Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 3: CÁC KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG NGUYÊN VẬT LIỆU XÂY DỰNG, ĐỒ GIA DỤNG VÀ NỘI THẤT TẠI CÔNG TY CP ĐẠI SIÊU THỊ MÊ LINH

Chương 3: CÁC KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG NGUYÊN VẬT LIỆU XÂY DỰNG, ĐỒ GIA DỤNG VÀ NỘI THẤT TẠI CÔNG TY CP ĐẠI SIÊU THỊ MÊ LINH

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Kế tốn-Kiểm tốn



hệ thống hóa theo các nghiệp vụ, trình tự thời gian trước khi đi vào lưu trữ.

Về trình tự hạch tốn

Kế tốn bán hàng cũng đã đảm bảo theo dõi sát sao tình hình bán hàng, đảm bảo

phản ánh chính xác, kịp thời doanh thu bán hàng, các khoản giảm trừ doanh thu bán

hàng, giá vốn hàng bán và các chi phí liên quan đến cơng tác bán hàng. Khi có nghiệp

vụ kinh tế phát sinh, kế toán phản ánh kịp thời, đầy đủ vào sổ Nhật ký chung, các sổ

chi tiết liên quan, sau đó phản ánh lên sổ Cái từng tài khoản, trình tự hạch tốn rõ ràng,

đầy đủ, khơng bỏ sót nghiệp vụ.

Về sổ sách kế toán:

Hệ thống sổ kế toán được xây dựng trên cơ sở của bộ tài chính và có vận dụng

linh hoạt với tình hình thực tế kinh doanh của công ty. Sổ sách được tổ chức có hệ

thống, phản ánh đầy đủ, có hiệu quả kết quả kinh doanh của cơng ty.

Cơng ty sử dụng hình thức nhật ký chung. Hình thức ghi sổ này đơn giản và gọn

nhẹ so với các hình thức sổ khác, phù hợp với công ty.

Tất cả các sổ tổng hợp và sổ chi tiết của công ty đều làm theo đúng mẫu của hình

thức Nhật ký chung theo quyết định 48/2006/QĐ-BTC của bộ tài chính. Để đơn giảm

và gọn nhẹ, kế tốn khơng sử dụng sổ nhật ký đặc biệt, do đó, mọi nghiệp vụ kinh tế

đều được phản ánh trên sổ nhật kí chung.

Về ứng dụng cơng nghệ thơng tin trong kế toán:

Với sự phát triển ngày càng mạnh của công nghệ thông tin, sự ra đời của các

phần mềm kế tốn. Cơng ty đã áp dụng phần mềm EXACT để nâng cao chất lượng kế

tốn tại Cơng ty. Giá bán của phần mềm này có giá khoảng vài trăm USD. Đặc điểm

của phần mềm này là khả năng xử lý đa dạng, phong phú, tính ổn định, tính kiểm soát,

chuyên nghiệp cao, hạn chế được các khả năng gian lận của nhân viên kế tốn, và được

Việt hóa và phù hợp với chế độ kế toán Việt Nam..Với việc sử dụng phần mềm SAS,

việc hạch tốn của cơng ty được thực hiện nhanh chóng, chính xác và hiệu quả hơn.



GVHD:PGS.TS Nguyễn Phú Giang

Lớp:K48D2



49 SV: Dỗn Thị Rượu Khánh



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Kế toán-Kiểm toán



Phần mềm kế toán Exact

3.1.2 Những mặt hạn chế, tồn tại và nguyên nhân

Mặc dù có nhiều cố gắng trong những năm qua trong cơng tác tổ chức bộ máy kế

tốn nói chung và trong cơng tác hạch tốn kế tốn bán hàng nói riêng của công ty

cũng không tránh khỏi những hạn chế yếu kém cần nghiên cứu và tiếp tục hoàn thiện

nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, hiệu quả của công tác kế toán.

Thứ nhất về chứng từ bán hàng

Chứng từ sử dụng được luân chuyển đúng quy định và có sự quy định trách

nhiệm rõ ràng. Nhưng tại phòng kế tốn văn phòng, mọi chứng từ tập hợp về lại chưa

có công tác phân loại (theo từng nội dung). Bộ chứng từ cho nghiệp vụ bán hàng phát

sinh được kế toán bán hàng lưu chung thành một tập gồm: Hoá đơn Giá trị gia tăng,

phiếu thu, giấy báo có .... Như vậy, khi muốn đối chiếu số liệu sẽ gây khó khăn và tốn

thời gian đặc biệt khi sử dụng chứng từ gốc làm căn cứ để ghi các sổ liên quan, lập

chứng từ ghi sổ hoặc khi cơ quan chức năng (Thuế) đến kiểm tra. Gần đây bộ phận kế

bị mất hóa đơn giá trị gia tăng, mà theo quy định mới hiện hành, khi doanh nghiệp làm

GVHD:PGS.TS Nguyễn Phú Giang

Lớp:K48D2



50 SV: Dỗn Thị Rượu Khánh



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Kế tốn-Kiểm tốn



mất HĐGTGT thì phải khai báo với cơ quan thuế và phải nộp phạt từ 10-20 triệu đồng

theo Điều 24 Thơng tư 39/2014/TT-BTC ngày 31/03/2014 của bộ tài chính. Việc đó đã

làm mất thời gian và chi phí của doanh nghiệp (lỗi khách quan) và cá nhận phải đền

(lỗi cá nhân).

Thứ hai về phương thức bán hàng

Hiện nay, công ty chỉ mới áp dụng phương thức bán buôn và bán lẻ thơng qua

việc tìm kiếm khách hàng trực tiếp là chủ yếu. Mặt khác, số lượng khách hàng cũng bị

hạn chế do số lượng đối thủ cạnh tranh trong cùng lĩnh vực tại địa bàn tương đối

nhiều. Công ty chưa đẩy mạnh khâu quảng cáo, giới thiệu sản phẩm rộng rãi.

Thứ ba về chính sách bán hàng

Cơng ty mới chỉ chiết khấu thanh toán, giảm giá chủ yếu cho các khách hàng

mua buôn mà chưa quan tâm nhiều tới khách hàng mua lẻ, mặc dù nhiều khách hàng

mua lẻ còn có đơn hàng trị giá cao hơn các khách hàng mua buôn (khách hàng thân

thiết). Điều này làm giảm sức cạnh tranh của Công ty trong lĩnh vực kinh doanh thiết

bị vệ sinh, đồ gia dụng hay nội thất với các đối thủ.

 Thứ tư về kế toán các khoản giảm trừ doanh thu:

Các khoản chiết khấu thương mại và giảm giá hàng bán phát sinh tại Công ty thì

khơng được thể hiện trên hóa đơn GTGT. Cơng ty chỉ thực hiện việc chiết khấu và

giảm giá cho khách bằng miệng, trên hợp đồng mua bán thì giá bán chính là giá đã

giảm hoặc được chiết khấu mà khơng thể hiện % giảm giá hoặc chiết khấu. Chiết khấu

thương mại mà khơng được thể hiện trên hóa đơn GTGT thì khơng được coi là chiết

khấu thương mại. Báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty, các khoản giảm trừ Doanh

thu bằng 0, trong khi trong năm có phát sinh các khoản giảm trừ, như vậy là phản ánh

không chính xác tình hình kinh doanh của cơng ty.

Theo Khoản 2.5 Phụ lục 4 Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài

chính quy định: “Hàng hóa, dịch vụ áp dụng hình thức chiết khấu thương mại dành

cho khách hàng thì trên hóa đơn GTGT ghi giá bán đã chiết khấu thương mại dành cho

khách hàng, thuế GTGT, tổng giá thanh tốn đã có thuế GTGT. Nếu việc chiết khấu

thương mại căn cứ vào số lượng, doanh số hàng hóa, dịch vụ thì số tiền chiết khấu của

hàng hóa đã bán được tính điều chỉnh trên hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ của lần mua

cuối cùng hoặc kỳ tiếp sau. Trường hợp số tiền chiết khấu được lập khi kết thúc

chương trình (kỳ) chiết khấu hàng bán thì được lập hóa đơn điều chỉnh kèm bảng kê

GVHD:PGS.TS Nguyễn Phú Giang

Lớp:K48D2



51 SV: Dỗn Thị Rượu Khánh



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Kế tốn-Kiểm tốn



các số hóa đơn cần điều chỉnh, số tiền, tiền thuế điều chỉnh. Căn cứ vào hóa đơn điều

chỉnh, bên bán và bên mua kê khai điều chỉnh doanh số mua, bán, thuế đầu ra, đầu

vào”.

Nghĩa là trên Hóa đơn GTGT của hàng bán ra, có thể chỉ ghi giá hàng bán theo giá đã

giảm mà không thể hiện phần chiết khấu giảm giá thì Hợp đồng mua bán giữa hai bên

phải nêu rõ giá bán chưa chiết khấu và tỷ lệ chiết khấu, để khi cơ quan thuế thanh tra

kiểm tra thì có thẻ mang Hợp đồng ra giải trình. Tuy nhiên, tại Cơng ty, việc chiết khấu

giảm giá cho khách hàng thực hiện bằng miệng, trên cả Hợp đồng và Hóa đơn đều

khơng thể hiện phần chiết khấu thương mại và giảm giá.

Ngoài ra, Doanh thu bán hàng phản ánh theo giá đã khấu trừ chiết khấu thương mại.

Cơng ty có thể xuất hố đơn theo giá đã giảm, việc xuất hoá đơn chiết khấu thương

mại thực hiện theo quy định tại điểm 5.5, mục IV, phần B Thông tư số 120/2003/TTBTC ngày 12/12/2003 của Bộ tài chính: “Hàng hố, dịch vụ có giảm giá ghi trên hóa

đơn thì trên hóa đơn phải ghi rõ: tỷ lệ % hoặc mức giảm giá, giá bán chưa có thuế

GTGT (giá bán đã giảm giá), thuế GTGT, tổng giá thanh toán đã có thuế GTGT. Nếu

việc giảm giá áp dụng căn cứ vào số lượng, doanh số hàng hoá, dịch vụ thực tế mua

đạt mức nhất định thì số tiền giảm giá của hàng hố đã bán được tính điều chỉnh trên

hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ của lần mua cuối cùng hoặc kỳ tiếp sau. Trên hoá đơn

phải ghi rõ số hóa đơn và số tiền được giảm giá”. Và ghi sổ theo các bút toán:

Phản ánh giá vốn: Nợ TK 632 /Có TK 156

Phản ánh doanh thu (khơng hạch tốn qua TK 521):

Nợ TK 111, 112, 131 /Có TK 511, Có TK 3331(Nếu có)

Như vậy, việc ghi nhận chiết khấu thương mại và giảm giá hàng bán của công ty chưa

đúng với quy định hiện hành. Hơn nữa, khơng hạch tốn các khoản giảm trừ Doanh

thu vào tài khoản 521 (chi tiết cho các khoản giảm trừ) sẽ làm cho Báo cáo tài chính

của cơng ty phản ánh khơng chính xác Doanh số bán ra, khả năng tiêu thụ thép của

Công ty do TK 511 – “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” được ghi nhận theo

giá đã giảm trừ.

Thứ năm về việc trích lập dự phòng phải thu khó đòi

Hiện nay cơng ty đang tồn tại một số khoản công nợ tồn đọng trên một năm từ

những năm trước vẫn chưa xử lý, do đa số khách hàng của Công ty là các công ty kinh

doanh về một trong các mặt hàng mà công ty phân phối như: Thiết bị vệ sinh, đồ gia

dụng, nội thất...Với khách hàng mua lẻ thì sẽ trả tiền ngay tại quầy thu nhân hoặc khi

nhận được hàng tại nhà, còn với khách hàng mua bn do chủ yếu là khách quen, thân

thiết của công ty nên Công ty chủ quan khơng lập dự phòng hoặc đơi khi chỉ trích lập

GVHD:PGS.TS Nguyễn Phú Giang

Lớp:K48D2



52 SV: Dỗn Thị Rượu Khánh



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Kế toán-Kiểm toán



một phần nhở đới với khoản nợ lớn. Khi xảy ra trường hợp công ty khơng đòi được nợ

sẽ ảnh hưởng khá lớn tới tình hình tài chính của cơng ty tại thời điểm đó.

Thứ sáu về việc trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho

Do công ty kinh doanh rất nhiều mặt hàng và chủ yếu là mặt hàng thiết bị vệ

sinh, đồ gia dụng và nội thất. Đặc điểm của các mặt hàng đó là dễ bị vỡ, bị cũ nếu như

khơng được bảo quản và lau chùi thường xuyên, hơn nữa đó là những sản phẩm có tác

dụng là trang trí nội thất cho căn nhà nên sẽ bị lỗi thời nếu như để tồn đọng quá lâu. Vì

trong quá trình hội nhập và phát triển của thị trường, hàng hóa nhập vào nước ta rất

nhiều và tràn lan, nếu không đưa ra được mẫu đẹp và chất lượng hơn họ thì sẽ khơng

bán được. Hiện nay ở khu vực đó có rất nhiều các cơng ty kinh doanh chủ yếu từng

loại mặt hàng mà Công ty đang kinh doanh nên sự cạnh tranh về giá là rất gay gắt.

Hiện tại cơng ty trích lập dự phòng ở mức rất thấp so với thực tế cần trích lập, điều này

sẽ ảnh hưởng khơng tốt khi giá của các mặt hàng đó giảm, mà giảm giá thì sẽ ảnh

hưởng rất lớn tới tình hình tài chính của Cơng ty trong kỳ đó.

3.2 Các đề xuất, kiến nghị về kế toán bán hàng nguyên vật liệu xây dựng, đồ gia

dụng và nội thất tại công ty CP Đại siêu thị Mê Linh

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về kế toán bán hàng và tìm hiểu thực tế cơng tác

quản lý nói chung, cơng tác kế tốn nghiệp vụ bán hàng nói riêng tại Công ty CP Đại

siêu thị Mê Linh, em xin đề ra một số giải giáp nhằm hoàn thiện nghiệp vụ kế tốn nói

chung và nghiệp vụ bán mặt hàng xi măng nói riêng tại Cơng ty CP Đại siêu thị Mê

Linh như sau:

Giải pháp thứ nhất về hoàn thiện chứng từ bán hàng

Để giảm thiểu rủi ro khi có tranh chấp với khách hàng liên quan tới quá trình bán

hang hoặc mất hóa đơn thì Cơng ty cần lập Biên bản giao nhận hàng hóa, thành phẩm

khi chuyển giao hàng hóa, thành phẩm cho khách hang và có nơi lưu trữ hóa đơn riêng

trước khi lên hệ thống kẹp và lưu file cứng. Trên Biên bản giao nhận cần ghi rõ ngày

(giờ) giao nhận; số lượng, chủng loại, chất lượng hàng hóa hàng hóa; chữ ký của người

giao và người nhận;….Mẫu Biên bản giao nhận hàng hóa, thành phẩm (Phụ lục 15).

Về việc sắp xếp bộ chứng từ bán hàng thì Cơng ty nên lưu trữ các chứng từ cùng

loại với nhau như: Phiếu thu xếp cùng chung sổ Chứng từ thu, Giấy báo có xếp chung

GVHD:PGS.TS Nguyễn Phú Giang

Lớp:K48D2



53 SV: Dỗn Thị Rượu Khánh



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Kế tốn-Kiểm tốn



cùng sổ Chứng từ ngân hàng, Hóa đơn lưu chung một sổ, phiếu xuất và biên bản giao

nhận hàng hóa, thành phẩm nên kẹp chung và lưu chung một sổ, tương tự cho hợp

đồng kinh tế và các chứng từ khác.

Giải pháp thứ hai về hoàn thiện phương thức bán hàng

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì các phương thức bán hàng ngày

càng đa dạng hơn, có các phương thức bán hàng mới như bán háng qua mạng đang

ngày một phát triển hơn tại Viêt Nam. Mà hiện nay Công ty mới chỉ áp dụng phương

thức bán hàng thơng qua tìm kiếm khách hàng trực tiếp. Em xin đề xuất giải pháp

nhằm đa dạng hóa phương thức bán hàng tại Công ty như sau: Công ty đã có website

cung cấp các thơng tin về cơng ty cũng như sản phẩm mà Công ty đang kinh doanh,

nhưng Cơng ty nên nhờ vào website đó để quảng bá,giới thiệu về các sản phẩm, tính

năng nhằm giúp mở rộng hơn các đối tượng khách hàng ở các khu vực khác. Công ty

nên đăng ký các quảng cáo trên TV hoặc báo đài nhằm tìm kiếm khách hàng.

Như đã nêu ra ở phần hạn chế về phương thức bán hàng thì chế độ mua hàng cho

khách lẻ rất ít. Lợi ích lớn nhất của việc đầu tư vào khách hàng mua lẻ đó là thu được

tiền ngay, khơng bị chiếm dụng vốn vì vậy cơng ty nên đưa ra nhiều chính sách đãi

ngộ hợp lý với những khách lẻ, đặc biệt là khách hàng mua lẻ nhưng với số lượng lớn.

Như giảm giá, hoặc là tặng quà đính kèm

Bán hàng hội chợ:

Hàng năm công ty nên tổ chức các chưng trình bán hàng hội chợ để thu hút nhiều

khách hàng hơn và có thể bán hàng cho cả nhân viên trong công ty với giá ưu đãi hơn.

Mấu chốt không phải là thu được một khoản tiền lớn từ việc bán hàng này. Mấu chốt

là Công ty bán được những sản phẩm đầu tiên, tiếp cận được với những khách hàng

đầu tiên, Cơng ty có thể nhận được những phản hồi thực sự, hiểu được những cảm xúc

của mọi người khi lần đầu tiên họ thấy sản phẩm, lắng nghe những ngôn ngữ mà họ sử

dụng để dùng trong các trường hợp cần thiết. Từ đó thấy được vai trò quan trọng của

những khách hàng đầu tiên, những đơn hàng đầu tiên và danh sách tiếp thị mà Công ty

xây dựng. Và quan trọng nhất, thông tin phản hồi nhận được từ những người sẵn sàng

chia sẻ về những gì họ thích và khơng thích về sản phẩm mà Công ty bán. Và để cho

nhiều khách hàng biết đến hội chợ thưng mại diễn ra trong vài ngày đó thì bộ phận

GVHD:PGS.TS Nguyễn Phú Giang

Lớp:K48D2



54 SV: Dỗn Thị Rượu Khánh



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Kế tốn-Kiểm tốn



Marketing, phòng truyền thơng quảng cáo cũng phải có những chiến lược quảng cáo

thật tốt.

Công ty cũng nên xem xét thêm phương thức Bán hàng đại lý và phát huy, đẩy

mạnh hình thức bán bn hàng hóa nhằm đa dạng hóa phương thức bán hàng và tìm

kiếm thêm được nhiều khách hàng mới, tiềm năng và quay vòng vốn nhanh.

Ghi nhận kế tốn đối với phương thức Bán hàng đại lý:

- Khi Công ty giao hàng cho cơ sở nhận đại lý: đơn vị xuất kho hàng hóa để giao

đại lý kế tốn căn cứ vào phiếu xuất kho hoặc phiếu điều chuyển hàng hóa (thành

phẩm) ghi Nợ TK hàng gửi bán (157), ghi Có TK thành phẩm (155) theo giá trị thực tế

xuất kho.

- Khi nhận được bảng thanh toán hàng bán đại lý, ký gửi do cơ sở nhận đại lý

lập và các chứng từ thanh toán, kế toán phản ánh doanh thu, hoa hồng đại lý dành cho

bên nhận bán hàng đại lý:

+ Trường hợp bên nhận đại lý đã khấu trừ tiền hoa hồng, kế toán ghi Nợ TK tiền

mặt (1111), tiền gửi ngân hàng (1121) theo số tiền thực nhận theo giá thanh tốn, Nợ

TK chi phí bán hàng (6421) số tiền hoa hồng chưa có thuế GTGT, Nợ TK thuế GTGT

được khấu trừ tính trên số tiền hoa hồng (133), ghi Có TK doanh thu bán thành phẩm

(5112) theo giá chưa thuế GTGT, Có TK thuế GTGT đầu ra phải nộp (333111).

+ Trường hợp hoa hồng trả theo định kỳ (đơn vị nhận hàng đại lý không khấu trừ

ngay tiền hoa hồng), kế toán ghi Nợ TK tiền mặt (1111), tiền gừi ngân hàng (1121)

hoặc khoản phải thu của khách hàng (131) theo giá bán đã có thuế của hàng hóa đã

bán, ghi Có TK doanh thu bán thành phẩm (5112) theo giá bán chưa có thuế GTGT,

ghi có TK thuế GTGT đầu ra phải nộp (33311). Khi thanh toán tiền hoa hồng cho cơ

sở đại lý, kế tốn ghi Nợ TK chi phí bán hàng (6421), Nợ TK thuế GTGT được khấu

trừ tính trên tiền hoa hồng (133), ghi Có TK tiền mặt (1111), tiền gửi ngân hàng (112).

- Cuối kỳ kế toán xác định giá vốn của số hàng gửi bán đã xác định tiêu thụ, kế

tốn ghi Nợ TK giá vốn (632), ghi Có TK hàng gửi bán (157) theo giá trị thực tế hàng

gửi bán.

Giải pháp thứ ba về hồn thiện chính sách bán hàng

Hiện tại Cơng ty chủ yếu chỉ áp dụng chính sách chiết khấu thương mại và chiết

khấu thanh toán trong bán hang cho các khách hàng thân thiết . Nhằm thu hút thêm

GVHD:PGS.TS Nguyễn Phú Giang

Lớp:K48D2



55 SV: Doãn Thị Rượu Khánh



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Kế tốn-Kiểm tốn



khách hàng và nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty, em xin đề xuất ý kiến là

Công ty nên áp dụng hai chính sách này trong bán hàng trực tiếp cho khách hàng mua

lẻ vì những lợi ích mà hai chính sách đem lại là rất lớn.

Trên thực tế thì cơng ty chỉ đưa chương trình giảm giá 5%, 7% hay bao nhiêu phần

trăm đó được niêm yết trên sản phẩm mà khơng áp dụng chính sách CKTM cho khách

hàng. Nhưng với chính sách chiết khấu thương mại thì người mua sẽ được chiết khấu một

khoản khi mua hàng với một số lượng lớn. Điều này sẽ kích thích người mua đặt hàng với

số lượng lớn với chi phí rẻ hơn và giúp cho Công ty kinh doanh hiệu quả hơn.

Ghi nhận kế tốn đối với chính sách chiết khấu thương mại

Khi bán hàng, khách hàng mua hàng hóa với số lượng đủ lớn theo chính sách của

cơng ty, khi đó khách hàng sẽ được hưởng một khoản chiết khấu thương mại.Ví dụ với

mỗi hóa đơn trên 50 triệu đồng khách hàng sẽ được giảm 2% trên tổng hóa đơn. Khi

phát sinh khoản chiết khấu thương mại giảm trừ cho khách hàng kế toán ghi Nợ TK

chiết khấu thương mại (5211) theo số chiết khấu cho khách hàng, ghi Nợ TK thuế

GTGT phải nộp (333111) tính trên khoản chiết khấu đồng thời ghi Có TK tiền mặt

(1111), tiền gửi ngân hàng (1121) hoặc phải thu của khách hàng (131) theo tổng số

giảm trừ

Ghi nhận kế tốn đối với chính sách chiết khấu thanh tốn

Mức chiết khấu có thể được áp dụng cụ thể như sau: Nếu hạn thanh tốn của cơng ty là

20 ngày thì khi khách hàng trả tiền sớm trong vòng 5 ngày thì sẽ được hưởng mức

chiết khấu thanh tốn là 2% trên tổng số tiền còn nợ, nếu thanh tốn trong vòng từ 6

tới 15 ngày sẽ được hưởng 1% trên tổng số tiền còn nợ. Tất cả các điều khoản thanh

toán này phải ghi rõ trên hợp đồng kinh tế ký kết giữa hai bên. Khoản chiết khấu này

được hạch tốn vào TK 635 “Chi phí hoạt động tài chính”.

Trường hợp cơng ty trừ ln chiết khấu thanh toán vào số tiền hàng phải thu khi

khách hàng thanh toán tiền hàng, Kế toán sẽ ghi tăng số tiền thực tế nhận được bên Nợ

TK 111, 112; ghi tăng Chi phí hoạt động tài chính (Nợ TK 635) và ghi giảm số tiền

phải thu (Có TK 131).

Trường hợp khách hàng thanh toán ngay khi mua hàng và theo điều khoản của

hợp đồng khách hàng được hưởng chiết khấu thành tốn(chiết khấu thanh tốn trên

hóa đơn) kế tốn ghi tăng khoản tiền thu được (Nợ TK112), tăng khoản Chi phí hoạt

động tài chính (Nợ tk635), ghi tăng doanh thu hàng bán (Có TK 5111), tăng thuế phải

GVHD:PGS.TS Nguyễn Phú Giang

Lớp:K48D2



56 SV: Dỗn Thị Rượu Khánh



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Kế tốn-Kiểm tốn



nộp (Có TK3331)

Cuối kỳ kế tốn thực hiện bút tốn kết chuyển chi phí hoạt động tài chính sang tài

khoản 911 để xác định kết quả kinh doanh.

Khi thực hiện chính sách chiết khấu thanh tốn cho khách hàng sẽ tăng khoản chi

phí tài chính do chiết khấu thanh toán, tuy nhiên lại thu hồi được vốn nhanh nên có thể

giảm được chi phí lãi vay. Thực hiện chính sách này hiệu quả, cơng ty có thể giảm

được lượng lớn chi phí lãi vay, tăng lợi nhuận, quay vòng vốn nhanh.

Giải pháp thứ tư về hồn thiện chính sách giảm giá, bị trả lại hàng bán.

Cơng ty cần có đầy đủ các chứng từ hợp lệ chứng minh cho khoản chiết khấu

thương mại, giảm giá, bị trả lại hàng bán thực sự phát sinh:

- Thứ nhất: Khi tiến hành chiết khấu thương mại cho khách hàng mua với số lượng

lớn, Công ty cần phải làm Hợp đồng mua bán, trong hợp đồng có nêu rõ giá bán chưa trừ

chiết khấu, chiết khấu cho bên mua với tỷ lệ bao nhiêu %, giá bán đã trừ chiết khấu.

Hiện nay, khi khách hàng mua với số lượng lớn, Công ty sẽ chiết khấu thương

mại cho khách hàng theo tỷ lệ thích hợp tùy thuộc vào lượng hàng mà bên mua đặt

mua. Giá bán trên hóa đơn là giá bán đã được chiết khấu thương mại so với hợp đồng,

do đó cơng ty khơng hạch tốn khoản chiết khấu thương mại vào tài khoản 5211 mà

ghi nhận doanh thu theo giá đã trừ chiết khấu.

- Thứ hai: Khi phát sinh nghiệp vụ chiết khấu thương mại hay giảm giá hàng bán

thì trên hóa đơn GTGT do cơng ty phát hành, phải thể hiện rõ tỷ lệ giảm giá, chiết

khấu, giá bán đã giảm và hạch toán các khoản giảm trừ trên TK 521 chứ không khấu

trừ trực tiếp vào TK 511.

Hiện nay, một số trường hợp phát sinh giảm giá hàng bán trong q trình bán

hàng của Cơng ty như: bên mua nhận hàng, thấy hàng hóa màu sắc khơng được mới,

đẹp hay trầy xước, cong, vênh so với mẫu trưng bày thì cơng ty chấp nhận giảm giá.

Tương tự như chiết khấu thương mại, giá ghi trên hóa đơn là giá đã giảm (khơng ghi

số tiền đã giảm giá trên hóa đơn) nên cơng ty khơng hạch tốn khoản giảm giá này lên

tài khoản 5213 và hạch toán doanh thu theo giá đã giảm như trên hóa đơn. Thơng

thường bên mua đến tận kho của Công ty để nhận hàng, hoặc đã nắm được thực trạng

hàng hóa của cơng ty, khi đồng ý mua và thỏa thuận xong giá cả thì kế tốn mới xuất

hóa đơn GTGT, do đó ít xảy ra trường hợp hàng hóa đã xuất hóa đơn, nhưng không

đúng phẩm chất chất lượng nên phải giảm giá.

- Thứ ba:đối với trường hợp giảm giá hàng bán do không đúng quy cách, chất

lượng, hai bên lập biên bản điều chỉnh giảm giá, căn cứ vào biên bản được lập, cơng ty

xuất hóa đơn giảm giá cho lơ hàng đó, nội dung hóa đơn sẽ ghi là : " Điều chỉnh giảm

doanh thu cho HĐKT số.... ký ngày......., “hóa đơn đã xuất số..... ngày......", số tiền

GVHD:PGS.TS Nguyễn Phú Giang

Lớp:K48D2



57 SV: Dỗn Thị Rượu Khánh



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Kế tốn-Kiểm tốn



khơng được ghi số âm.

Khi phát sinh nghiệp vụ chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, ngoài việc

phải thể hiện rõ tỷ lệ giảm giá trên hóa đơn thì kế toán phải phản ánh vào TK 521 –

“Các khoản giảm trừ doanh thu”

-Thứ tư: Đối với việc hàng bán bị trả lại cần lập hóa đơn hủy kẹp vào file với hóa

đơn đã lập trước. Hàng bị trả lại phải được xử lý và có kho để riêng để xuất trả lại nhà

cung cấp. Tránh việc xuất nhầm hàng lần sau và sẽ dẫn tới mất thời gian và giảm uy tín

của cơng ty đối với khách hàng.

 Hạn chế tối đa việc giảm giá hàng bán và hàng bị trả lại từ đó có thể

giảm bớt cơng việc cho kế toán mà và cũng đánh giá, khẳng định được chất lượng, giá

trị các mặt hàng của công ty. Mang lại sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng.

Giải pháp thứ năm về hồn thiện việc trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi

Do những hạn chế đã nêu trong phần “3.1. Những tồn tại và nguyên nhân”. Vì

vậy em xin đề xuất Cơng ty nên tính tốn khoản nợ có khả năng khó đòi và tính tốn

lập dự phòng để đảm bảo sự phù hợp giữa doanh thu và chi phí trong kỳ.

Trong kinh doanh thì DN luôn phải chấp nhận rủi ro và để giảm thiểu tối đa xảy

ra rủi ro tình trạng khủng hoảng về vốn khi phải bù đắp cho những khách hàng khó đòi

thì DN phải tính tốn mức dự phòng khó đòi, Cơng ty đánh giá khả năng thanh tốn

của mỗi khách hàng là bao nhiêu phần trăm trên cơ sở số nợ thực và tỷ lệ có khă năng

khó đòi tính ra dự phòng nợ thất thu. Đối với các khoản nợ khó đòi q hạn, sau nhiều

lần cơng ty gửi cơng văn tới đòi nợ mà khơng đòi được, nếu cơng ty đó đang còn hoạt

động thì DN sẽ thu hồi khoản nợ đó bằng những tài sản có giá trị của công ty tương

đương với số tiền mà công ty đó nợ (dựa trên hợp đồng kinh tế 2 bên đã thỏa thuận).

Còn nếu cơng ty đó đã phá sản thì DN sẽ hủy các khoản nợ khó đòi đó và hạch tốn

vào tài khoản chi phí khác của cơng ty đối trừ với khoản trích lập dự phòng.

Đối với khoản nợ thất thu, sau khi xoá khỏi bảng cân đối kế tốn, kế tốn cơng ty

một mặt tiến hành đòi nợ, mặt khác theo dõi ở TK004- Nợ khó đòi đã xử lý. Nếu sau

khi xóa nợ, khách hàng có khả năng thanh tốn và doanh nghiệp đã đòi được nợ đã xử

lý, thì số nợ thu được sẽ hạch toán ghi tăng vào TK 711: Thu nhập khác, ghi tăng số

tiền thu được. Đồng thời, ghi đơn vào Bên Có TK 004 “Nợ khó đòi đã xử lý”

Khi lập dự phòng phải thu khó đòi Cơng ty phải tuân thủ theo Thông tư số

228/2009/TT-BTC “Thông tư hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự

phòng giảm giá hàng tờn kho, tổn thất các khoản đầu tư tài chính, nợ phải thu khó đòi

GVHD:PGS.TS Nguyễn Phú Giang

Lớp:K48D2



58 SV: Dỗn Thị Rượu Khánh



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Kế tốn-Kiểm tốn



và bảo hành sản phẩm, hàng hóa, cơng trình xây lắp tại doanh nghiệp”

Thơng tư số 228/2009/TT-BTC có quy định về việc trích lập dự phòng nợ phải

thu khó đòi như sau:

Điều kiện: là các khoản nợ phải thu khó đòi đảm bảo các điều kiện sau:

- Khoản nợ phải có chứng từ gốc, có đối chiếu xác nhận của khách nợ về số tiền

còn nợ, bao gồm: hợp đồng kinh tế, khế ước vay nợ, bản thanh lý hợp đồng, cam kết

nợ, đối chiếu công nợ và các chứng từ khác.

Các khoản không đủ căn cứ xác định là nợ phải thu theo quy định này phải xử lý

như một khoản tổn thất.

- Có đủ căn cứ xác định là khoản nợ phải thu khó đòi:

+ Nợ phải thu đã quá hạn thanh toán ghi trên hợp đồng kinh tế, các khế ước vay

nợ hoặc các cam kết nợ khác.

+ Nợ phải thu chưa đến thời hạn thanh tốn nhưng tổ chức kinh tế (các cơng ty,

doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, tổ chức tín dụng..) đã lâm vào tình trạng phá sản

hoặc đang làm thủ tục giải thể; người nợ mất tích, bỏ trốn, đang bị các cơ quan pháp

luật truy tố, giam giữ, xét xử, đang thi hành án hoặc đã chết.

Phương pháp lập dự phòng:

Doanh nghiệp phải dự kiến mức tổn thất có thể xảy ra hoặc tuổi nợ quá hạn của

các khoản nợ và tiến hành lập dự phòng cho từng khoản nợ phải thu khó đòi, kèm theo

các chứng cứ chứng minh các khoản nợ khó đòi nói trên. Trong đó:

- Đối với nợ phải thu quá hạn thanh toán, mức trích lập dự phòng như sau:

+ 30% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ trên 6 tháng đến dưới 1 năm.

+ 50% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 1 năm đến dưới 2 năm.

+ 70% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 2 năm đến dưới 3 năm.

+ 100% giá trị đối với khoản nợ phải thu từ 3 năm trở lên.

- Đối với nợ phải thu chưa đến hạn thanh toán nhưng tổ chức kinh tế đã lâm vào

tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; người nợ mất tích, bỏ trốn, đang bị

các cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử hoặc đang thi hành án hoặc đã chết…

thì doanh nghiệp dự kiến mức tổn thất không thu hồi được để trích lập dự phòng.

- Sau khi lập dự phòng cho từng khoản nợ phải thu khó đòi, doanh nghiệp tổng

hợp tồn bộ khoản dự phòng các khoản nợ vào bảng kê chi tiết để làm căn cứ hạch

GVHD:PGS.TS Nguyễn Phú Giang

Lớp:K48D2



59 SV: Doãn Thị Rượu Khánh



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 3: CÁC KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG NGUYÊN VẬT LIỆU XÂY DỰNG, ĐỒ GIA DỤNG VÀ NỘI THẤT TẠI CÔNG TY CP ĐẠI SIÊU THỊ MÊ LINH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x