Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khóa luận tơt nghiệp



GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam



được từ những sản phẩm dịch vụ đã hoàn thành. Để xác định được kết quả kinh doanh,

DN phải tính tốn chính xác lượng chi phí bỏ ra để cung ứng dịch vụ đó, hay nói cách

khác là xác định giá thành sản phẩm dịch vụ.

Giá thành sản phẩm dịch vu là biểu hiện của những hao phí về lao động sống, lao

động vật hố và các chi phí cần thiết khác mà DN đã bỏ ra có liên quan đến khối lượng

sản phẩm dịch vụ đã hồn thành.

( Giáo trình Kế tốn dịch vụ, PGS.TS.Nguyễn Phú Giang, NXB Tài chính,

2008)

Có thể nói giá thành sản phẩm dịch vụ là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết

quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động trong quá trình kinh doanh, xác định tính đúng

đắn của các giải pháp kinh tế mà DN sử dụng nhằm nâng cao năng suất lao động, chất

lượng phục vụ, hạ thấp chi phí, tăng lợi nhuận.



1.1.1.2. Khái niệm doanh thu và doanh thu cung cấp dịch vu

a. Khái niệm doanh thu

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (Ban hành và công bố theo Quyết định

số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính) quy

định:

Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế

toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thơng thường của doanh nghiệp,

góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, khơng bao gồm khoản góp vốn của cổ đông hoặc

chủ sở hữu.

Theo nội dung của chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 “Doanh thu và thu nhập

khác” (Ban hành theo quyết định số 149/2001/QT – BTC ngày 31/12/2001), doanh thu

chỉ bao gồm tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ chắc

chắn thu được trong tương lai. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi

ích kinh tế, khơng làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ khơng được coi là

doanh thu (ví dụ như khi người nhận đại lý thu hộ tiền bán hàng cho đơn vị chủ hàng,

thì doanh thu của người nhận đại lý chỉ là tiền hoa hồng được hưởng). Các khoản góp

11

SVTH: Hà Thị Huyền Thương



Lớp: K48D5



Khóa luận tôt nghiệp



GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam



vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không phải là doanh

thu.

Việc xác định đúng đắn các khoản doanh thu được ghi nhận đầy đủ và đúng thời

điểm góp phần quan trọng trong việc xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp. Từ đó đưa ra những chiến lược kinh doanh phù hợp với tình hình thực tế của

doanh nghiệp.

Về thời điểm ghi nhận doanh thu, doanh thu được ghi nhận khi doanh nghiệp có

khả năng tương đối chắc chắn sẽ thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và các lợi ích

kinh tế đó có thể được tính tốn một cách đáng tin cậy (Giáo trình Kế tốn tài chính,

Đại học Thương mại, NXB Thống Kê, năm 2010, trang 295)

Một số khái niệm về doanh thu khác:

Doanh thu là tổng các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ hạch toán,

phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp góp phần

làm tăng vốn chủ sở hữu (Giáo trình “Kế tốn tài chính”, NXB Lao động, trang 300)



b. Khái niệm về doanh thu cung cấp dịch vụ

Cung cấp dịch vụ: là thực hiện công việc đã thỏa thuận theo hợp đồng trong một

kỳ hoặc nhiều kỳ kế toán, như cung cấp dịch vụ vận tải, du lịch, cho thuê TSCĐ theo

phương thức cho thuê hoạt động…

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vu: Là toàn bộ số tiền thu được, hoặc sẽ

thu được từ các hoạt động, từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán

sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả các khoản phụ thu

và phí thu thêm ngồi giá bán (nếu có) (Học viện Tài chính, Kế tốn doanh nghiệp,

NXB Thống kê, 2004, trang 308)

Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vu: là phần còn lại của doanh thu

sau khi đã trừ đi các khoản giảm trừ (chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng

bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế GTGT của doanh nghiệp nộp

theo phương pháp trực tiếp) trong kỳ kế tốn, là căn cứ tính kết quả hoạt động kinh

doanh của doanh nghiệp. ( Học viện Tài chính, Kế tốn doanh nghiệp, NXB Thống kê,

2004, trang 302)

Các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm: ( Theo VAS 14)



12

SVTH: Hà Thị Huyền Thương



Lớp: K48D5



Khóa luận tơt nghiệp



GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam



- Chiết khấu thương mại: là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho

khách hàng mua hàng với khối lượng lớn.

- Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hoá kem phẩm

chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.

- Hàng bán bị trả lại: là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị

khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.

1.1.2. Lý thuyết liên quan đến kế toán cung cấp dịch vụ tại doanh nghiệp



a. Các đặc điểm của hoạt động cung cấp dich vụ:

- Về chủ thể tham gia vào quan hệ cung ứng dịch vụ có hai chủ thể: bên cung ứng dịch

vụ và bên sử dụng dịch vụ. Bê cung ứng dịch vụ bắt buộc là thương nhân, có đăng ký

kinh doanh để cung cấp dịch vụ thương mại theo quy định của pháp luật. Bên sử dụng

dịch vụ có thể là thương nhân, có thể khơng phải là thương nhân, có nhu cầu sử dụng

dịch vụ của bên cung ứng dịch vụ cho thương nhân, đại lý thương mại yêu cầu cả hai

bên đều phải là thương nhân; dịch vụ ủy thác mua bán hàng hóa, mơi giới thương mại

chỉ u cầu bên nhận ủy thác, bên mơi giới là thương nhân, còn bên ủy thác và bên



-



được mơi giới có thể khơng là thương nhân.

Về đối tượng hướng tới của các bên tham gia quan hệ cung ứng dịch vụ. Đối tượng cụ

thể là việc thực hiện công việc theo yêu cầu của bên sử dụng dịch vụ như việc đại diện

cho thương nhân, ủy thác mua bán hàng hó, đại lý thương mại,... Bên cung ứng dịch

vụ bằng khả năng của mình phải thực hiện công việc mà bên sử dụng dịch vụ yêu cầu,

còn bên sử dụng dịch vụ được hưởng những lợi ích từ việc thực hiện dịch vụ. Do vậy,

đối tượng của quan hệ cung ứng dịch vụ khác với đối tượng của quan hệ mua bán hàng

hóa; bởi vì quan hệ mua bán hàng hóa hướng tới đối tượng là hàng hóa hữu hình có thể

nhìn thấy. Còn quan hệ cung ứng dịch vụ thương mại hướng tới đối tượng hàng hóa vơ



-



hình hay thực hiện, khơng thực hiện cơng việc nhất định.

Về mục đích của các bên tham gia quan hệ cung ứng dịch vụ khơng hồn toàn giống

nhau. Bên sử dụng dịch vụ hướng tới mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình về

dịch vụ, được hưởng những lợi ích nhất định từ việc thực hiện dịch vụ của người cung

ứng dịch vụ mang lại. Đối với bên cung ứng dịch vụ, mục tiêu lớn nhất của họ là



-



khoản tiền thù lao hay lợi nhuận phát sinh từ việc thực hiện công việc cụ thể.

Về hình thức của quan hệ cung ứng dịch vụ: Quan hệ cung ứng dịch vụ được xác lập

dưới hình thức hợp đồng: Hợp đồng cung ứng dịch vụ. Tùy thuộc vào loại hình dịch

13

SVTH: Hà Thị Huyền Thương



Lớp: K48D5



Khóa luận tôt nghiệp



GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam



vụ thương mại được cung ứng mà hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại có thể được

thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Đối với

loại hợp đồng cung ứng dịch vụ mà pháp luật quy định phải xác lập bằng văn bản thì

phải tn theo quy định đó. Dù dưới hình thức nào, hợp đồng cung ứng dịch vụ cũng

thể hiện sự thỏa thuận giữa các bên về các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ việc thực hiện

một công việc cụ thể theo yêu cầu.

Xuất phát từ tính đặc thù của nhiều quan hệ dịch vụ và để thỏa mãn nhu cầu của

rất đơng người sử dụng dịch vụ, có trường hợp người cung ứng dịch vụ sử dụng hình

thức “hợp đồng theo mẫu” để ký kết hợp đồng với người sử dụng dịch vụ. Người cung

ứng dịch vụ tự soạn hợp đồng có sẵn theo ý chí của riêng mình và cung cấp cho người

sử dụng dịch vụ; nếu đồng ý, người sử dụng dịch vụ chỉ cần ký vào hợp đồng.



b. Các phương thức cung cấp dịch vụ:

- Phương thức cung cấp dịch vụ trực tiếp: Bên bán căn cứ vào Hợp đồng đã ký kết hoặc

đơn đặt hàng của người mua mà cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Hai bên thực hiện

theo các điều khoản đã thỏa thuận, khi kết thúc gói dịch vụ,bên mua có trách nhiệm



-



thanh tốn cho bên bán đúng giá trị và hình thức đã thỏa thuận.

Phương thức cung cấp dịch vụ gián tiếp (qua trung gian), hay còn gọi là phương thức

cung cấp dịch vụ đại lý: Là phương thức cung cấp dịch vụ mà trong đó doanh nghiệp

thương mại (bên giao đại lý) giao hàng cho một doanh nghiệp thương mại khác (bên

nhận bán đại lý) để các cơ sở này trực tiếp cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Trong

đó:

+ Bên nhận bán đại lý là đơn vị khơng có quyền sở hữu đối với hàng hóa, dịch vụ

nhận bán đại lý. Do vậy sau khi cung cấp dịch vụ, bên nhận đại lý khơng được ghi

nhận doanh thu của hàng hóa, dịch vụ nhận đại lý mà chỉ được ghi nhận doanh thu

theo số hoa hồng đại lý được hưởng.

+ Bên giao đại lý là đơn vị có quyền sở hữu đối với hàng hóa, dịch vụ chuyển

giao cho các cơ sở đại lý. Vì vậy, bên giao đại lý phải theo dõi hàng hóa, dịch vụ gửi

đại lý. Khi nhận được bảng kê thanh tóan hàng đại lý do cơ sở đại lý chuyển đến, bên



giao đại lý xác định tiêu thụ cho hàng hóa, dịch vụ bán đại lý.

1.2. Nội dung kế toán cung cấp dịch vụ tại doanh nghiệp dịch vụ

1.2.1. Quy định kế toán cung cấp dịch vụ theo chuẩn mực kế toán Việt Nam

Theo Chuẩn mực số 01 – Chuẩn mực chung (được ban hành và công bố theo

QĐ số 165/2002/QĐ – BTC ngày 31/12/2002 của Bộ trưởng BTC). Phản ánh các

nguyên tắc, yêu cầu kế toán cơ bản, các yếu tố của BCTC.



14

SVTH: Hà Thị Huyền Thương



Lớp: K48D5



Khóa luận tơt nghiệp



GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam



- Cơ sở dồn tích: để kết quả kinh doanh được phản ánh một cách chính xác, trung

thực và hợp lý thì phải theo dõi chặt chẽ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bằng

cách ghi sổ kế toán ngay tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế. Các nghiệp vụ kinh

tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở

hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào

thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền. Kết quả thu được từ

kế toán kết quả kinh doanh được thể hiện trên BCTC, do vậy BCTC lập trên cơ sở dồn

tích sẽ phản ánh chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại

và tương lai.

- Hoạt động liên tục: Kế toán kết quả kinh doanh phải được thực hiện trên cơ sở

giả định là doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh

bình thường trong tương lai gần, nhờ đó kết quả hoạt động kinh doanh kỳ này sẽ mang

tính kế thừa và nối tiếp logic với các kỳ kế toán trước và sau.

- Phù hợp: Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau. Kế toán

kết quả kinh doanh khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi

phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó.

- Nhất qn: Các chính sách và phương pháp kế toán kết quả kinh doanh mà

doanh nghiệp đã lựa chọn phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế tốn

năm. Có như vậy kết quả kinh doanh mới được phản ánh một cách chính xác, nhanh

chóng và kịp thời.

- Thận trọng: kết quả kinh doanh cần được xác định một cách nhanh chóng và

kịp thời nhưng phải đảm bảo được tính chính xác và trung thực của số liệu trên BCTC

của doanh nghiệp. Do đó, kế toán cần phải xem xét, cân nhắc và phán đốn kỹ lưỡng

khi lập các ước tính kế tốn trong điều kiện không chắc chắn. Nguyên tắc thận trọng

áp dụng trong kế tốn kết quả kinh doanh đòi hỏi:

- Phải lập các khoản dự phòng cho kỳ tiếp theo nhưng không lập quá lớn, làm

ảnh hưởng đến kết quả thực tế thu được từ hoạt động kinh doanh trong kỳ hiện tại.

- Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập, vì nếu

làm như vậy thì kết quả kinh doanh cuối kỳ sẽ khơng chính xác và trung thực.

- Khơng đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ và chi phí để việc xác định

kết quả kinh doanh cuối kỳ đảm bảo tính chính xác.

15

SVTH: Hà Thị Huyền Thương



Lớp: K48D5



Khóa luận tôt nghiệp



GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam



- Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả

năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về

khả năng phát sinh chi phí. Có như vậy kế toán kết quả kinh doanh mới thực sự hiệu

quả và chính xác.

- Trọng yếu: kết quả kinh doanh phản ánh năng lực và hiệu quả hoạt động kinh

doanh của doanh nghiệp trong kỳ kế tốn. Đây chính là cơ sở để các nhà quản trị

doanh nghiệp có những nhìn nhận và đánh giá chính xác nhất phục vụ cho những

quyết định, những chiến lược kinh doanh tại doanh nghiệp. Do đó, số liệu kế tốn kết

quả kinh doanh phải chính xác và trung thực, khơng được có sai lệch so với thực tế.

Nếu những thông tin trên BCTC thiếu chính xác thì sẽ làm ảnh hưởng đến việc ra

quyết định của các đối tượng sử dụng BCTC của đơn vị.

Kế toán cung cấp dịch vụ tại doanh nghiệp được quy định tại Chuẩn mực số 14

“Doanh thu và thu nhập khác” được ban hành bà công bố theo Quyết định số

149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ tài chính.

- Doanh thu của giao dịch về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của

giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy. Trường hợp giao dịch về cung cấp

dịch vụ liên quan đến nhiều kỳ doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết quả phần

cơng việc đã hồn thành vào ngày lập Bảng cân đối kế tốn của kỳ đó. Kết quả của

giao dịch cung cấp dịch vụ được xác định khi thỏa mãn 4 điều kiện sau:

+ Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;

+ Có khả năng thu được lời ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó;

+ Xác định được phần cơng việc đã hoàn thành vào ngày lập BCĐKT;

+ Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hồn thành giao



-



dịch cung cấp dịch vụ đó.

Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ được ghi nhận trong kỳ kế tốn thì việc xác

định doanh thu của dịch vụ trong nhiều kỳ kế toán thường được thực hiện theo phương

pháp tỷ lệ hoàn thành. Theo phương pháp này, doanh thu được ghi nhận trong kỳ kế



-



toán được xácđịnh theo tỷ lệ phần cơng việc đã hồn thành.

Doanh thu cung cấp dịch vụ chỉ được ghi nhận khi đảm bảo là doanh nghiệp nhận

được lợi ích kinh tế từ giao dịch. Khi không thể thu hồi được khoản doanh thu đã ghi

nhận thì phải hạch tốn vào chi phí mà khơng được ghi giảm doanh thu. Khi khơng

chắc thu hồi được một khoản mà trước đó đã ghi vào doanh thu (Nợ phải thu khó đòi)

phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà khơng được ghi giảm doanh thu. Khoản nợ

16

SVTH: Hà Thị Huyền Thương



Lớp: K48D5



Khóa luận tơt nghiệp



GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam



phải thu khó đòi khi xác định là khơng thể đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự



-



phòng nợ phải thu khó đòi.

Doanh nghiệp có thể ước tính doanh thu cung cấp dịch vụ khi thỏa thuận được với bên

đối tác giao dịch những điều kiện sau:

+ Trách nhiệm và quyền của mỗi bên trong việc cung cấp và nhận dịch vụ;

+ Giá thanh toán;

+ Thời hạn và phương thức thanh toán.

Để ước tính doanh thu cung cấp dịch vụ , doanh nghiệp phải có hệ thống kế

hoạch tài chính và kế tốn phù hợp. Khi cần thiết, doanh nghiệp có quyền xem xét và



-



sửa đổi các ước tính doanh thu trong q trình cung cấp dịch vụ.

Phần cơng việc đã hồn thành được xác định theo một trong ba phương pháp sau, tùy

thuộc vào bản chất của dịch vụ.

+ Đánh giá phần cơng việc đã hồn thành;

+ So sánh tỷ lệ % giữa khối lượng cơng việc đã hồn thành với tổng khối lượng

cơng việc phải hồn thành;

+ Tỷ lệ % chi phái đã phát sinh so với tổng chi phí ước tính để hồn thành tồn

bộ giao dịch cung cấp dịch vụ .

Phần cơng việc đã hồn thành khơng phụ thuộc vào các khoản thanh toán định kỳ



-



hay các khoản ứng trước của khách hàng.

Trường hợp dịch vụ được thực hiện bằng nhiều hoạt động khác nhau mà không tách

biệt được, và được thực hiện trong nhiều kỳ kế toán nhất định thì doanh thu từng kỳ

được ghi nhận theo phương pháp bình qn. Khi có một hoạt động cơ bản so với hoạt



-



động khác thì việc ghi nhận doanh thu được thực hiện theo hoạt động cơ bản đó.

Khi kết quả của một giao dịch về cung cấp dịch vụ khơng thể xác định được chắc chắn



-



thì doanh thu được ghi nhận tương ứng với chi phí đã ghi nhận và có thể thu hồi.

Trong giai đoạn đầu của một giao dịch về cung cấp dịch vụ, khi chưa xác định được

kết quả một cách chắc chắn thì doanh thu được ghi nhận tương ứng với chi phí đã ghi

nhận và có thể thu hồi. Nếu chi phí liên quan đến dịch vụ đó chắc chắn khơng thể thu

hồi được thì khơng ghi nhận doanh thu, và chi phí đã phát sinh được hạch tốn vào chi

phí để xác định kết quả kinh doanh trong kỳ. Khi có bằng chứng tin cậy về các chi phí

đã phát sinh sẽ thu hồi được thì doanh thu được ghi nhận theo quy định.

Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải theo nguyên tắc phù hợp. Khi ghi nhận

một khoản doanh thu phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc

tạo ra khoản doanh thu đó.



17

SVTH: Hà Thị Huyền Thương



Lớp: K48D5



Khóa luận tơt nghiệp



GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam



- Khi hàng hoá hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hoá hoặc dịch vụ

tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó khơng được coi là một giao



-



dịch tạo ra doanh thu và không được ghi nhận doanh thu.

Nếu trong kỳ kế toán phát sinh các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng

và cung cấp dịch vụ, như chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị

trả lại thì phải được hạch toán riêng biệt. Các khoản giảm trừ doanh thu được

tính trừ vào doanh thu ghi nhận ban đầu để xác định doanh thu thuần làm căn cứ



-



xác định kết quả kinh doanh của kỳ kế toán.

Cuối kỳ kế toán, doanh nghiệp phải xác định kết quả hoạt động SXKD.

Toàn bộ doanh thu thuần thực hiện trong kỳ kế toán được kết chuyển vào TK

911 – Xác định kết quả kinh doanh. Các tài khoản thuộc loại tài khoản doanh



thu khơng có số dư cuối kỳ.

1.2.2. Quy định chế độ kế toán theo quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 của

Bộ tài chính

1.2.2.1. Chứng từ kế tốn sử dung

- Hóa đơn GTGT;

- Các chứng từ thanh tốn: phiếu thu/chi, séc, ủy nhiệm chi/thu, giấy báo nợ giấy báo

có,…

- Tờ khai thuế GTGT;

- Các chứng kế toán khác liên quan.

1.2.2.2. Tài khoản sử dung:

Để hạch toán doanh thu và chi phí cung cấp dịch vụ, sử dụng các tài khoản sau:

TK 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”

TK 521 “Các khoản giảm trừ doanh thu”

TK 154 “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”

TK 632 “Giá vốn hàng bán”

Ngồi ra, còn dùng một số tài khoản sau: TK 111, TK 112, TK 131, TK 334, TK

338,….

TK 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vu”: phản ánh doanh thu bán

hàng và CCDV của doanh nghiệp từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kỳ kế

toán, bao gồm:

Hoạt động bán hàng: bán hàng hóa do doanh nghiệp sản xuất ra, bán hàng hóa

mua vào, bán bất động sản đầu tư.

18

SVTH: Hà Thị Huyền Thương



Lớp: K48D5



Khóa luận tôt nghiệp



GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam



Hoạt động cung cấp dịch vụ: thực hiện công việc đã thỏa thuận trong một hoặc

nhiều kỳ kế toán như cung cấp vận tải, du lịch, cho thuê TSCĐ,…

Kết cấu và nội dung phản ánh của tài khoản:

Bên Nợ:



• Kết chuyển các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán

• Số thuế GTGT của doanh phải nộp tho phương pháp trực tiếp;

• Số thuế TTĐB, thuế xuất nhập khẩu phải nộp tính trên doanh thu bán hàng thực tế của

sản phẩm, hàng hóa dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng và được xác định là đã bán

trong kỳ;

• Kết chuyển doanh thu.

Bên Có: Doanh thu bán hàng hóa sản phẩm, bất động sản đầu tư và cung cấp dịch

vụ của doanh nghiệp trong kỳ kế tốn.

Tài khoản 511 có 4 tài khoản cấp 2:

TK 5111: Doanh thu bán hàng hóa

TK 5112: Doanh thu bán thành phẩm

TK 5113: Doanh thu cung cấp dịch vụ

TK 5118: Doanh thu khác

Tài khoản 511 khơng có số dư cuối kỳ.

TK 521 “Các khoản giảm trừ doanh thu”: dùng để phản ánh các khoản được điều

chỉnh giảm trừ vào doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ phát sinh trong kỳ, gồm:

Chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại. Tài khoản này không

phản ánh các khoản thuế được giảm trừ vào doanh thu như thuế GTGT đầu ra phải nộp

tính theo phương pháp trực tiếp.

Bên Nợ:

- Số chiết khấu thương mại đã chấp nhận thanh toán cho khách hàng;

- Số giảm giá hàng bán đã chấp thuận cho người mua hàng;

- Doanh thu của hàng bán bị trả lại, đã trả lại tiền cho người mua hoặc tính trừ

vào khoản phải thu khách hàng về số sản phẩm, hàng hóa đã bán.

Bên Có:

Cuối kỳ kế tốn, kết chuyển tồn bộ số chiết khấu thương mại, giảm giá hàng

bán, doanh thu của hàng bán bị trả lại sang tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng và

cung cấp dịch vụ” để xác định doanh thu thuần của kỳ báo cáo.

19

SVTH: Hà Thị Huyền Thương



Lớp: K48D5



Khóa luận tơt nghiệp



GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam



Tài khoản 521 - Các khoản giảm trừ doanh thu khơng có số dư cuối kỳ.

TK 521 có 3 tài khoản cấp 2:

- Tài khoản 5211: “Chiết khấu thương mại” dùng để phản ánh số chiết khấu

thương mại mà DN đã giảm trừ hoặc thanh tốn với người mua hàng hóa, dịch vụ với

khối lượng lớn và theo thỏa thuận bên bán sec dành cho bên mua một khoản chiết

khấu thương mại (đã ghi trên Hợp đồng kinh tế mua bán hàng hóa, dịch vụ hoặc bản

cam kết mua bán hàng hóa, dịch vụ).

- Tài khoản 5212: “Hàng bán bị trả lại” dùng để phản ánh giá trị của sản phẩm,

hàng hóa bị khách hàng trả lại do nguyên nhân: vi phạm cam kết, vi phạm Hợp đồng

kinh tế, bán hàng bị mất, kém phẩm chất, không đúng quy cách, chủng loại.

- Tài khoản 5213: “Giảm giá hàng bán” dùng để phản ánh các khoản giảm giá

hàng bán thực té phát sinh và việc xử lý khoản giảm giá trong kỳ hạch toán. Giảm giá

hàng bán là khoản giảm trừ cho người mua do sản phẩm hàng hóa kém, mất phẩm chất

hay không đúng quy cách theo quy định của Hợp đồng kinh tế.

TK 154 “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”: phản ánh tất cả các chi phí phát

sinh có liên quan đến hợp đồng mà doanh nghiệp đảm nhận.

TK 154 được mở chi tiết cho các đối tượng tập hợp chi phí là các đơn đặt hàng

hay các hợp đồng đã được ký kết.

-



Bên Nợ TK 154 dùng để tập hợp các chi phí phục vụ cho dịch vụ phát sinh liên quan

đến từng hợp đồng.



-



Bên Có TK 154: cuối kỳ kết chuyển các chi phí phát sinh sang TK 632 “Giá vốn hàng

bán” để tính giá thành và xác định lợi nhuận cho các hợp đồng.

TK 154 không có số dư cuối kỳ.

Ngồi ra kế tốn còn sử dụng các TK liên quan khác để hạch toán như TK 152,

Tk 153, TK 214, TK 331, …

TK 632 “Giá vốn hàng bán”: dùng để phản ánh trị giá vốn của sản phẩm, hàng

hóa, dịch vụ.

20

SVTH: Hà Thị Huyền Thương



Lớp: K48D5



Khóa luận tơt nghiệp



GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam



Bên Nợ:

- Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, phản ánh:

+ Trị giá vốn của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã bán trong kỳ;

+ Chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân cơng vượt trên mức bình thường và chi

phí sản xuất chung cố định khơng phân bổ được tính vào giá vốn hàng bán trong kỳ;

+ Các khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn kho sau khi trừ phần bồi thường do

trách nhiệm cá nhân gây ra;

+ Chi phí xây dựng, tự chế TSCĐ vượt trên mức bình thường khơng được tính

vào ngun giá TSCĐ hữu hình tự xây dựng, tự chế hồn thành;

+ Số trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho (Chênh lệch giữa số dự phòng

giảm giá hàng tồn kho phải lập năm nay lớn hơn số dự phòng đã lập năm trước chưa

sử dụng hết).

- Đối với hoạt động kinh doanh BĐS đầu tư, phản ánh:

+ Số khấu hao BĐS đầu tư trích trong kỳ;

+ Chi phí sửa chữa, nâng cấp, cải tạo BĐS đầu tư khơng đủ điều kiện tính vào

ngun giá BĐS đầu tư;

+ Chi phí phát sinh từ nghiệp vụ cho thuê hoạt động BĐS đầu tư trong kỳ;

+ Giá trị còn lại của BĐS đầu tư bán, thanh lý trong kỳ;

+ Chi phí của nghiệp vụ bán, thanh lý BĐS đầu tư phát sinh trong kỳ.

Bên Có:

- Kết chuyển giá vốn của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã bán trong kỳ sang Tài

khoản 911 “Xác định kết quả kinh doanh”;

- Kết chuyển tồn bộ chi phí kinh doanh BĐS đầu tư phát sinh trong kỳ để xác

định kết quả hoạt động kinh doanh;

- Khoản hồn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cuối năm tài chính (Chênh

lệch giữa số dự phòng phải lập năm nay nhỏ hơn số đã lập năm trước);

- Trị giá hàng bán bị trả lại nhập kho.

Tài khoản 632 khơng có số dư cuối kỳ.



1.2.2.3. Trình tự hạh tốn

a. Kế tốn các khoản chi phí

-



Kế tốn CPNVLTT:

21

SVTH: Hà Thị Huyền Thương



Lớp: K48D5



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x