Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong giai đoạn hiện nay

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong giai đoạn hiện nay

Tải bản đầy đủ - 0trang

Từ sau đổi mới, các loại hình tơn giáo tín ngưỡng đều được coi là “trỗi dậy” sau

một giấc ngủ dài. Đời sống tôn giáo trở nên sôi động. Thờ cúng tổ tiên cũng hòa mình

vào xu thế chung đó. Thờ cúng tổ tiên trong các gia đình cũng ngày càng được chú

trọng hơn. Nếu tôn giáo chỉ đáp ứng được nhu cầu tâm linh của một bộ phận người

dân là tín đồ của tơn giáo đó thì thờ cúng tổ tiên đáp ứng nhu cầu tâm linh của đại bộ

phận người Việt Nam.

Nếu trước kia, chúng ta còn bắt gặp những gia đình khơng có ban thờ tổ tiên trong nhà

thì ngày nay nhà nào cũng có. Cùng với sự phát triển kinh tế, những trang thờ nhỏ bé

hay những bát hương đặt tạm bợ trên nóc tủ thời bao cấp dần dần được thay thế bằng

những ban thờ cố định với nhiều kiểu dáng mẫu mã trang nghiêm và đẹp mắt. Vị trí

đặt ban thờ tổ tiên cũng được chú trọng. Ngày nay, để đặt một ban thờ, người ta khơng

còn tùy tiện chỗ nào cũng được như trước mà cần phải xem hướng ban thờ, xem kích

thước ban thờ về chiều cao, chiều dài, chiều rộng. Ngày đặt ban thờ hay bốc bát

hương cũng là một sự kiện quan trọng của gia đình. Những gia đình có điều kiện,

người ta thường dành một phòng riêng, trên tầng cao nhất, hay khu vưc sạch sẽ và

trang trọng nhất trong ngơi nhà làm phòng thờ. Sự thay đổi trong cách thức bài trí bát

hương và khơng gian thờ tổ tiên trong các gia đình ngày nay là chỉ báo rõ nét thể hiện

tầm quan trọng của thờ cúng tổ tiên trong đời sống tâm linh người Việt Nam đương

đại.

Tầm quan trọng của thờ cúng tổ tiên bên cạnh sự biểu hiện qua không gian thờ

cúng tổ tiên trong gia đình còn thể hiện qua sự chú trọng xây dựng hệ thống nhà thờ

tổ, nhà thờ dòng tộc. Trong những năm gần đây, nhiều nhà thờ họ đã được tu bổ, xây

mới. Nhiều gia đình chi phí đóng góp xây dựng nhà thờ tộc, nhà thờ họ lên tới vài tỉ

đồng. Xu thế xây dựng nhà thờ tộc được phục hồi nhưng xu thế cá nhân hóa thờ cúng

tổ tiên cũng phát triển rất mạnh mẽ. Tính cá nhân hóa mà chúng tôi đề cập tới ở đây

để chỉ xu thế thờ cúng tổ tiên ngày nay được chuyển vào từng thành viên trong gia

đình. Nếu trước đây, thờ cúng tổ tiên được tập trung tại nhà dòng trưởng (trưởng tộc,

trưởng họ, trưởng chi, con trưởng) thì nay, mọi thành viên trong gia đình đều thờ cúng

14



tổ tiên tại gia đình mình. Nhiều gia đình vẫn còn giữ được tục lệ cứ giỗ tết tập trung

lại vào nhà con trưởng để làm giỗ. Tuy nhiên, tại nhiều gia đình, ngày giỗ khơng còn

là ngày con cháu tập trung như trước nữa. Hình thức cúng giỗ mang tính cộng đồng

chung các thành viên trong gia đình được chuyển thành hình thức cúng giỗ cá thể.

Mỗi thành viên trong gia đình làm lễ cúng giỗ người đã mất tại nhà mình. Như vậy,

giả dụ một ơng bố có 5 người con, khi ông bố mất đi, nếu theo hình thức cúng giỗ

trước kia, các con sẽ tập trung tại nhà con trai trưởng để làm lễ cúng giỗ bố vào ngày

giỗ và khơng làm tại nhà riêng của mình thì ngày nay cả 5 người con không phân biệt

trai hay gái sẽ tiến hành làm lễ cúng giỗ bố tại nhà riêng của mình. Nếu cho rằng

người mất có thể về được để hưởng thụ những vật phẩm mà người thân của mình

cúng tế vào ngày giỗ thì ơng bố này sẽ phải đi tới 5 ngôi nhà để hưởng 5 mâm cỗ thay

vì một mâm như trước kia. Cách thức bài trí ban thờ tổ tiên, ban thờ dòng tộc cũng có

nhiều thay đổi. Trước kia Nhà thờ Thủy tổ có riêng một thần chủ để thờ mãi mãi,

không bao giờ thay đổi, gọi là “bách thế bất diêu chi chủ”. Còn về gia từ nhà phú q

có đủ thần chủ bốn đời, để thờ cao, tằng, tổ, khảo. Thần chủ làm bằng gỗ táo, lấy

nghĩa rằng gỗ táo sống lâu được nghìn năm. Dài một thước, ở giữa đề tên, họ, chức

tước và hai bên thì đề ngày tháng sinh tử của tổ tiên, có hộp vng che kín và để trong

long khảm, khi nào cúng tế mới mở ra. Hễ đến năm đời thì lại đem thần chủ Cao tổ

mai đi mà nhắc lần Tằng, Tổ, Khảo lên bực trên, rồi đem Ông mới nhất mà thế vào

thần chủ ông Khảo, gọi là “Ngũ đại mai thần chủ”. Nhà thường dân cũng có nhà dùng

thần chủ, cũng có nhà chỉ dùng một bộ ỷ để thờ . Ngày nay, cách thức thờ cúng này

rất ít gia đình còn duy trì được. Hầu hết các ban thờ gia tiên, đặc biệt là các ban thờ

gia tiên tại thành phố không có thần chủ, khơng có long khảm đặt thần chủ, khơng có

bài vị Cao, Tằng, Tổ, Khảo. Một số ít gia đình, nhiều hơn tại các vùng làng q còn

giữ được Thần chủ, một số gia đình khơng giữ được thần chủ nhưng vẫn còn Long

khảm trên ban thờ. Hiện nay, xu thế một số nhà thờ họ dựng lại Long khảm đặt trên

ban thờ gia tộc dòng họ. Tuy nhiên, ý nghĩa của Thần chủ, Long khảm không mấy ai

tường tận. Vì vậy, phương thức thờ “Ngũ đại mai thần chủ” khơng còn được duy trì.

15



Khơng có Thần chủ, khơng có bài vị các bậc Cao, Tằng, Tổ, Khảo nên giờ đây người

ta khơng còn khái niệm chỉ thờ cúng tổ tiên năm đời. Những gia đình nào còn may

mắn giữ lại được bài vị tổ tiên từ trước thì mãi mãi lưu giữ khơng tính đến chuyện đời

thứ 5 thì phải mai đi thay thế hệ mới vào đó nữa. Bài vị tổ tiên được cọi như bảo vật

cần được gìn giữ.

Nếu ngày xưa đồ thờ dùng gỗ táo thì nay người ta chuộng gỗ mít. Chúng tơi hỏi

những người làm đồ thờ tại làng Sơn Đồng, Hà Tây, một làng nổi tiếng với nghề làm

đồ thờ và tượng thờ thì được biết: “đồ thờ, tượng thờ làm bằng gỗ mít sẽ linh thiêng

hơn”. Vì sao linh thiêng thì khơng ai giải thích. Mơ hình thường thấy của một ban

thờ tổ tiên hiện nay trong các gia đình là mơt ban thờ hoặc trang thờ trên đó bày các

bát hương. Ban thờ tổ tiên cũng đồng thời là ban thờ Thần linh cai quản ngơi nhà nên

bài trí một ban thờ tổ tiên hiện nay thông thường gồm 3 bát hương. Bát to nhất ở giữa

thờ thần linh; bát bên phải to thứ hai thờ gia tiên dòng tộc không kể nội hay ngoại và

bao nhiêu đời; bát bên trái nhỏ hơn thờ những người mất trẻ (bà cơ, ơng mãnh) của

dòng tộc. Cũng có những gia đình bài trí khác, gồm một bát hương thần linh ở giữa;

bên phải là bát hương thờ bên nội; bên trái là bát hương thờ bên ngoại… Hiện khơng

có quy chuẩn cho sự bài trí ban thờ tổ tiên.

Sự chú trọng thờ cúng tổ tiên ngày nay còn được thể hiện ở sự chú trọng phần

mộ dòng tộc. Từ bao đời, phần mộ tổ tiên luôn được con cháu coi trọng và gìn giữ.

Tục ngữ có câu “ giữ như giữ mả tổ”. Câu tục ngữ đã thể hiện được tầm quan trọng

của mồ mả tổ tiên đối với người sống. Tuy nhiên, theo chúng tơi, đã có nhiều biểu

hiện chú trọng phần mộ tổ tiên một cách hơi thái quá trong xã hội ngày nay. Nhà nhà

đua nhau xây phần mộ nhà mình cho thật to, thật đẹp. Mộ là ngôi nhà của người mất.

Việc con cháu xây dựng cho tổ tiên một ngôi nhà mới, nhà đẹp là một nét đẹp văn hóa

nhưng đua nhau xây mộ sao cho mộ nhà mình phải to, phải đẹp hơn những nhà khác

lại là vấn đề cần phải suy nghĩ. Hiện chưa ai chứng minh được mộ to thì phúc lớn, mộ

nhỏ thì phúc bé. Chính lòng mong mỏi mộ nhà mình phải hơn nhà khác mà chúng ta

thấy hiện nay nhiều nghĩa trang xuất hiện tình trạng các mộ xây lấn vào nhau khiến

16



con cháu đến thắp hương khơng còn chỗ mà đứng mà đi vào phần mộ nhà mình.

Chăm sóc phần mộ tổ tiên là một nét văn hóa truyền thống của người Việt nhưng có lẽ

khơng nhất thiết phải đua nhau như vậy. Nhiều gia đình đã lâm vào tình trạng kinh tế

khó khăn, anh em bất đồng với những khoản đóng góp khơng nhỏ cho việc xây dựng

phần mộ, nhà thờ như vậy. Chúng ta cần tìm một cách nào để tránh lãng phí và phiền

hà cho những người thân đang sống thì có lẽ cũng sẽ hợp ý tổ tiên hơn.

II. Ý nghĩa của việc thờ cúng Vua Hùng

1.



Nguồn gốc của Tín ngưỡng thờ cúng Vua Hùng và vị trí của nó



trong tiềm thức của người Việt.

Tín ngưỡng thờ Hùng Vương từ hàng nghìn năm nay đã ăn sâu vào tâm thức của

người Việt. Lễ hội Đền Hùng hàng năm được tổ chức vào ngày 10/3 âm lịch đã trở

thành lễ hội văn hóa lớn nhất của cả nước. Qua Lễ hội Đền Hùng 2011, một lần nữa

hệ giá trị tinh thần này lại được khẳng định và tơn vinh.

Sách “ Lĩnh Nam Chích Qi” của Trần Thế Pháp thế kỷ XIII ghi chép về những

chuyện cổ tích và truyền thuyết của nước ta. Trong đó những truyện “Họ Hồng

Bàng”, “Truyện Ngư Tinh”, “Truyện Hồ Tinh”, “Truyện Đổng Thiên Vương”,

“Truyện Nhất dạ trạch”, “Truyện Mộc Tinh”, “Truyện cây cau”, “ Truyện Dưa hấu”, “

Truyện Lý ông Trọng” đã phản ánh về thời các Vua Hùng nhưng chủ yếu tập trung

giải thích về nguồn gốc “Đồng bào” Việt Nam, về ý thức lao động của con người để

chinh phục thiên nhiên, cải tạo thiên nhiên, làm ra của cải vật chất phục vụ cuộc sống

cho chính mình: Chử Đồng Tử khai phá đầm lầy, Mai An Tiêm cải tạo đảo hoang; Tản

Viên Sơn đắp đê chống lụt, dạy dân cấy lúa, làm bánh, trồng dâu, chăn tằm, dệt vải,

trồng dưa hấu, buôn bán trao đổi sản vật…

Sách “Việt Sử Lược” (biên soạn năm 1377) đã chép về Hùng Vương dựng nước

Văn Lang nhưng Vua với tư cách là một pháp sư tài giỏi thâu tóm được quyền lực các

bộ tộc để trở thành một vị thủ lĩnh tối cao của bộ lạc. Năm 1372, Hàn Lâm viện học sĩ

17



Hồ Tơng Thốc với sách “Việt Nam Thế Chí” đã là người đầu tiên đưa vào chính sử

các vị Hùng Vương vừa như một nhân vật lịch sử, lại vừa như là tinh thần dân tộc để

nhắc nhở, răn dạy con cháu theo quan niệm Trung hiếu của Nho giáo với những người

có cơng mở nước. Năm 1435 trong sách “Dư Đại Chí” Nguyễn Trãi đã nhắc đến

Hùng Vương theo thư tịch thời Trần như một niềm tự hào dân tộc…Từ đây về sau,

vua Hùng được gọi là Thánh Tổ và đựơc chính quyền Trung ương cơng nhận; nhân

dân ta trên khắp mọi miền đất nước xây đền thờ phụng. Trải qua hàng trăm năm, từ

thế kỷ XIII đến thế kỷ XV từ ngữ danh xưng Hùng Vương đã được tích tụ dần trở

thành chính thống.

Năm 1470, bằng việc soạn dựng “Ngọc phả cổ truyền về 18 chi đời Thánh Vương

triều Hùng” triều đại Hậu Lê đã khẳng định vị trí độc tơn dựng nước, sinh dân thuộc

về các Vua Hùng. Các Vua Hùng được nhân dân lập bàn thờ chính tại núi Nghĩa Lĩnh,

xã Hy Cương, thành phố Việt Trì (Phú Thọ) và còn rất nhiều các đền miếu thờ cúng

Hùng Vương và tướng lĩnh dưới thời các Vua Hùng ở Phú Thọ và nhiều địa phương

trong cả nước. Tín ngưỡng thờ Hùng Vương trong tiến trình lịch sử ln là yếu tố nội

lực của văn hóa dân tộc, góp phần hun đúc lòng tự hào, tạo nên tinh thần đồn kết,

u nước thương nòi của người Việt Nam.

Bằng chứng sinh động để khẳng định hệ tín ngưỡng thờ Hùng Vương là hơn 80

triệu con Lạc, cháu Hồng sinh sống trên dải đất hình chữ S đã lập hơn 1.400 di tích

thờ các vua Hùng, rồi tổ chức lễ hội hàng năm để bày tỏ tấm lòng tri ân tiên tổ. Đền

Hùng không phải là gốc của một tôn giáo, các Vua Hùng không phải là giáo chủ,

người Việt thờ cúng Hùng Vương khơng có học thuyết và cũng khơng có giáo hội

truyền bá, nhưng từ hàng ngàn đời nay, người Việt Nam vẫn hành hương về đền Hùng

để tri ân quốc Tổ, những người đã có cơng dựng nước. Lòng biết ơn, thành kính Tổ

tiên đã được cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng phát biểu trong ngày Giỗ Tổ Hùng Vương

năm 1969: “Từ lòng biết ơn đến sự tơn kính các thế hệ tiền nhân và tổ tiên gia đình,

dòng họ, dân tộc ta đã phát triển hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần ấy thành một



18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong giai đoạn hiện nay

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×