Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kết cấu luận văn

Kết cấu luận văn

Tải bản đầy đủ - 0trang

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG

VỐN KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP

1.1.



Cơ sở lý luận về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh



doanh

1.1.1. Vốn kinh doanh

1.1.1.1 Khái niệm Vốn kinh doanh

Theo sự phát triển của lich sử, các quan điểm về vốn xuất hiện

và ngày càng hoàn thiện, tiêu biểu có các cách hiểu về vốn như sau

của một số nhà kinh tế học thuộc các trường phái kinh tế khác nhau.

Các nhà kinh tế học cổ điển tiếp cận vốn với góc độ hiện vật. Họ

cho rằng, vốn là một trong những yếu tố đầu vào trong quá trình sản

xuất kinh doanh. Cách hiểu này phù hợp với trình độ quản lý kinh tế

còn sơ khai – giai đoạn kinh tế học mới xuất hiện và bắt đầu phát

triển.

Theo quan điểm của C. Mác – nhìn nhận dưới góc độ của các yếu

tố sản xuất thì C. Mác cho rằng: “Vốn chính là tư bản, là giá trị đem

lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất”. Tuy

nhiên, C. Mác quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra

giá tri thặng dư cho nền kinh tế. Đây là một hạn chế trong quan

điểm của C. Mác.

Paul.A.Samuelson, nhà kinh tế học theo trường phái Tân cổ điển

đã kế thừa các quan điểm của trường phái cổ điển về yếu tố sản xuất

để phân chia các yếu tố của đầu vào sản xuất thành ba bộ phận là

đất đai, lao động và vốn. Theo ơng: “Vốn là tất cả hàng hóa được

sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất mới, là đầu vào

cho hoạt động sản xuất kinh doah của một doanh nghiệp, đó có thể

là máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ”…

Trong quan niệm về vốn của Samuelson không đề cập đến các tài



11



11



sản, chính những tài sản có giá có thể đem lại lợi nhuận cho doanh

nghiệp, ông đã đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp.

Trong cuốn kinh tế học của David Beeg, tác giả đã đưa ra hai

đinh nghĩa về vốn: Vốn hiện vật và vốn tài chính của doanh nghiệp.

“Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá, sản phẩm đã sản xuất ra để

sản xuất các hàng hố khác. Vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có

giá trị của doanh nghiệp”. Như vậy David Beeg đã bổ sung đinh

nghĩa vốn tài chính cho đinh nghĩa vốn của Samuelson.

Một điểm chung có thể nhận thấy ở quan điểm của các nhà kinh

tế về vốn là: Vốn là yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình sản xuất

kinh doanh, được sử dụng để sản xuất ra hàng hoá và dich vụ cung

cấp cho thi trường.

Để các yếu tố đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất thì doanh

nghiệp phải có một lượng tiền ứng trước, lượng tiền ứng trước này

gọi là vốn. Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ vật tư,

tài sản được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm thu lại

lợi nhuận.

1.1.1.2 Phân loại vốn kinh doanh



Vốn giữ vai trò đặc biệt quan trọng, thiết yếu trong hoạt động

sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, việc phân loại vốn theo cách

thức khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp đề ra được các giải pháp quản

lý và sử dụng sao cho hiệu quả.

 Căn cứ theo nguồn hình thành vốn.

 Vốn chủ sở hữu



Vốn chủ sở hữu là số vốn góp do chủ sở hữu, các nhà đầu tư

đóng góp. Số vốn này không phải là một khoản nợ, doanh nghiệp

khơng phải cam kết thanh tốn, khơng phải trả lãi suất. Tuy nhiên, lợi

nhuận thu được do kinh doanh có lãi của doanh nghiệp sẽ được chia

cho các cở đơng theo tỷ lệ phần vốn góp cho mình. Tuỳ theo loại hình

doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu được hình thành theo các cách thức



12



12



khác nhau. Thơng thường ng̀n vốn này bao gồm vốn góp và lãi

chưa phân phối.

 Nợ phải trả



Nợ phải trả là nguồn vốn kinh doanh ngồi vốn pháp đinh được

hình thành từ ng̀n đi vay, đi chiếm dụng của các tổ chức, đơn vi,

cá nhân và sau một thời gian nhất đinh, doanh nghiệp phải hoàn trả

cho người cho vay cả lãi và gốc. Vốn vay có hai loại là vốn vay ngắn

hạn và vốn vay dài hạn. Phần vốn này doanh nghiệp được sử dụng

với những điều kiện nhất đinh (như thời gian sử dụng, lãi suất, thế

chấp...) nhưng không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp.

Nợ phải trả phát sinh từ các giao dich và sự kiện đã qua như

mua hàng chưa trả tiền, sử dụng dich vụ chưa thanh toán, vay nợ,

phải trả công nhân viên, phải trả phải nộp khác…

 Căn cứ theo thời gian huy động vốn

 Vốn thường xuyên



Vốn thường xuyên là nguồn vốn có tính chất ổn đinh và dái hạn

mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đầu tư vao ftài sản cố đinh và

một bộ phận tài sản lưu động tối thiểu thường xuyên cần thiết cho

hoạt động doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm vốn chủ sở hữu và

vốn vay dài hạn của doanh nghiệp.

 Vốn tạm thời



Vốn tạm thời là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm)

mà doanh số có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu có tính chất tạm

thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn và

các khoản chiếm dụng của bạn hàng.

 Căn cứ theo đặc điểm luân chuyển của vốn

 Vốn cố định



Vốn cố đinh của doanh nghiệp là một bộ phận đầu tư ứng trước về

tài sản cố đinh và tài sản đầu tư cơ bản, mà đặc điểm luân chuyển



13



13



từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và hồn thành một

vòng t̀n hồn khi tài sản cố đinh hết thời gian sử dụng.

Quy mô của vốn cố đinh quyết đinh quy mô của tài sản cố đinh

nhưng các đặc điểm của tài sản cố đinh lại ảnh hưởng đến sự vận

động và công tác quản lý cố đinh. Muốn quản lý vốn cố đinh một

cách hiệu quả thì phải quản lý sử dụng tài sản cố đinh một cách hữu

hiệu.

 Vốn lưu động



Vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sản

lưu động và tài sản lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản

xuất của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên liên tục.

Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn, thường xuyên luân

chuyển trong quá trình kinh doanh. Tài sản lưu động tồn tại dưới

dạng dự trữ sản xuất (nguyên vật liệu, bán thành phẩm, công cụ,

dụng cụ...) sản phẩm đang trong quá trình sản xuất (sản phẩm dở

dang), thành phẩm, chi phí tiêu thụ, tiền mặt... trong giai đoạn lưu

thông. Trong bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp thì tài sản lưu

động chủ yếu được thể hiện ở các bộ phận là tiền mặt, các chứng

khoán có thanh khoản cao, các khoản phải thu và dự trữ tồn kho.

Giá tri của các loại tài sản lưu động của doanh nghiệp sản xuất

kinh doanh thường chiếm từ 25% đến 50% tổng giá tri tài sản của

chúng. Vì vậy, quản lý và sử dụng vốn lưu động hợp lý có ảnh hưởng

rất quan trọng đến việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh

nghiệp, trong đó có công tác nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Nhận xét: Mỗi cách phân loại cho ta hiểu rõ thêm về vốn theo

từng khía cạnh. Mỗi loại vốn đều có ưu nhược điểm riêng đòi hỏi phải

được quản lý sử dụng hợp lý và chặt chẽ. Đồng thời, mỗi loại vốn sẽ

phát huy tác dụng trong những điều kiện khác nhau, trong một cơ

cấu vốn thích hợp.

1.1.1.3 Vai trò và đặc điểm vốn kinh doanh



14



14



 Vai trò của vốn kinh doanh



Vốn đóng vai trò hết sức quan trọng trong mỗi doanh nghiệp. Nó

là cơ sở, là tiền đề cho một doanh nghiệp bắt đầu khởi sự kinh

doanh. Muốn đăng ký kinh doanh, theo quy đinh của nhà nước, bất

cứ doanh nghiệp nào cũng phải có đủ số vốn pháp đinh theo từng

ngành nghề kinh doanh của mình (vốn ở đây khơng chỉ gờm tiền

mặt, tiền gửi ngân hàng, mà nó còn là các tài sản thuộc sở hữu của

các chủ doanh nghiệp). Rồi để tiến hành sản xuất kinh doanh, doanh

nghiệp phải thuê nhà xưởng, mua máy móc thiết bi, công nghệ,

nguyên vật liệu, thuê lao động... tất cả những điều kiện cần có để

một doanh nghiệp có thể tiến hành và duy trì những hoạt động cuả

mình nhằm đạt được những mục tiêu đã đặt ra.

Không chỉ có vậy, trong quá trình hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp, vốn là điều kiện để doanh nghiệp mở rộng sản xuất cả

về chiều rộng và chiều sâu, đổi mới máy móc thiết bi, nâng cao chất

lượng sản phẩm, tăng cao chất lượng sản phẩm, tăng việc làm, tăng

thu nhập cho người lao động... cũng như tổ chức bộ máy quản lý đầy

đủ các chức năng. Từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh,

tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thi trường.

Trong cơ chế thi trường hiện nay ở nước ta, thiếu vốn để phát

triển sản xuất kinh doanh đang là vấn đề bức xúc của các doanh

nghiệp. Không chỉ ở cấp vi mô, nhà nước ta đang rất thiếu các nguồn

vốn cho đầu tư phát triển kinh tế. Việc hội nhập kinh tế, xoá bỏ hàng

rào thuế quan giữa các nước trong khu vực Đông Nam á là một thách

thức lớn đối với các doanh nghiệp trong nước trước sự vượt trội về

vốn, công nghệ của các nước khác trong khu vực. Điều đó càng đòi

hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải tìm cách huy động và sử dụng

vốn sao cho tiết kiệm và có hiệu quả nhất.



15



15



 Đặc điểm của vốn kinh doanh



Trong nền kinh tế hàng hóa, vốn kinh doanh được biểu hiện dưới

hai hình thức: hiện vật và giá tri, nó có những đặc điểm sau:

Vốn được biểu hiện bằng một lượng giá tri thực những tài sản

của doanh nghiệp được dùng để sản xuất ra một lượng giá tri sản

phẩm khác. Đặc điểm này giúp ta phân biệt được vốn và các tài sản

khác. Chỉ những tài sản có giá tri và được sử dụng phục vụ cho mục

đích kinh doanh mới được gọi là vốn kinh doanh. Những tài sản được

sử dụng cho mục đích khác thì khơng phải là vốn.

Vốn tiềm năng là những tài sản chưa được sử dụng cho mục đích

kinh doanh. Nó cho biết một trong những nguồn có thể huy động vốn

phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình,

khai thác những tiềm năng của tài sản xã hội còn đang được cất giữ

và chưa được sử dụng.

Vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất đinh mới

có thể phát huy tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh.

Vốn có giá tri về mặt thời gian. Vốn được biểu hiện dưới trạng

thái tiền và được đưa vào kinh doanh với mục đích sinh lời.

Vốn gắn với chủ sở hữu nhất đinh và phải được quản lý chặt chẽ.

1.1.2. Hiệu quả sử dụng vốn

1.1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn



Mục tiêu đầu tiên và cũng là mục tiêu cuối cùng của một doanh

nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh là tối đa hoá lợi

nhuận hay nói cách khác là tối đa hoá giá tri doanh nghiệp. Để đạt

được mục tiêu này đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm các biện pháp

nhằm khai thác và sử dụng một cách triệt để những ng̀n lực bên

trong và ngồi doanh nghiệp. Chính vì vậy vấn đề nâng cao hiệu quả

16



16



sử dụng vốn phải được doanh nghiệp đặt lên hàng đầu, đó là mục

tiêu trung gian tất yếu để đạt được mục tiêu cuối cùng bởi vốn có vai

trò mang tính quyết đinh đối với quá trình hoạt động sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp.

Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế

phản ánh trình độ khai thác, sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp

vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi tối đa với

chi phí thấp nhất.

Hiệu quả sử dụng vốn được lượng hóa thông qua hệ thống các

chỉ tiêu về hiệu suất sử dụng vốn cố đinh, vốn lưu động, sức sinh lời

của vốn, tốc độ luân chuyển vốn… Nó phản ánh quan hệ giữa đầu ra

và đầu vào của q trình sản x́t kinh doanh thơng qua thước đo

tiền tệ hay cụ thể là mối tương quan giữa kết quả thu được với chi

phí bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Kết quả thu

được càng cao so với chi phí vốn bỏ ra thì hiệu quả sử dụng vốn càng

cao. Do đó, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là điều kiện quan trọng

để doanh nghiệp phát triển vững mạnh. Nâng cao hiệu quả sử dụng

vốn của doanh nghiệp phải đảm bảo các điều kiện sau:

+



Phải khai thác nguồn lực vốn một cách triệt để nghĩa là không để vốn



nhàn rỗi mà không sử dụng, không sinh lời.

+ Phải sử dụng vốn một cách hợp lý và tiết kiệm.

+ Phải quản lý vốn một cách chặt chẽ nghĩa là không để vốn bi sử

dụng sai mục đích, khơng để vốn bi thất thốt do bng lỏng quản lý.

Ngoài ra, doanh nghiệp phải thường xuyên phân tích, đánh giá

hiệu quả sử dụng vốn để nhanh chóng có biện pháp khắc phục

những mặt hạn chế và phát huy những ưu điểm của doanh nghiệp

trong quản lý và sử dụng vốn.

1.1.2.2 Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn kinh



doanh

Doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế, sự tồn tại và phát

triển của nó không thể tách rời ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh

17



17



cũng như đặc điểm của riêng nó. Vì vậy, hiệu quả sử dụng vốn của

doanh nghiệp cũng chiu tác động của các yếu tố đó một cách gián

tiếp hoặc trực tiếp.

 Các nhân tố khách quan

 Môi trường pháp lý và các chính sách kinh tế



Hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế đều phải

tuân theo những quy đinh do Nhà nước ban hành, qua đó có tác

dụng đinh hướng hoạt động kinh tế của họ thông qua ý muốn chủ

quan của Nhà nước.

Nền kinh tế thi trường ở nước ta có sự quản lý của Nhà nước

theo đinh hướng xã hội chủ nghĩa, do đó các hoạt động của doanh

nghiệp vừa chiu tác động của quy luật thi trường lại vừa chiu sự tác

động của cơ chế quản lý của nhà nước. Hiệu quả hoạt động của công

ty chiu ảnh hưởng rất lớn của môi trường pháp lý. Trước hết là quy

chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh. Đây là căn cứ quan

trọng để giải quyết kip thời những vướng mắc về cơ chế quản lý tài

chính nảy sinh trong q trình sản x́t kinh doanh. Đờng thời nó

cũng là tiền đề để thực hiện nguyên tắc hạch toán kinh doanh của

công ty. Với một cơ chế quản lý tài chính chặt chẽ, có khoa học, hợp

quy luật thì việc quản lý, sử dụng vốn của công ty sẽ đạt kết quả

cao, hạn chế được thất thoát vốn.

Nhà nước thường tác động vào nền kinh tế thông qua hệ thống

các chính sách, đó là công cụ quản lý của nhà nước để điều tiết nền

kinh tế. Các chính sách kinh tế chủ yếu là chính sách tài khóa, chính

sách tiền tệ. Trong đó, chính sách tiền tệ mà chủ yếu là chính sách

về lãi suất có tác động trực tiếp và gián tiếp đến hiệu quả sử dụng

vốn của các doanh nghiệp. Hiện nay, nhà nước đã có các chủ trương

hạ mặt bằng lãi suất tạo điều kiện cho các doanh nghiệp được tiếp

cận với nguồn vốn giá rẻ, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh

cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho các doanh nghiệp.



18



18



Chính sách giá cả thay đổi có thể làm giá thành sản phẩm của

doanh nghiệp thay đổi dẫn tới giá bán thay đởi, sản lượng bán hàng,

doanh thu bán hàng… cũng vì đó mà thay đổi theo từ đó làm ảnh

hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

 Môi trường ngành

- Sản phẩm



Nếu sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra với chi phí là nhỏ

nhất nhưng lại được người tiêu dùng chấp nhận và lựa chọn sử dụng.

Khi đó, kết quả tiêu thụ tốt, chi phí nhỏ làm hiệu quả sử dụng vốn

kinh doanh của doanh nghiệp cũng theo đó mà tăng lên. Ngược lại,

nếu sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra lại không được người

tiêu dùng chấp nhận, tồn đọng, không tạo được doanh thu như mong

muốn trong khi vẫn phải tốn một lượng chi phí để sản xuất ra hàng

bán, chi phí bán hàng, lại thêm cả chi phí lưu kho, làm hiệu qủa sử

dụng vốn kinh doanh giảm.

-



Đối thủ cạnh tranh

Có thể nói đối thủ cạnh tranh là một trong những nhân tố quan

trọng quyết đinh và có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn

kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tham gia thi trường,

sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra có rất nhiều các doanh

nghiệp khác cũng sản xuất, áp lực cạnh tranh trên thi trường lớn,

điều đó làm doanh nghiệp phải đầu tư quảng cáo, xúc tiến bán hàng,

giới thiệu sản phẩm của mình đến người tiêu dùng, làm chi phí tăng,

ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

Mặt khác, việc đề ra mức giá bán cho sản phẩm của mình cũng

nên được cân nhắc một cách kỹ lưỡng, làm sao để vừa tạo ra lợi

nhuận nhưng cũng đủ sức để cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại

của đối thủ. Do đó, việc xác đinh doanh thu, chi phí của doanh

nghiệp hồn tồn khơng phải chỉ là yếu tố mà một mình doanh

nghiệp có thể quyết đinh được mà nó còn phụ thuộc rất lớn vào mức



19



19



độ cạnh tranh, các đối thủ cạnh tranh trên thi trường. Hiệu quả sử

dụng vốn cũng theo đó mà ảnh hưởng.

-



Khách hàng

Ngày nay, khi mà yêu cầu của khách hàng được coi như thước

đo chuẩn mực cho chất lượng hàng hóa mà doanh nghiệp sản xuất

ra. Vì vậy, khách hàng là một trong những nhân tố có ảnh hưởng trực

tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh, đến hiệu quả sử dụng vốn

của doanh nghiệp. Khi mà nhu cầu khách hàng càng cao đồng nghĩa

với việc sản xuất ra các sản phẩm phù hợp với nhu cầu của họ ngày

càng khó hơn, đòi hỏi doanh nghiệp phải ln đởi mới, cập nhật và

hồn thiện sản phẩm của mình, đáp ứng nhu cầu khách hàng nhằm

đạt được những kết quả kinh doanh như mong muốn. Doanh nghiệp

cần tiến hành nghiên cứu thi trường, thăm dò và nắm bắt nhu cầu

hiện tại của khách hàng để sản xuất ra được những sản phẩm phù

hợp với thi hiếu của người tiêu dùng, được người tiêu dùng lựa chọn

và chập nhận để có thể thu về doanh thu, lợi nhuận đồng nghĩa

doanh nghiệp cũng phải bỏ ra những khoản chi phí cho vấn đề này.



 Môi trường kinh tế

- Sự ổn định của nền kinh tế

+ Tốc độ phát triển của nền kinh tế:



Khi một nền kinh tế đang trên đà phát triển, còn nhiều thi trường

tiềm năng chưa được khai thác hết. Doanh nghiệp có thể thâm nhập

và tấn công thi trường một cách dễ dàng mà không mất quá nhiều

chi phí vẫn hoạt động tương đối tốt trên thi trường từ đó có thể làm

nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.

+



Lạm phát:

Lạm phát nói ngắn gọn là tình hình tăng giá chung trong nền

kinh tế. Đối với doanh nghiệp thì cả nguyên vật liệu đầu vào lẫn đầu

ra đều tăng giá. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng tiêu cực lại phần lớn

hơn mức ảnh hưởng tích cực bởi

Chi phí sản xuất tăng => lợi nhuận bi ảnh hưởng.

20



20



Giá bán tăng => Giảm cầu hàng hóa => Tiêu thụ giảm =>

Doanh thu giảm

Qua đó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

+



Thất nghiệp

Khi mà tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế ở mức cao, doanh

nghiệp dễ dàng thuê được nhân công với mức giá thấp, chi phí nhân

công giảm, làm chi phí chung của doanh nghiệp giảm và hiệu quả sử

dụng vốn được nâng cao. Ngược lại, nếu chi phí nhân công là cao thì

hiệu quả sử dụng vốn sẽ bi ảnh hưởng.



-



Sự mở cửa nền kinh tế

Khi nước ta trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới

WTO và mới đây là gia nhập TPP (Hiệp đinh đối tác kinh tế xun

Thái Bình Dương) mang đến vơ cùng nhiều cơ hội cho các doanh

nghiệp trong nước, theo đó là rất nhiều thách thức mà chúng ta phải

đối mặt. Tuy nhiên không thể phủ đinh việc gia nhập TPP đã mở ra

thi trường rộng lớn cho Việt Nam.

Các doanh nghiệp có cơ hội được tiếp xúc với cơng nghệ, trình

độ quản lý tiên tiến của các quốc gia phát triển trên thế giới, là điều

kiện thuận lợi để chúng ta có thể học tập và nâng cao tay nghề của

người lao động, áp dụng được nhiều thành tựu khoa học công nghệ

góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm chi phí sản xuất. Đồng

thời cũng có thể tiếp cận được với thi trường nước ngồi thơng qua

các hoạt động x́t khẩu, điều này đang được Nhà nước ta khuyến

khích và hỗ trợ rất nhiều.

Tuy nhiên, việc mở cửa thi trường cũng đồng nghĩa với việc các

doanh nghiệp của chúng ta phải chiu áp lực cạnh tranh vô cùng lớn

từ các đối thủ cạnh tranh nước ngoài thâm nhập vào thi trường Việt

Nam, các thương hiệu đã khẳng đinh được vi thế của mình trên tồn

thế giới. Nếu khơng có chiến lược rõ ràng, các doanh nghiệp trong

nước dễ dàng bi đẩy ra tại chính thi trường nước nhà. Sản phẩm sản

xuất ra không tiêu thụ được hoặc không cạnh tranh được về giá dẫn

21



21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kết cấu luận văn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×