Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 4 MỘT SỐ NHẬN XÉT

Chương 4 MỘT SỐ NHẬN XÉT

Tải bản đầy đủ - 0trang

108

(Tiểu đoàn 2) lên hai cụm chủ lực ở Trung - Hạ Lào cùng với hàng ngàn bộ đội địa

phương ở các tỉnh, huyện, dân quân du kích ở các bản, mường. Khối quan chủ lực có

trình độ tổ chức và tác chiến cao đủ sức để đảm đương nhiệm vụ trên chiến trường.

Lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị Lào đã thực sự là “bà đỡ” cho chính quyền

cách mạng Lào ở vùng giải phóng. Từ năm 1973, Quân GPND Lào tự đảm đương

nhiệm vụ trên chiến trường, trực diện với quân thù, làm nòng cốt cho cuộc đấu tranh

của quần chúng ở các đô thị giành chính quyền năm 1975.

Căn cứ địa cũng là một nội dung được LLVT Quân khu 4 chú trọng xây dựng.

Để có địa bàn xây dựng căn cứ địa, LLVT Quân khu 4 đã phối hợp với quân dân Lào

mở nhiều chiến dịch và tổ chức nhiều trận đánh giải phóng đất đai cùng với hàng vạn

nhân dân. Kết quả là LLVT Quân khu 4 đã phối hợp quân dân Lào xây dựng được

căn cứ địa rộng lớn từ tỉnh Xiêng Khoảng xuống tận tỉnh Áttơpư có chiều sâu hàng

chục kilơmét tính từ biên giới Lào - Việt Nam. Nhờ vậy, Thị xã Sầm Nưa - căn cứ

địa Trung ương cách mạng Lào được nối thông với căn cứ địa Trung - Hạ Lào, vùng

Đông Bắc Campuchia và Mặt trận Tây Nguyên (Việt Nam), thông sang miền Bắc

Việt Nam qua địa bàn Quân khu 4, tạo nên một chiến trường thống nhất, một thế trận

liên hoàn, hậu phương nối liền với tiền tuyến của cách mạng ba nước Đông Dương.

Vùng giải phóng từ tỉnh Xiêng Khoảng đến tỉnh Áttơpư thực hiện nhiệm vụ của hậu

phương cung cấp nhân lực, vật lực cho cách mạng, đồng thời tiếp nhận sự chi viện từ

miền Bắc Việt Nam và các nước XHCN qua địa bàn Quân khu 4. Đây cũng là bàn

đạp vững chắc để lực lượng cách mạng Lào tiến về đồng bằng và thành thị. Việc xây

dựng căn cứ địa kháng chiến từ tỉnh Xiêng Khoảng xuống đến Áttôpư và lực lượng

cách mạng hùng hậu đã tạo hành lang an tồn phía Tây Quân khu 4. Căn cứ địa

kháng chiến ở các tỉnh Bôlikhămxay, Khăm Muộn, Xavannakhẹt, Áttôpư, Xaravan

đã chuẩn bị địa bàn để mở Tuyến vận tải chiến lược 559 chi viện sức người, sức của

cho chiến trường ba nước Đông Dương. Đây cũng là địa bàn để lực lượng vũ trang

Việt Nam làm bàn đạp mở các chiến dịch lớn trên chiến trường miền Nam Việt Nam,

như cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), chiến dịch phản công ở đường

số 9 - Nam Lào (năm 1971) và cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Những

kết quả về xây dựng căn cứ địa, xây dựng lực lượng chính trị và vũ trang của cách

mạng Lào đã đập tan âm mưu của Mỹ sử dụng lãnh thổ Lào chống phá cách mạng

Việt Nam.



109

Có thể khẳng định, kết quả của sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4

với quân dân Lào trong việc xây dựng cơ sở Đảng Nhân dân Lào, Neo Lào Hắcxạ,

xây dựng lực lượng và căn cứ địa cách mạng đã tạo ra nhân tố “quyết định nhất” đảm

bảo thắng lợi cuối cùng cho cách mạng Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ [35;

tr.332] ở các tỉnh Trung - Hạ Lào và tỉnh Xiêng Khoảng.

4.1.1.2. Trên lĩnh vực mở các tuyến đường chi viện chiến lược

Trước sự đánh phá của quân đội Sài Gòn trên Tuyến vận tải chiến lược 559

phía Đơng Trường Sơn, tháng 3/1961, Đoàn ủy Đoàn 559 xây dựng phương án mở

đường sang phía Tây Trường Sơn đi trên đất Lào bắt đầu từ địa bàn tỉnh Khăm Muộn

rồi phát triển ra các tỉnh Trung - Hạ Lào. Để thực hiện phương án này, LLVT Quân

khu 4 được lệnh phối hợp với quân dân Lào mở các chiến dịch để chuẩn bị địa bàn

mở đường. Theo đó, LLVT Quân khu 4 phối hợp với quân dân Lào mở nhiều chiến

dịch và hoạt động quân sự, như: Chiến dịch 128 (năm 1964) giải phóng cao nguyên

Na Cay; chiến dịch giải phóng các tỉnh Áttôpư và Xaravan (năm 1970); Chiến dịch

972 (năm 1972). LLVT Quân khu 4 cùng với cán bộ Lào tổ chức đi vào các bản,

mường tuyên truyền, giác ngộ nhân dân Lào hiểu chủ trương của bộ đội Việt Nam,

Đảng Nhân dân Lào và Neo Lào Hăcxạt về việc mở đường chiến lược. Nhân dân các

bộ tộc Lào đã nhường đất, di dời nhà cửa, nương rẫy, bản làng để lấy đất mở đường;

nhân dân Lào còn tham gia hàng vạn ngày công mở, tu sửa đường, xây dựng trạm,

kho. Một nội dung khơng kém phần quan trọng đó là nhân dân Lào có ý thức tốt

trong việc giữ bí mật về đường và các hoạt động của bộ đội. Mặc dù không quân Mỹ

và quân đội phái Hữu thường xuyên đánh phá, càn quét ác liệt, dùng mọi thủ đoạn để

mua chuộc, đe dọa, lôi kéo… nhưng nhân dân các bộ tộc vẫn sẵn sàng chịu đựng hi

sinh, gian khổ, tin tưởng vào cách mạng. Kết quả của sự phối hợp mở đường là hàng

ngàn kilômét đường được mở và tu sửa như các đường số 12, số 20, số 8, số 7, đường

129,... và các đường vòng, đường tránh, ngầm, cầu,... hàng trăm kho tàng, binh trạm

được xây dựng... Sự phối hợp mở đường giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào

đã góp phần vào thắng lợi của hoạt động Tuyến vận tải chiến lược 559. Sự phối hợp

của quân dân Lào trong việc trực tiếp tổ chức tác chiến, nhường đất để mở đường,

tham gia mở đường, bảo vệ đường... chính là sự phối hợp chiến đấu chặt chẽ, có hiệu

quả cao giữa quân dân Lào với LLVT Quân khu 4. Đây chính là biểu tượng sáng

ngời tình đồn kết đặc biệt Lào - Việt, Việt - Lào. Có thể khẳng định, khơng có



110

Tuyến vận tải 559, cách mạng Lào và cách mạng Việt Nam khó có thể giành thắng

lợi trong năm 1975.

4.1.1.3. Trên lĩnh vực phối hợp tác chiến

Để có địa bàn đứng chân, tiêu diệt sinh lực địch và mở rộng vùng giải

phóng,LLVT Quân khu 4 đã phối hợp với quân dân Lào mở nhiều chiến dịch và hoạt

động quân sự, như Chiến dịch 128 (năm 1964); chiến dịch giải phóng các tỉnh Áttôpư

và Xaravan (năm 1970); Chiến dịch 972 (năm 1972) cùng hàng trăm trận đánh lớn

nhỏ khác. Kết quả của sự phối hợp tác chiến giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân

Lào là đã tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu, gọi hàng hàng chục ngàn tên địch,

làm tan rã và xóa sổ nhiều tiểu đồn địch, nhiều ổ phỉ và tốn biệt kích; thu và phá

hủy nhiều phương tiện chiến tranh của quân đội phái Hữu và Lực lượng đặc biệt do

Vàng Pao cầm đầu. Kết quả này đã góp phần tạo những quả “đấm thép” trên chiến

trường, tạo thắng lợi trên bàn đàm phán vào các năm 1962, 1973; góp phần đưa Quân

GPND Lào từ thế bị động, bị bao vây, cô lập chuyển sang thế chủ động tiến công.

Sau Hiệp định Viêng Chăn năm 1973, sự phối hợp tác chiến đã làm tê liệt đối

phương, tạo động lực cho quần chúng nổi dậy giành chính quyền trên toàn quốc. Kết

quả của phối hợp tác chiến giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào là đã giải

phóng một vùng đất rộng lớn dọc biên giới Lào - Việt Nam từ tỉnh Xiêng Khoảng

xuống đến tỉnh Áttôpư có độ sâu hàng chục kilơmét tính từ biên giới Lào - Việt Nam

cùng với hàng vạn nhân dân. Vùng giải phóng là điều kiện để cách mạng Lào xây

dựng căn cứ địa, xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, xây dựng cơ sở

đảng, cơ sở của Neo Lào Hăcxạt và các đoàn thể cách mạng khác, đồng thời chuẩn bị

địa bàn để Đoàn 559 mở các tuyến vận tải chiến lược. Kết quả của phối hợp tác chiến

cũng đã đập tan âm mưu của địch phá hoại các tỉnh trên địa bàn Quân khu 4 từ phía

Tây, đồng thời góp phần bảo vệ Tuyến vận tải chiến lược 559, bảo vệ của ngõ vào

căn cứ địa cách mạng Lào qua các tuyến đường số 7, số 8, số 12, số 20, góp phần

đảm bảo dòng chảy chi viện chiến trường. Khơng có phối hợp tác chiến sẽ khơng có

chiến thắng vào năm 1975.

4.1.2. Hạn chế

Bên cạnh những thành tựu, sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với

quân dân Lào vẫn còn một số hạn chế nhất định.

4.1.2.1.Trên lĩnh vực xây dựng lực lượng và căn cứ địa



111

Quan điểm của Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Lào là “cách

mạng Lào phải do nhân dân Lào và cán bộ Lào làm lấy” [111; tr 464], LLVT Quân

khu 4 hoạt động trên đất Lào phải tôn trọng độc lập, chủ quyền của Lào [20; tr.33],

phải tin tưởng vào sức mạnh cách mạng Lào, phải có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán

bộ Lào, phải nghiên cứu kỹ đặc điểm xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán... của Lào

để từ đó xây dựng kế hoạch có tính khả thi cao. Tuy nhiên, trong q trình phối hợp

chiến đấu vẫn còn có hiện tượng cán bộ, chiến sĩ của LLVT Quân khu 4 chưa nắm

vững chủ trương của Đảng, quân đội về việc thực hiện nhiệm vụ quốc tế ở Lào, dẫn

đến còn có tư tưởng nước lớn, tự cao, tự đại. Hiện tượng thiếu tôn trọng, không tin

năng lực của cán bộ, chiến sĩ Lào còn diễn ra ở nhiều đơn vị; nhiều cán bộ Việt Nam

chỉ thấy mặt hạn chế chứ không nhìn thấy mặt tích cực của cán bộ, chiến sĩ Lào [13;

tr.349], dẫn đến việc bao biện, làm thay còn khá phổ biến. Nhiều đơn vị thiếu kế

hoạch bồi dưỡng cán bộ người Lào, cho nên khi thực hiện nhiệm vụ khơng có cán bộ

Lào để bàn bạc và phối hợp, do đó hiệu quả cơng việc thấp, thậm chí thất bại. Có

nhiều đơn vị coi nặng tác chiến, xem nhẹ cơng tác bồi dưỡng chính trị, tư tưởng, xây

dựng lực lượng chính trị. Hậu quả là một số địa bàn, cơng tác chính trị khơng theo

kịp qn sự, địa bàn được giải phóng nhưng khơng có cán bộ để xây dựng chính

quyền cách mạng, nên địch thừa cơ chiếm lại, như: năm 1963, địch chiếm lại Căm

Cợt đã được giải phóng trước đó [118; tr.93]; Cò Hãy, Tung Xin, Tham Pợ (Mường

Mộc, tỉnh Xiêng Khoảng) được giải phóng nhưng bị địch chiếm lại năm 1970 [120;

tr.212], thung lũng Mường Nham bị địch chiếm vào năm 1971...[120; tr.223].

Trong quá trình tuyên truyền, vận động quần chúng, do không nắm vững

phong tục, tập quán của Lào, nên các đội tuyên truyền khó tiếp cận đối tượng, hoặc

có tiếp cận nhưng hiệu quả không cao. Trong việc lựa chọn cán bộ để bồi dưỡng còn

thiếu kỹ càng, dẫn đến chọn và bồi dưỡng nhầm cán bộ, để địch lọt vào cơ sở gây cho

cách mạng nhiều tổn thất. Trường hợp Bí thư Tỉnh ủy Bôlikhămxay gây phản loạn

năm 1972 là một điển hình. Những hạn chế trên đã dẫn đến hậu quả là nhiều nơi

thiếu cán bộ để trao đổi, bàn bạc, cho nên kết quả bị hạn chế, khơng hồn thành

nhiệm vụ, thậm chí thất bại.

Về phía cán bộ và nhân dân Lào còn có tâm lý tự ty, khơng tin vào khả năng

của chính mình, dẫn đến thiếu sự năng động, sáng tạo, “thiếu tinh thần tự lực cánh

sinh và ý thức tiết kiệm” [10; tr.49]; chưa thấy được sức mạnh của sự phối hợp chiến



112

đấu của họ đối với cuộc kháng chiến của hai nước, nhất là sự phối hợp mở tuyến vận

tải chiến lược ở phía Tây Trường Sơn để chi viện chiến trường; chưa thấy được mối

quan hệ biện chứng giữa cách mạng Lào và cách mạng Việt Nam. Giai đoạn đầu của

cuộc kháng chiến, cán bộ, chiến sĩ của cách mạng Lào chưa mạnh dạn đảm đương

cơng việc, chưa có tự tin; tư tưởng bao cấp, trơng chờ vào viện trợ từ Việt Nam còn

nặng nề.

4.1.2.2. Trên lĩnh vực mở các Tuyến đường chi viện chiến lược

Khi quyết định mở Tuyến vận tải chiến lược 559 trên đất Lào, vấn đề đặt ra là

cần phải có địa bàn để mở đường; đảm bảo an tồn, bí mật cho lực lượng mở đường,

vận tải và kho, trạm. Tuyến vận tải chiến lược chạy dọc phía Tây dãy Trường Sơn

qua những bản xa xôi, hẻo lánh, qua nhiều vùng dân cư và nương rẫy chủ yếu là của

các đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ dân trí còn thấp, cơ sở cách mạng chưa có,

hoặc có nhưng chưa đủ mạnh, nhiều quãng đường phải đi qua các vùng phỉ kiểm

soát; nhân dân chưa hiểu ý nghĩa chủ trương của Neo Lào Hắcxạt và bộ đội Việt

Nam về việc mở đường. Ở những vùng địch kiểm soát, nhân dân bị địch, khống chế,

kích động, gây tâm lý nghi ngờ bộ đội Việt Nam v.v... Vì vậy, việc vận động nhân

dân nhường đất, chuyển nơi ở cũng gặp những khó khăn nhất định, cán bộ của cách

mạng Lào phải mất nhiều thời gian để vận động, tuyên truyền, giải thích... LLVT

Quân khu 4 và quân dân Lào phải mở các chiến dịch lớn hoặt các hoạt động quân sự

để quét sạch địch ra khỏi địa bàn có đường đi qua, như Chiến dịch 128, Mặt trận X,

Mặt trận Z, Chiến dịch 972... Khi đường và các kho trạm được mở, việc giữ bí mật,

phòng gian1 rất khó khăn. LLVT Quân khu 4 và các đảng bộ, chi bộ, chi hội Neo Lào

Hăcxạt ở các địa phương phải mất nhiều thời gian để hướng dẫn, vận động nhân dân

giữ bí mật trước sự thám thính, mua chuộc của kẻ thù. Trong quá trình khảo sát mở

các tuyến đường ở vùng hẻo lánh, thiếu sự phối hợp của các chức sắc địa phương,

nên khơng tìm được phương án tối ưu, gây lãng phí, thậm chí khi đường được mở

nhưng sử dụng kém hiệu quả. Điển hình là tuyến đường từ huyện Hương Sơn (tỉnh

Hà Tĩnh) qua Lạc Xao (tỉnh Bôlikhămxay) tiến xuống Nhơmmalạt, vòng qua

Mahảxay nhập với mạng đường Hồ Chí Minh ở tỉnh Khăm Muộn được mở, nhưng

kém hiệu quả, gây lãng phí. Cơng tác phối hợp bảo mật, phòng gian có nơi, có lúc

1



. Để giữ bí mật, mọi lực lượng của Việt Nam hoạt động trên đất Lào phải xóa mọi dấu vết. Kể cả khi về nước,

các cá nhân, đơn vị phải tuyệt đối không được để lộ những hoạt động trên đất Lào.



113

còn lỏng lẻo, làm lộ bí mật về đường, kho, trạm, bị địch phát hiện, tập trung đánh

phá, gây cho ta và Bạn thiệt hại lớn về người và hàng hóa. Điển hình nhất là bản

Natặngchay ( tỉnh Khăm Muộn) bị máy bay địch đánh phá làm chết 42 người trong

tổng số 43 người [138; tr.622].

4.1.2.3. Trên lĩnh vực tác chiến

Việc quán triệt chủ trương của QĐND Việt Nam cho chiến sĩ làm nhiệm vụ ở

Lào có nhiều đơn vị thực hiện chưa tốt, do đó dẫn đến phát sinh những tiêu cực trong

quá trình phối hợp tác chiến, như xem nhẹ vai trò của của LLVT Lào, do đó có nhiều

trận đánh thiếu sự phối hợp hoặc phối hợp thiếu chặt chẽ cho nên một số mục tiêu

chiến dịch hoặc mục tiêu trận đánh khơng thực hiện được, thậm chí dẫn đến lực

lượng của liên quân bị tổn thất. Điển hình nhất là chiến dịch giải phóng đường số 9

(tháng 3/1965). Do kế hoạch phối hợp tác chiến với Tiểu đoàn 18, 14 của Quân

GPND Lào thiếu chặt chẽ, nên chiến dịch không đạt mục tiêu đề ra, lực lượng tình

nguyện hi sinh 74 chiến sĩ, bị thương 83 chiến sĩ, mất tích 23 chiến sĩ [13; tr.344].

Trận tiến công địch ở Mường Ngàn (tháng 2/1961) do lực lượng của Quân GPND

Lào yếu, phối hợp thiếu chặt chẽ, cụ thể, nên kế hoạch không thực hiện được. Trận



tiến công Mường Ngạt, tỉnh Xiêng Khoảng (tháng 5/1961),do hợp đồng tác chiến

giữa Tiểu đoàn 3 của Lữ đoàn 324 với Pathet Lào thiếu chặt chẽ, nên có 16 chiến sĩ

bị thương và hi sinh vì mìn địch. Đây là một trong những bài học xương máu mà lực

lượng liên quân phải trả giá đắt trong việc phối hợp tác chiến. Trận Phu Hắc do sự

phối hợp với Quân GPND Lào thiếu chặt chẽ, công tác dân vận không tốt, lực lượng

của liên quân không nắm được tình hình địch, nên khi tác chiến đã bắn 3,7 tấn đạn

chỉ diệt và làm bị thương 3 tên; Tiểu đồn 929 phòng ngự ở Khâm Phương bắn 180

quả đạn cối nhưng không gây thiệt hại cho địch… [13; tr.357].

Hạn chế phổ biến nhất trong phối hợp tác chiến là cán bộ, chiến sĩ của LLVT

Quân khu 4 không thơng thạo tiếngLào và địa hình dẫn đến có nhiều trận đánh sự

phối hợp thiếu chặt chẽ, nhiều đơn vị bị lạc đường, không tiếp cận được mục tiêu

trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Trong trận đánh chiếm cao nguyên Na Cay, Tiểu

đoàn 3 của Lữ đoàn 324 và Tiểu đồn 927 vì khơng có người dẫn đường nên một đơn

vị bị lạc đường trong quá trình hành quân, nhiệm vụ khơng hồn thành; sự phối hợp

điều tra thiếu chặt chẽ, nên bộ đội khơng nắm được địa hình, địch lợi dụng rút quân

nhưng ta không phát hiện được, mục tiêu tiêu diệt sinh lực địch không cao; trận tập



114

kích tiêu diệt Chỉ huy sở phòng ngự của địch ở Pha Khuốc, Pha Non của Tiểu đoàn

927 (tháng 11/1964), do phối hợp với Quân GPND Lào thiếu chặt chẽ, địch lợi dụng

sơ hở ở hướng nghi binh nên tháo chạy, ý đồ tiêu diệt sinh lực địch không đạt được.

Trong quá trình phối hợp tác chiến, cán bộ chỉ huy chưa coi trọng vai trò của quân

dân Lào để tranh thủ làm công tác dân vận, binh vận, do đó việc trinh sát, điều

nghiên tình hình địch thiếu chính xác, nên khơng nắm được địch. Vì vậy, nhiều trận

đánh, lực lượng của ta bố trí q nhiều khơng cần thiết. Ngược lại, có những trận, lực

lượng của địch lớn, ta chỉ bố trí lực lượng tác chiến ít nên đã khơng hồn thành

nhiệm vụ lại bị tổn thất về lực lượng. Do xem nhẹ vai trò của Quân GPND Lào, chưa

tin vào trình độ tổ chức tác chiến của Quân GPND Lào, nên trong một thời gian dài,

sự phối hợp tác chiến còn lỏng lẻo, Quân GPND Lào chỉ phụ trách các hướng phụ,

nghi binh, tải đạn, tải thương... là chủ yếu.

Như vậy, quá trình phối hợp giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào (19551975) bên cạnh thành tựu là chủ yếu, vẫn còn một số hạn chế. Những hạn chế đã gây

ra khó khăn cho việc phối hợp tác chiến, nhưng từng bước đã được LLVT Quân khu

4 và Lào khắc phục.

4.2. Đặc điểm

4.2.1. Sự phối hợp chiến đấu diễn ra sớm và liên tục trong một thời gian dài

Tháng 11/1955, LLVT Quân khu 4 rút về nước, quân chủ lực Pathet Lào tập

kết về tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Phongxalì, lợi dụng tình hình đó, phái Hữu tập trung

đàn áp phong trào cách mạng ở 10 tỉnh do chính quyền Vương quốc Lào quản lý. Vì

vậy, việc giúp cách mạng Lào duy trì cơ sở cách mạng và đào tạo cán bộ cách mạng

trở thành vấn đề cấp bách. Trong khi đó, các tỉnh địa bàn Quân khu 4 vừa bước ra

khỏi cuộc kháng chiến với đầy rẫy khó khăn, như tình trạng thiếu lương thực, tàn dư

của xã hội cũ, hậu quả cuộc chiến tranh, sự chống phá của các thế lực thù địch,...

Ngoài ra, với vị trí ở tuyến đầu của miền Bắc, các tỉnh Qn khu 4 còn phải chuẩn bị

cho cơng cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Mặc dù vậy, LLVT Quân khu 4 vẫn

được Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam tin tưởng giao nhiệm vụ giúp đỡ quân dân

Lào kháng chiến chống đế quốc Mỹxâm lược.

Ngày 6/4/1955, Đảng Nhân dân Lào có Điện văn đề nghị Đảng Lao động Việt

Nam tiếp tục giúp đỡ cách mạng Lào [58; tr.423]. Tháng 11/1955, thực hiện lệnh rút

lực lượng về nước, nhưng Quân khu 4 vẫn bố trí cán bộ ở lại tiếp tục giúp cách mạng



115

Lào duy trì cơ sở cách mạng, hướng dẫn nhân dân vùng tạm chiếm thực hiện Hiệp

định Giơnevơ. Tháng 8/1956, Quân khu 4 tiếp tục cử 25 cán bộ sang giúp Lào xây

dựng cơ sở cách mạng, duy trì phong trào cách mạng ở vùng Thượng Lào. Đây là

những cán bộ đầu tiên của lực lượng vũ trang Việt Nam sang giúp cách mạng Lào kể

từ khi Đảng Nhân dân Lào có yêu cầu giúp đỡ. Như vậy, LLVT Quân khu 4 có mặt

bên cạnh nhân dân Lào từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ và tay

sai. Tháng 3/1958, Quân khu 4 đưa lực lượng với qui mơ cấp tiểu đồn sang giúp Lào

tạo địa bàn để xây dựng căn cứ địa ở Xiêng Khoảng, Liên mường 90, Khăm Muộn.

Tháng 5/1959, nhận được tin Tiểu đoàn 2 Pathet Lào bị bao vây, LLVT Quân khu 4

cũng đã có mặt kịp thời, giải cứu thành công.

Từ tháng 11/1955 đến tháng 12/1975, trong suốt 20 năm, mặc dù còn phải làm

các nhiệm vụ khác trong nước, nhưng LLVT Quân khu 4 luôn sát cánh bên cạnh

quân dân Lào ở mọi thời điểm, mọi điểm nóng để chống đế quốc Mỹ và tay sai.Về

lực lượng tham gia phối hợp, thời điểm cao nhất vào đầu những năm 70 của thế kỷ

XIX, LLVT Quân khu 4 tham gia chiến đấu trên chiến trường Lào với số lượng

tương đương cấp sư đoàn cùng phương tiện chiến đấu và hậu cần đảm bảo.

Sau Hiệp định Giơnevơ (1954), phong trào cách mạng ở các tỉnh Xiêng

Khoảng, Liên mường 90 (sau này cơ bản là địa bàn của tỉnh Bôlikhămxay), Khăm

Muộn, Xaravan, Áttơpư đứng trước những khó khăn, thử thách chưa từng có. Trong

bối cảnh đó, LLVT Quân khu 4 đã kịp thời có mặt bên cạnh cách mạng Lào duy trì

cơ sở, phong trào cách mạng. So với các quân khu khác, Quân khu 4 là quân khu có

lực lượng bên cạnh cách mạng Lào sớm nhất, nhanh nhất, thời gian dài nhất. Với vị

trí địa lý liền kề, sự tương đồng về kinh tế, văn hóa, truyền thống chống ngoại xâm,

nhất là kinh nghiệm trong phối hợp chiến đấu với quân dân Lào trong những năm

kháng chiến chống thực dân Pháp là cơ sở, tiền đề, điều kiện, ưu thế vượt trội so với

các quân khu khác để Quân khu 4 được Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam lựa chọn

giúp cách mạng Lào chống Mỹ và tay sai. Chính vì vậy. LLVT Qn khu 4 thực hiện

phối hợp chiến đấu sớm nhất, liên tục, lâu dài và đạt hiệu quả cao. Trong suốt 20

năm, từ 1955 đến 1975, LLVT Qn khu 4 đã đóng góp cơng sức, trí tuệ, mồ hơi và

xương máu của mình góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ và tay

sai của nhân dân Lào.



116

4.2.2. Sự phối hợp chiến đấu diễn ra trên các địa bàn chiến lược quan trọng

nhất của Lào

Các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlikhămxay, Khăm Muộn, Xavannakhẹt, Áttôpư và

Xaravan có các địa bàn chiến lược quan trọng nhất khơng chỉ đối với Lào, mà còn

đối với Việt Nam và Campuchia. Các tỉnh này có vị trí liền kề với các tỉnh Nghệ An,

Hà Tĩnh, Quảng Bình - địa bàn của Quân khu 4. Nếu bên nào chiếm được các tỉnh

này có thể khống chế cả Trung - Hạ Lào, tạo nên một lát cắt trên chiến trường Đông

Dương, từ đó có thể khống chế miền trung Việt Nam và rộng hơn là cả chiến trường

Đông Dương.

Từ các tỉnh Xiêng Khoảng, Bơlikhămxay, Khăm Muộn, Xavannakhẹt, có 5

tuyến đường quốc lộ là đường số 7, số 8, số 9, số 12 và số 20 đi về miền Trung Việt

Nam. Nếu chiếm được Xiêng Khoảng, Bôlikhămxay, Khăm Muộn địch dễ dàng uy

hiếp các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, uy hiếp phía Tây Qn khu 4. Chiếm

Xavannakhẹt, Áttơpư và Xaravan, địch có thể tấn cơng phía Tây tỉnh Quảng Trị và

Quảng Nam. Đặc biệt, tỉnh Áttơpư nằm vị trí ngã ba Đông Dương, giáp biên giới Lào

- Việt Nam - Campuchia, do đó, nếu chiếm được tỉnh này có thể tác động lớn đến

phong trào cách mạng của cả ba nước Đơng Dương. Các tỉnh này là phên dậu phía

Tây của Quân khu 4, bởi vậy, nếu cách mạng Lào nắm được nó sẽ đảm bảo cho phần

biên giới phía Tây của miền Bắc Việt Nam. Vùng giải phóng Lào sẽ nối liền với hậu

phương lớn là miền Bắc Việt Nam và xa hơn là hệ thống XHCN.

Đây là địa bàn chiến sự diễn ra khốc liệt, kéo dài hơn bất kỳ địa bàn nào trên

lãnh thổ Lào. Chính vì vậy mà sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với

quân dân Lào tại chiến trường này chịu nhiều áp lực, thử thách hơn bất kỳ chiến

trường nào khác ở Lào. Kết quả của sự phối hợp chiến đấu của LLVT Quân khu 4

với quân dân Lào tại chiến trường này có ảnh hưởng rất lớn khơng chỉ đối với cách

mạng Lào và địa bàn Quân khu 4 mà còn tác động lớn đối với cách mạng miền Nam

Việt Nam và cách mạng Campuchia.

Với tầm quan trọng về mặt địa - chiến lược của các tỉnh Xiêng Khoảng,

Bôlikhămxay, Khăm Muộn, Xavannakhẹt, Áttơpư và Xaravan, nên cả phía liên quân

Quân khu 4 - Lào, Mỹ và phái Hữu đều tìm mọi cách để kiểm sốt. Với sự giúp đỡ

của LLVT Quân khu 4, từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX, trên địa bàn các tỉnh

Xiêng Khoảng, Bôlikhămxay, Khăm Muộn, Xavannakhẹt, Áttơpư và Xaravan đã



117

hình thành vùng giải phóng rộng lớn, căn cứ địa chủ yếu của cách mạng Lào. Bởi

vậy, nơi đây trở thành địa bàn tranh giành quyết liệt nhất và liên tục giữa cách mạng

Lào và phái Hữu trong những năm kháng chiến chống Mỹ, là địa bàn quyết định

thành, bại đối với cuộc chiến tranh ở Lào. Các chiến dịch lớn và các hoạt động quân

sự dài ngày có tác động lớn đối với chiến trường ba nước Đông Dương đều diễn ra

trên địa bàn các tỉnh này: năm 1961, phái Hữu mở chiến dịch Xaxanạ trên địa bàn các

tỉnh Trung - Hạ Lào; năm 1963, liên quân Quân khu 4 - Lào mở Chiến dịch 128 ở

Khăm Muộn chuẩn bị địa bàn cho việc mở Tuyến vận tải chiến lược 559 và mở rộng

căn cứ địa cho cách mạng Lào; năm 1965, Mỹ dùng không quân đánh phá ác liệt

Tuyến vận tải chiến lược 559 chạy dọc các tỉnh Bôlikhămxay, Khăm Muộn,

Xavannakhẹt, Áttôpư và Xaravan nhằm ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc Việt Nam

cho chiến trường ba nước Đông Dương; năm 1969 và năm 1971, phái Hữu mở hai

chiến dịch lớn tấn cơng Cánh đồng Chum nhằm kiểm sốt “cửa ngõ” từ Lào sang các

Quân khu 4; năm 1970, liên quân Việt Nam- Lào liên tục mở các Mặt trận X, Z, Y ở

Áttôpư, Xaravan và Bôlôven; năm 1971, quân đội Mỹ cùng với quân đội Sài Gòn mở

Chiến dịch Lam Sơn - 719 đánh vào đường số 9 - Nam Lào nhằm cắt đứt Tuyến vận

tải chiến lược 559. Để đập tan âm mưu này, liên quân Việt Nam - Lào mở chiến dịch

phản công; năm 1972, liên quân Quân khu 4 - Lào mở chiến dịch 972 ở tỉnh Khăm

Muộn và các mặt trận phối hợp ở tỉnh Xiêng Khoảng vàtỉnh Bôlikhămxay nhằm tiếp

tục tiêu diệt sinh lực địch, bảo vệ vùng giải phóng và tuyến vận tải chiến lược.

Trên địa bàn các tỉnh Bôlikhămxay, Khăm Muộn,Xavannakhẹt, Áttôpư và

Xaravan có Tuyến vận tải chiến lược 559 đi qua. Đây là tuyến giao thông huyết mạch

chi viện sức người, sức của cho chiến trường Đơng Dương. Kiểm sốt được các tỉnh

này, địch sẽ khống chế được Tuyến vận tải chiến lược 559, do đó cắt đứt sự chi viện

của miền Bắc Việt Nam cho cách mạng ba nước Đông Dương. Vận mệnh cách mạng

ba nước Đông Dương một phần phụ thuộc vào sự sống còn của Tuyến vận tải chiến

lược 559 chạy trên các tỉnh Bôlikhămxay, Khăm Muộn, Xavannakhẹt, Áttôpư và

Xaravan. Do đó, hoạt động của LLVT Quân khu 4 và quân dân Lào tại địa bàn này

vừa xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng Lào, vừa tạo hành lang an toàn cho Tuyến

vận tải chiến lược 559.

Cũng từ địa bàn các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlikhămxay, Khăm Muộn,

Xavannakhẹt, Áttôpư và Xaravan, từ năm 1973, Quân GPND Lào làm bàn đạp tiến



118

về đồng bằng và đô thị gây áp lực với phái Hữu để giành chính quyền trong cả nước

vào tháng 12/1975.

4.2.3. Nội dung phối hợp chiến đấu phong phú, toàn diện

Sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 và quân dân Lào được thể hiện

trong việc phối hợp xây dựng lực lượng, căn cứ địa, tổ chức tác chiến, mở và bảo vệ

các tuyến đường chiến lược.

Về xây dựng lực lượng, ngay từ khi có mặt ở chiến trường Lào, dưới sự chỉ

đạo của Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam, LLVT Quân khu 4 đã phối hợp với quân

dân Lào bắt tay ngay vào xây dựng lực lượng chính trị vàlực lượng vũ trang. Tháng

8/1956, Quân khu 4 cử 25 cán bộ sang Thượng Lào xây dựng cơ sở chính trị, đẩy

mạnh cơng tác tun truyền, giác ngộ nhân dân, đào tạo cán bộ nòng cốt, duy trì

phong trào cách mạng. Với phương châm đào tạo là “cầm tay chỉ việc”, các tổ công

tác của Quân khu 4 đã hướng dẫn tỉ mỉ, cụ thể công việc. Khi cán bộ Lào thành thạo

cơng việc thì mọi công việc do cán bộ Lào tự quyết định, tự làm lấy, cán bộ Việt

Nam chỉ đóng vai trò vai trò cố vấn. Nhận thức sâu sắc quan điểm có dân là có tất cả,

các tổ cơng tác của LLVT Quân khu 4 đã phối hợp với cán bộ nòng cốt của cách

mạng Lào thực hiện phương châm: “hai bám” (bám dân, bám bản, mường) và “ba

cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng làm) để tuyền truyền, giác ngộ nhân dân, hướng dẫn

nhân dân tham gia cách mạng. Khi đội ngũ cán bộ Lào đã trưởng thành thì lực lượng

chuyên gia Quân khu 4 cùng với họ trao đổi, bàn bạc cơng việc kháng chiến trên tinh

thần bình đẳng, tơn trọng lẫn nhau.

Với sự phối hợp của LLVT Quân khu 4, ở các tỉnh Xiêng Khoảng,

Bôlikhămxay, Khăm Muộn, Xavannakhẹt, Áttôpư và Xaravan đã có hàng vạn quần

chúng nhân dân các bộ tộc Lào được giáo dục, giác ngộ, tích cực tham gia kháng

chiến. Sau Hiệp định Viêng Chăn (năm 1973), dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân

Cách mạng Lào và Trung ương Neo Lào Hăcxạt cùng với sự giúp đỡ của LLVT

Quân khu 4, nhân dân ở các tỉnh trên đã nổi dậy giành chính quyền.

Cùng với xây dựng lực lượng chính trị, LLVT Quân khu 4 giúp cách mạng

Lào tập trung sức phát triển lực lượng vũ trang với ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ

đội địa phương và dân quân, du kích. Xây dựng lực lượng vũ trang trở thành vấn đề

sống, còn của cách mạng Lào lúc này. Tháng 11/ 1955, quân chủ lực Pathet Lào tập

kết về tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Phongxalì, ở 10 tỉnh do chính quyền Vương quốc quản



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 4 MỘT SỐ NHẬN XÉT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×