liên kết với các chuyên gia về công nghệ trong

và ngoài nước nhằm đáp ứng được tối đa nhu cầu của khách hàng. Đội ngũ nhân viên

được tăng lên từ 10 người lúc mới thành lập cho đến hiện tại là 25 người và nhân viên

được chun mơn hóa cho từng ban ngành, phù hợp với trình độ chun mơn của từng

người. Cùng với đó, hiệu quả kinh doanh của công ty cũng được nâng lên, theo BCTC

lợị nhuận sau thuế của công ty năm 2014 là (46,206,112) VNĐ , trong khi đó lợi nhuận

sau thuế năm 2012 là (138,103,786) VNĐ. Mặc dù cơng ty còn phải chịu lỗ nhưng số

tiền lỗ năm 2014 nhỏ hơn năm 2012 rất nhiều.

2.1.1.2 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty

Công ty TNHH xây dựng và thương mại Việt World là một đơn vị hoạt động

trong 2 lĩnh vực chính:

Xây dựng: là lĩnh vực chính của cơng ty – xây dựng các cơng trình đường sắt và

đường bộ, cụ thể là:

Xây dựng các cơng trình về chống nóng.

Xây dựng các cơng trình về chống thấm.

Cung ứng hàng hóa:

Cung cấp các vật liệu, nguyên liệu cần dùng cho các hoạt động xây dựng, xây

lắp cơng trình.

Cung cấp dịch vụ tư vấn thiết kế.

SVTH: Nguyễn Thị Thanh



27

Lớp: K17D-SB



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Căn cứ theo Điều 18, Chương III, Thông tư 39/2014/Tt-BTC ban hành ngày 31/03/2014 quy định

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x