Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 3 HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP CHIẾN ĐẤU GIỮA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU 4 (VIỆT NAM) VỚI QUÂN DÂN LÀO TRÊN CHIẾN TRƯỜNG LÀO (1955 - 1975)

Chương 3 HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP CHIẾN ĐẤU GIỮA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU 4 (VIỆT NAM) VỚI QUÂN DÂN LÀO TRÊN CHIẾN TRƯỜNG LÀO (1955 - 1975)

Tải bản đầy đủ - 0trang

54

Lào trước mắt là giữ vững và phát triển cơ sở quần chúng ở vùng vừa rút quân,

phương châm đấu tranh bằng chính trị là chính...[139; tr.233]. Theo đó, Chính phủ

kháng chiến Pathet Lào một mặt bố trí lực lượng tập kết, đồng thời tổ chức lực lượng

bí mật ở lại xây dựng cơ sở chính trị và duy trì phong trào cách mạng. Giáo dục chính

trị tư tưởng được Chính phủ kháng chiến Pathet Lào xác định là cơng tác chuyển tiếp

của cuộc đấu tranh chính trị trong thời gian đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Để giúp cách mạng Lào giữ vững và phát triển cơ sở cách mạng ở vùng vừa

rút quân, Bộ Tư lệnh Liên khu 41 bố trí một số cán bộ có kinh nghiệm hoạt động trên

chiến trường Lào ở lại để tiếp tục cùng với số cán bộ nòng cốt của Lào duy trì cơ sở

cách mạng ở các tỉnh Xiêng Khoảng, Khăm Muộn, Xavẳnnakhẹt, Xaravan, Áttôpư và

Liên mường 90. Tháng 8/1956, Liên khu 4 tiếp tục đưa 25 cán bộ dày dạn kinh

nghiệm sang xây dựng cơ sở cách mạng ở Thượng Lào để từng bước phát động

phong trào đấu tranh cách mạng với hình thức tổ chức nói chuyện, cùng ăn, cùng ở,

cùng sản xuất với nhân dân các bộ tộc Lào. Nhờ vậy, phong trào cách mạng và cơ sở

cách mạng ở địa bàn dọc biên giới Lào - Việt Nam vẫn được duy trì.

Song song với việc giúp cách mạng Lào duy trì các cơ sở cách mạng, Bộ Tư

lệnh Liên khu 4 chỉ đạo Trung đoàn 280 giúp đỡ Tiểu đoàn 1 Pathet Lào ở Trung Lào

hành quân theo đường số 12 vượt biên giới Lào - Việt Nam vào tỉnh Quảng Bình,

hành quân ra các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa rồi vượt biên giới Việt Nam Lào về tỉnh Hủa Phăn. Trên hướng tỉnh Xiêng Khoảng, bốn đại đội của tỉnh Viêng

Chăn được Bộ Tư lệnh Liên khu 4 giúp đỡ, vượt biên giới Lào - Việt Nam vào tỉnh

Nghệ An hành quân ra tỉnh Thanh Hóa, vượt biên giới Việt Nam - Lào về Hủa Phăn

[139; tr.236-237]. Ở Hạ Lào, Trung đoàn 101 và quân dân Liên khu 4 đã giúp đỡ

3260 cán bộ, chiến sĩ Pathet Lào cùng với gia đình vượt biên giới Lào - Việt Nam

qua địa bàn Liên khu 4 tập kết về tỉnh Hủa Phăn [16; tr.187-188].

Tính chung các đợt, Liên khu 4 đã giúp 5426 cán bộ, chiến sĩ, phụ nữ, trẻ em

Lào tập kết về Hủa Phăn an toàn [13; tr.65]. Sự giúp đỡ của Liên khu 4 trong việc tập

kết lực lượng Pathet Lào, phái Hữu khơng phát hiện kế hoạch của Chính phủ Kháng

chiến Pathet Lào trong việc bố trí lực lượng quân sự sau Hiệp định Giơnevơ. Có thể

nói, đây là một trong những thắng lợi đầu tiên của sự phối hợp giữa LLVT Quân khu

4 với quân dân Lào trong việc “che dấu lực lượng” và bảo vệ các cơ sở cách mạng ở

1



. Lúc này Quân khu 4 có tên gọi là Liên khu 4.



55

những vùng Pathet Lào vừa mới rút quân.

Tháng 3/1955, tại tỉnh Hủa Phăn, Đảng Nhân dân Lào được thành lập. Ngay

sau khi ra đời, Đảng Nhân dân Lào chủ trương xây dựng, củng cố các tổ chức quần

chúng với ba hình thức: hợp pháp, bán hợp pháp và bất hợp pháp, ra sức xây dựng

đội ngũ cán bộ cách mạng... Tháng 8/1955, Trung ương Đảng Nhân dân Lào ra Nghị

quyết chủ trương đẩy mạnh đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh quân sự để giữ vững

căn cứ địa Sầm Nưa và Phongxalì, giữ vững và phát triển cơ sở cách mạng ở 10 tỉnh

trong Chính phủ Vương quốc Lào quản lý [139; tr.248]. Tháng 1/1956, Trung ương

Neo Lào Hắcxạt cơng bố Cương lĩnh chính trị 12 điểm và kêu gọi toàn dân đoàn kết,

tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân u chuộng hòa bình thế giới đấu tranh

để xây dựng một nước Lào hòa bình, độc lập, trung lập và thịnh vượng. Trong điều

kiện Đảng Nhân dân Lào còn hoạt động bí mật, Neo Lào Hắcxạt trở thành người đem

tiếng nói của đảng đến nhân dân Lào và là công cụ pháp lý đấu tranh để thực hiện

đường lối cách mạng của đảng.

Nhằm đẩy mạnh phong trào cách mạng ở Lào, tháng 3/1958, Quân khu 4 điều

một số đơn vị thuộc Trung đoàn 120, Tiểu đoàn 929, Tiểu đoàn 927, Sư đoàn 325, Sư

đoàn 324 sang phối hợp với nhân dân các tỉnh Xiêng Khoảng, Khăm Muộn,

Xavannakhẹt. Ở khu vực đường số 9, ông Khămtày Xiphănđon và cán bộ Ban Tuyên

truyền xây dựng Đảng Nhân dân Lào đã sát cánh cùng cán bộ, chiến sĩ của Quân khu

4 tổ chức được nhiều lớp học cho cán bộ kháng chiến, tuyên truyền cho nhân dân

thấy rõ chủ trương của Đảng Nhân dân Lào và của Neo Lào Hắcxạt, vạch trần bộ mặt

của đế quốc Mỹ và phái Hữu. Ở nhiều nơi, cơ sở cách mạng được gây dựng, cán bộ

Pathet Lào còn tham gia chính quyền của phía Vương quốc Lào ở các bản, mường.

Năm 1959, sự phối hợp hoạt động giữa cán bộ của Quân khu 4 và Ban Tuyên truyền

xây dựng Đảng Nhân dân Lào, chính quyền cách mạng đã thành lập ở các mường

Mahảxay, Nhômmalạt và Bulala; các cơ sở Đảng Nhân dân Lào đã được thành lập

xuống đến cấp huyện, có nơi ở cấp mường.

Để tạo thế đứng chân và xây dựng các đội vũ trang tuyên truyền, mùa mưa

năm 1959, LLVT Quân khu 4 phối hợp với LLVT Pathét Lào mở chiến dịch giải

phóng huyện Mường Xon, nửa huyện Xiềng Khọ và một số xã ở huyện Mường Sẫm,

8 xã của 3 huyện Mường Khoa, Mường Mún, Mường Ngà (thuộc tỉnh Phongxalì),

huyện Sốp Sạng (tỉnh Lng Phrabăng), khu vực Sảm Chè (tỉnh Xiêng Khoảng),



56

vùng Căm Cợt, Bôrikhăn (Liên mường 90) và 5 xã thuộc Mường Mahảxay (tỉnh

Khăm Muộn), Bản Hôm (tỉnh Attơpư). Các bản mường được giải phóng đã trở thành

căn cứ địa của cách mạng Lào.

Về xây dựng lực lượng chủ lực, sau khi Tiểu đoàn 2 được đưa về miền Tây

tỉnh Nghệ An (6/1959), Quân khu 4 đã giúp huấn luyện và bổ sung quân số, phát

triển thành 3 tiểu đoàn lấy phiên hiệu: Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 4. Các

tiểu đoàn được trang bị đầy đủ quân trang, quân dụng, vũ khí. Đây là những đơn vị

chủ lực đầu tiên của cách mạng Lào trong kháng chiến chống Mỹ được xây dựng và

phát triển trên địa bàn Quân khu 4. Ngoài ra, tại thị xã Đồng Hới (tỉnh Quảng Bình),

Qn khu 4 còn mở một trung tâm huấn luyện quân sự để đào tạo những thanh niên

Lào yêu nước. Tháng 9/1959, Quân khu 4 đã giúp Pathet Lào thành lập thêm một tiểu

đoàn với phiên hiệu Tiểu đoàn 15 [14; tr.132]. Song song với việc phát triển bộ đội

chủ lực, LLVT Quân khu 4 đã phối hợp với Lào thành lập hơn 100 trung đội bộ đội

địa phương làm nòng cốt cho phong trào nổi dậy của quần chúng ở khu vực Trung

Lào. Sự giúp đỡ của Quân khu 4 đã đập tan âm mưu“truy kích lực lượng Pathét Lào

ngay trên đất Việt Nam” của phái Hữu [36; tr.115].

Xác định cán bộ là gốc của phong trào cách mạng, “… Cách mạng Lào phải

do nhân dân và cán bộ Lào làm lấy” [111; tr.464]. Vì vậy, việc huấn luyện và đào tạo

cán bộ cách mạng Lào được xác định một trong những vấn đề cấp bách. Năm 1959,

Trường Quân chính Quân khu 4 đào tạo 60 cán bộ nòng cốt cho cách mạng Lào. Năm

1962, Quân khu 4 đã tiếp nhận 369 cán bộ Lào để đào tạo [13; tr.96]. Để đáp ứng

việc đào tạo cán bộ cách mạng Lào, Quân khu 4 thành lập hai cơ sở đào tạo ở Xuân

Thành - Phủ Quì (tỉnh Nghệ An) và thị xã Đồng Hới (tỉnh Quảng Bình) để đào tạo

cán bộ Lào kịp thời về các địa phương chỉ đạo phong trào. Số cán bộ được đào tạo đã

kịp thời bổ sung cho các đơn vị ở cơ sở để chỉ đạo phong trào cách mạng.

Trên đà phát triển của cách mạng, năm 1960, Trung ương Đảng Nhân dân Lào

chủ trương phát triển chiến tranh du kích, chống càn quét, củng cố căn cứ địa và mở

rộng hoạt động vào các vùng đồng bằng và đơ thị [139; tr.329]. Tỉnh Xiêng Khoảng

có vị trí đặc biệt quan trọng đối với cách mạng Lào, vì đây “cửa ngõ” từ tỉnh Nghệ

An sang theo đường số 7 đến căn cứ địa Sầm Nưa. Nếu phái Hữu kiểm soát được tỉnh

Xiêng Khoảng, sẽ tạo hướng bao vây, chia cắt căn cứ Sầm Nưa từ hướng Nam. Nếu

Pathet Lào kiểm sốt được tỉnh Xiêng Khoảng, sẽ nối thơng căn cứ địa Sầm Nưa với



57

miền Bắc Việt Nam qua địa bàn Quân khu 4. Tình hình ở tỉnh Xiêng Khoảng rất

phức tạp, sự giác ngộ của nhân dân không đồng đều, tỷ lệ người bị phái Hữu mua

chuộc rất cao. Đặc biệt ở tỉnh Xiêng Khoảng có Long Chẹng là thủ phủ của “Lực

lượng đặc biệt” do Mỹ trực tiếp chỉ huy, đây là lực lượng đã gây cho cách mạng Lào

rất nhiều tổn thất. Vì vậy, tỉnh Xiêng Khoảng đã trở thành địa bàn giành giật quyết

liệt giữa Pathet Lào với phái Hữu. Để gây dựng phong trào ở tỉnh Xiêng Khoảng,

tháng 8/1960, Quân khu 4 đưa các đội công tác vũ trang “ba mặt” (vận động quần

chúng, trinh sát bí mật và vũ trang chiến đấu) sang đẩy mạnh công tác tuyên truyền,

xây dựng cơ sở cách mạng.

Với sự giúp đỡ của LLVT Quân khu 4,ở các tỉnh Xiêng Khoảng, Khăm Muộn

và Liên mường 90 nhiều tiểu đoàn tiếp tục được thành lập; nhiều vùng như Căm Cợt,

Bôrikhăn (Liên mường 90) và Mahảxay (tỉnh Khăm Muộn) được giải phóng; hầu hết

các bản, làng ở vùng giải phóng đều hình thành các tiểu đội du kích làm nòng cốt cho

phong trào đấu tranh chính trị. Ở tỉnh Xavannakhẹt, phong trào cách mạng gặp khó

khăn hơn vì các lãnh đạo phong trào như: Nuhắc Phumxavẳn, Phun Xỉpasợt...bị

chính quyền Vương quốc Lào bắt giam. Ở vùng tạm chiếm, nhiều cơ sở chính trị

được xây dựng vững chắc.

Ngồi việc xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, củng cố các vùng

mới giải phóng, Ban lãnh đạo phong trào trên địa bàn các tỉnh Xavannakhẹt, Khăm

Muộn, tỉnh Xiêng Khoảng, Liên mường 90 còn phối hợp chặt chẽ với các tổ cơng tác

của Quân khu 4 vận động nhân dân đấu tranh để phối hợp với các cuộc đấu tranh

chính trị của nhân dân thủ đơ Viêng Chăn đòi trả tự do cho Hồng thân

Xuphanuvơng và các lãnh đạo Neo Lào Hắcxạt đang bị phái Hữu giam giữ. Đầu năm

1960, dưới sự hướng dẫn của các tổ công tác cơ sở của Quân khu 4 và cán bộ cách

mạng Lào, nhân dân các bản Ăng Kham, Na Hỏi, Nậm Cha Lộ, Cốc Mạc thuộc các

tỉnh Xavannakhẹt, Khăm Muộn và Liên mường 90 biểu tình đòi qn đội của Vương

quốc Lào phải chấm dứt khủng bố.

Sau sự kiện Hồng thân Xuphanuvơng và các lãnh đạo của Neo Lào Hắcxạt

vượt ngục thành công, phái Hữu tăng cường đàn áp khủng bố trên toàn quốc, nhất là

ở các tỉnh giáp với Việt Nam. Vì vậy, các cuộc đấu tranh tuy có sự chuyển biến mạnh

mẽ, song vẫn chưa đều khắp, còn thiếu sự liên kết giữa các địa phương.

Phong trào đấu tranh của Neo Lào Hắcxạt dâng cao đã đẩy nội bộ phái Hữu



58

mâu thuẫn sâu sắc và dẫn đến cuộc đảo chính ngày 8/8/1960. Nhận định cuộc đảo

chính là thời cơ để đẩy mạnh cuộc đấu tranh, Trung ương Đảng Nhân dân Lào chủ

trương tăng cường hoạt động hơn nữa. Theo đó, lực lượng cốt cán của Pathet Lào ở

Liên mường 90, tỉnh Khăm Muộn và tỉnh Xavannakhẹt phối hợp chặt chẽ với các tổ

công tác của Quân khu 4 bám sát địa bàn, hướng dẫn nhân dân đấu tranh để ủng hộ

cuộc đấu tranh của nhân dân tỉnh Viêng Chăn, xây dựng cơ sở chính trị và lực lượng

vũ trang. Các tổ cơng tác đã xây dựng ở khu vực đường số 8 (thuộc Liên Mường 90)

được một tiểu đoàn bộ binh và 340 du kích, khu vực đường số 12 (thuộc tỉnh Khăm

Muộn) được 1257 du kích và khơi phục 2 trung đội vũ trang ở phía Nam đường số 9

(thuộc tỉnh Xavanakhẹt). Ở các tỉnh Hạ Lào, LLVT Quân khu 4 phối hợp với quân

dân Lào mở rộng khu căn cứ Xạ Muội, Đắc Chưng, Xản Xay, Xa Xẳm Xay…

Đến giữa năm 1961, Quân khu 4 đã giúp cách mạng Lào xây dựng được 6 tiểu

đoàn bộ binh, một số đơn vị địa phương, cao xạ, pháo binh, xe tăng, thiết giáp [118;

tr.71], góp phần phát triển bộ đội chủ lực Pathet Làolên tới 15 tiểu đoàn, 36 đại đội

độc lập và 64 trung đội bộ đội địa phương [139; tr.371].

Sau cuộc đảo chính tháng 8/1960, Mỹ tăng cường viện trợ cho phái Hữu và

tìm cách mua chuộc lơi kéo, chia rẽ khối liên minh giữa lực lượng trung lập và Pathet

Lào, chia rẽ cách mạng Lào - Việt Nam. Bởi vậy, cơng tác đảng, cơng tác chính trị,

xây dựng chính quyền cách mạng ở vùng giải phóng được Đảng Nhân dân Lào và

Neo Lào Hắcxạt đặc biệt quan tâm. Tháng 4/1961, Hội nghị lần thứ 6 Trung ương

Đảng Nhân dân Lào chủ trương xây dựng khu giải phóng thành căn cứ địa cách mạng

phát triển về mọi mặt, chú trọng công tác đào tạo cán bộ, công tác binh vận, phát

triển lực lượng vũ trang, đẩy mạnh phối hợp tác chiến [139;tr.365]. Để giúp cách

mạng Lào thực hiện chủ trương này, Quân khu 4 đã huy động 418 xe vận tải và hơn 1

vạn dân công hỏa tuyến của các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh tu sửa đường sá, cầu cống,

vận chuyển vũ khí, hàng hóa, dụng cụ sản xuất,…đến vùng giải phóng [118; tr.71].

Nhờ vậy, bộ đội chủ lực Pathet Lào được bổ sung khí tài và quân trang, quân dụng;

đời sống nhân dân ở vùng giải phóng được ổn định.

Nắm vững quan điểm “người trước súng sau, có dân là có tất cả” [60; tr.13],

các đội cơng tác của Quân khu 4 đã phối hợp với cán bộ cách mạng Lào đẩy mạnh

cơng tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong lực lượng Pathet Lào, tăng cường công tác

tuyên truyền, dân vận trong nhân dân các bộ tộc Lào để cho nhân dân hiểu rõ tình



59

đồn kết chiến đấu Việt Nam - Lào và thấy được bộ mặt thật của Mỹ và tay sai. Qua

việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, lực lượng trung lập ở khu vực Trung Lào có

nhiều chuyển biến tích cực về lập trường chống Mỹ và tay sai, nhân dân có quan hệ

tốt với quân đội Pathét Lào và quân tình nguyện Việt Nam; căn cứ địa kháng chiến

ngày càng được mở rộng và vững chắc.

Nửa sau năm 1961, phái Hữu đẩy mạnh chiến dịch càn quét vào hành lang

Tuyến vận tải chiến lược 559 để ngăn chặn sự chi viện từ Việt Nam, lập các trại tập

trung dân nhằm tách nhân dân khỏi cách mạng. Trong thời gian này, các tỉnh Trung

Lào bị mất mùa cộng thêm sự đánh phá ác liệt của địch trên các tuyến đường, hàng từ

Việt Nam sang gặp khó khăn, nên xẩy ra nạn đói. Vì vậy, cuộc vận động để xây dựng

và củng cố cơ sở cách mạng ở Trung Lào gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình đó,

LLVT Qn khu 4 phối hợp với cán bộ Lào tăng cường đến các bản, mường cùng

nhân dân lao động sản xuất và tổ chức cứu đói, tổ chức sinh hoạt văn hóa, tổ chức

phong trào xóa nạn mù chữ, xây dựng chính quyền cách mạng, xây dựng tổ chức

đảng, đồng thời phối hợp với chính quyền các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình

vận chuyển gạo, muối, vải,…cứu đói cho nhân dân Lào. Sự giúp đỡ của LLVT Quân

khu 4 đã giúp nhân dân vượt qua nạn đói, tạo niềm tin của họ vào sự nghiệp kháng

chiến của Đảng Nhân dân Lào và Trung ương Neo Lào Hắcxạt, tin tưởng vào bộ đội

Việt Nam, thanh niên hăng hái gia nhập du kích. Cuối năm 1962, trên địa bàn Trung Hạ Lào và Xiêng Khoảng cơ bản đã xây dựng được cơ sở cách mạng.

Những thành quả về xây dựng căn cứ địa và xây dựng lực lượng chính trị cùng

với những chiến thắng trên mặt trận quân sự đã góp phần đưa đến thắng lợi tại Hội

nghị Giơnevơ năm 1962 về Lào và tạo cơ sở cho những thắng lợi sau đó.

Để mở rộng vùng giải phóng và đảm bảo hành lang Tuyến vận tải chiến lược

559, tháng 1/1964, LLVT Quân khu 4 phối hợp với quân dân Lào mở Chiến dịch 128

giải phóng cao nguyên Na Cay và từ Nậm Thơn lên đến Pạchinbun, mở toang của

ngõ đường số 8 đi vào Liên mường 90 từ Quân khu 4, căn cứ địa kháng chiến ở

Trung Lào được nối với Việt Nam qua địa bàn Quân khu 4 rất vững chắc; tạo bàn

đạp cho LLVT Quân khu 4 phối hợp với lực lượng cán bộ nòng cốt của các tỉnh

Khăm Muộn, Xavannakhẹt, Liên mường 90 luồn sâu hoạt động vùng phái Hữu kiểm

sốt, đẩy mạnh cơng tác dân vận, binh vận, xây dựng cơ sở cách mạng.

Tháng 4/1964, Mỹ ép Thủ tướng X. Phuma phải đồng ý cho máy bay ném



60

bom vùng giải phóng và Tuyến vận tải chiến lược 559 [139; tr.400]. Ở vùng giáp

ranh vùng giải phóng và dọc đường số 9, số 12, số 8, phái Hữu vừa mua chuộc và

vừa tăng cường bắn phá để nhân dân vào sống trong các trại tập trung. Những hành

động trên của Mỹ và phái Hữu làm cho tình hình Lào hết sức căng thẳng.

Trước âm mưu và thủ đoạn mới của phái Hữu, các tổ công tác cơ sở của Quân

khu 4 và của cách mạng Lào đưa cán bộ vào các trại tập trung hướng dẫn nhân dân

đấu tranh đòi trở về bản, làng sinh sống; ở vùng địch kiểm soát xây dựng các đội vũ

trang làm nòng cốt để đẩy mạnh cơng tác tun truyền; ở vùng giải phóng, tiếp tục

giác ngộ nhân dân, tổ chức sản xuất để ổn định đời sống. Với các hoạt động trên, ở

Thị xã Thà Khẹt, tỉnh Khăm Muộn có 11/15 tà xẻng1 có cơ sở chính trị, trong đó 2 tà

xẻng có cơ sở đảng và dân qn du kích; tỉnh Xavannnakhẹt có 24/80 tà xẻng có cơ

sở đảng và dân quân du kích.

Ngày 19/5/1965, Hội nghị Trung ương Đảng Nhân dân Lào lần thứ 13 họp và

đề ra chủ trương: “Đẩy mạnh đấu tranh quân sự, phát động chiến tranh nhân dân

sâu rộng, tiêu diệt và tiêu hao sinh lực địch, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng có

trọng điểm...ra sức củng cố và tăng cường xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân”2.

Về xây dựng LLVT, Hội nghị chủ trương xây dựng bộ đội chủ lực cấp tiểu đoàn và

tiến tới thành lập các trung đoàn ở các địa bàn chiến lược quan trọng như Hủa Phăn,

các tỉnh ở Trung và Hạ Lào. Đối với bộ đội địa phương, tùy thuộc điều kiện chiến

trường và tình hình thực tế của vùng giải phóng để tổ chức thành đại đội, trung đội

hoặc thành các phân đội nhỏ khoảng 20 - 30 người nhằm phát triển chiến tranh du

kích, đánh địch, quét phỉ, bảo vệ bản mường.

Thực hiện chủ trương của Hội nghị 13, Bộ Chỉ huy tối cao Quân GPND Lào,

Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 thống nhất thành lập

Đoàn Chuyên gia quân sự 565 nhằm giúp các tỉnh ở Trung - Hạ Lào xây dựng lực

lượng vũ trang, mở rộng và xây dựng vùng giải phóng... Sự phối hợp tích cực của

Đồn 565 đã kiện tồn bộ máy chính quyền tỉnh Xavẳnnakhẹt, tạo điều kiện cho

phong trào du kích ở các tỉnh Khăm Muộn, Xavannakhẹt và Liên mường 90 phát



1

2



. Tà xẻng một đơn vị hành chính ở Lào có nhiều bản.



. Dẫn theo ປະຫວັດສາດກອງທັບປະຊາຊົນລາວ (1945 - 1995), ພ

ີ ມທ

ີ່ ໂຮງພ

ີ ມກອງທັບປະຊາຊ

ົ ນລາວ (Lịch sử



Quân đội nhân dân Lào (1945 - 1995), Tr. 320.



61

triển mạnh mẽ. Đến năm 1965, các tỉnh Khăm Muộn, Xavannakhẹt và Liên mường

90 đã có 6328 du kích với 1648 khẩu súng. Trong đó vùng địch hậu có 1346 du kích,

vùng giải phóng có 4982 du kích [139; tr.441]. Tuy tỷ lệ số dân qn, du kích được

trang bị súng còn thấp (6328 người/1648 súng, tức là gần 4 người mới có 1 khẩu

súng), nhưng đây là nỗ lực lớn của sự phối hợp giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân

Lào trong việc xây dựng lực lượng vũ trang và xây dựng căn cứ địa. Cán bộ cơ sở

được trang bị kiến thức về chính trị, qn sự, cơng tác dân vận, địch vận...

Mùa khô năm 1965 - 1966, LLVT Quân khu 4 phối hợp với quân dân ở

Xavannakhẹt, Khăm Muộn, Liên mường 90 đẩy mạnh xây dựng cơ sở chính trị, căn

cứ địa, đào tạo cán bộ và phát triển chiến tranh du kích, củng cố và mở rộng vùng

giải phóng, tạo thành thế cài răng lược với các vùng phái Hữu chiếm đóng. Vùng giải

phóng bao gồm: Vùng đồng bằng ở phía đơng thuộc tỉnh Viêng Chăn; huyện Mường

Mày và huyện Mường Khăm Cợt thuộc Liên mường 90; Mường Nhommalạt, Mường

Bulapha, Mường Mahảxay thuộc tỉnh Khăm Muộn; Mường Phìn, Mường Sê Pơn,

Mường Nòong, Mường Tà Ơi và liên tà xẻng Na Nhôm thuộc tỉnh Xavannakhẹt.

Về xây dựng LLVT, với sự giúp đỡ của Quân khu 4, LLVT của các tỉnh

Xavannakhẹt, Khăm Muộn, Liên mường 90 đã phát triển lên tới 6 tiểu đoàn chủ lực,

9 đại độ bộ đội địa phương và 6344 dân quân du kích được trang bị tốt, có trình độ tổ

chức chặt chẽ [139; tr.446-447].

Năm 1966, ở hai tỉnh Xavannakhẹt và Khăm Muộn lại xẩy ra nạn đói làm 133

người chết. Trước tình hình đó, LLVT Quân khu 4 phát động phong trào giúp dân

cứu đói, tăng gia sản xuất, dành 30 tấn gạo và hàng ngàn ngày cơng giúp nhân dân

Lào cứu đói, làm mùa [13; tr.123]. LLVT Quân khu 4 phối hợp với các tỉnh Nghệ

An, Quảng Bình, Hà Tĩnh tổ chức các đợt cứu trợ cho nhân dân Lào các mặt hàng

thiết yếu như gạo, muối, dụng cụ sản xuất. Sự giúp đỡ của Quân khu 4 đã góp phần

“...giúp bạn được một bước trong việc củng cố vùng giải phóng, giải quyết một số

yêu cầu bức thiết trong đời sống quần chúng, gây phấn khởi, tin tưởng trong nhân

dân, trong cán bộ, chiến sĩ....” [86; tr.182], nhân dân hăng hái tham gia kháng chiến.

Nhờ vậy, đến năm 1967, các địa phương trên đường số 12 có 11 xã, dọc đường số 9

có 56 xã, tỉnh Áttơpư có 10 xã xây dựng được lực lượng dân quân, du kích [118;

tr.208-209]. Nét nổi bật trong công tác phát triển lực lượng vũ trang thời kỳ này là du

kích nữ chiếm từ 4 - 8%, điều mà trước đây chưa từng có. Vùng giải phóng ở Trung -



62

Hạ Lào mở rộng gồm một tỉnh, 16 huyện, 163 tà xẻng, 2082 bản [118; tr.209]. Ở

vùng địch chiếm đóng, cơ sở cách mạng đã được xây dựng ở Lahảnậm, Keng Cọoc

(Xavannakhẹt), Thị xã Thà Khẹt (Khăm Muộn), Lào Ngam (Xaravan)...

Bên cạnh những kết quả to lớn, sự phối hợp giữa LLVT Quân khu 4 với Pathet

Lào trong lĩnh vực xây dựng lực lượng có những hạn chế nhất định, như: kế hoạch

đào tạo, huấn luyện chưa sát tình hình thực tiễn, cán bộ chuyên gia chưa tin vào khả

năng làm việc của cán bộ Lào cho nên còn bao biện, làm thay [13; tr.347]. Về phần

mình, cán bộ Lào còn có nhiều hạn chế về trình độ chun mơn, còn có tâm lý tự ti,

chưa mạnh dạn trong thực thi cơng việc, chưa có sự tự tin trong xây dựng kế hoạch

và tổ chức thực hiện, “thiếu tinh thần tự lực cánh sinh và ý thức tiết kiệm” [10; tr.49].

Những hạn chế trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phối hợp giữa LLVT Quân khu

4 với Pathet Lào trên mọi lĩnh vực.

Để khắc phục hạn chế trên, ngày 14/3/1968, Trung ương Đảng Nhân dân Lào

ra nghị quyết chủ trương xây dựng “Chi bộ bốn biết”, biết xây dựng dân quân, du

kích và lãnh đạo chiến đấu; biết lãnh đạo xây dựng chính quyền, mặt trận, các tổ

chức quần chúng; biết làm công tác chi bộ, xây dựng, củng cố sinh hoạt chi bộ, học

tập; biết lãnh đạo sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân [139; tr.460]. Về phần mình,

ngày 1/4/1969, Quân khu ủy 4 ra Nghị quyết về nhiệm vụ năm 1969. Đối với nhiệm

vụ phối hợp với quân dân Lào, Nghị quyết nhấn mạnh: “Gắn liền việc tác chiến với

việc giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang cả ba thứ quân”1. Ngày 19/6/1969, Bộ

Chính trị Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết số 190-NQ/TW về việc giúp Lào

xây dựng vùng giải phóng với phương châm: “toàn diện, cơ bản, liên tục, lâu dài, lấy

việc giúp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công nhân kỹ thuật và giúp việc xây dựng cơ sở

vật chất - kỹ thuật làm khâu quan trọng nhất để tạo điều kiện cho Bạn ngày càng

phát huy tự lực cánh sinh và tiến lên một cách vững chắc” [86; tr.184]. Các nghị

quyết trên là định hướng cụ thể cho hoạt động của các tổ công tác xây dựng cơ sở và

các đoàn chuyên gia quân sự của Quân khu 4 ở Lào. Nhiều khóa đào tạo cán bộ được

mở; các đơn vị của QGPND Lào được huấn luyện chiến đấu. Do đó, số lượng và



1



. Dẫn theo Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 (2001), Công tác đảng, cơng tác chính trị



lực lượng vũ trang Qn khu 4, Biên niên, tập II (1955 - 1975), Nxb QĐND, Hà Nội, tr. 136.



63

chất lượng cán bộ, chiến sĩ Quân GPND Lào có sự chuyển biến mạnh mẽ, vượt bậc.

Đây là cơ sở để năm 1972 Bộ Chỉ huy tối cao Quân GPND Lào thành lập các cụm

chủ lực đường số 9 và đường số 23.

Cùng với việc phối hợp xây dựng vùng giải phóng Lào, LLVT Quân khu 4

còn phối hợp với nhân dân các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình đón nhân dân

Lào tản cư. Nghệ An là tỉnh tổ chức đón tiếp nhân dân Lào tản cư sớm nhất và nhiều

nhất. Chỉ tính từ năm 1969 đến năm 1972, tỉnh Nghệ An đón gần 20.000 người Lào

tản cư [124; tr.384].

Năm 1970, LLVT Quân khu 4 phối hợp với quân dân Lào giải phóng Thị xã

Mường Mày, Thị xã Xaravan..., thành lập chính quyền cách mạng, mở rộng vùng giải

phóng. Như thế, một vùng căn cứ cách mạng được hình thành từ tỉnh Phongxalì

xuốngtỉnh Xiêng Khoảng, chạy dọc dãy Trường Sơn qua các tỉnh Bôlikhămxay,

Khăm Muộn, Xavannakhẹt, Áttôpư, Xaravan nối thông với vùng Đông Bắc

Campuchia và Mặt trận Tây Nguyên (Việt Nam), thông sang miền Bắc Việt Nam, tạo

nên một chiến trường thống nhất, một thế trận liên hồn của cách mạng ba nước

Đơng Dương, Tuyến vận tải chiến lược 559 đảm bảo an toàn.

Sau 15 năm phối hợp hoạt động giữa LLVT Việt Nam, trong đó có LLVT

Quân khu 4 với quân dân Lào, LLVT cách mạng Lào ở 10 tỉnh do chính phủ Vương

quốc Lào quản lý phát triển cả về chất và lượng. Đây là điều kiện cần và đủ cho Bộ

Chỉ huy tối cao QGPND Lào thành lập hai cụm chủ lực ở Trung - Hạ Lào vào năm

1972, mỗi cụm tương đương với 1 trung đoàn. Ngoài ra, ở các tỉnh Xiêng Khoảng,

Bơlikhămxay, Khăm Muộn, Xavannakhẹt, Áttơpư, Xaravan đều có 1 tiểu đoàn chủ

lực và nhiều đại đội độc lập; mỗi huyện, mường đều có trung đội bộ đội địa phương,

ở các bản, xã có hàng trăm dân qn, du kích. LLVT cách mạng Lào đã đủ sức tự

đảm đương gánh vác nhiệm vụ trên chiến trường.

Bị thất bại trên mặt trận quân sự và chính trị, ngày 21/2/1973, phái Hữu buộc

phải ký Hiệp định Viêng Chăn về việc lập lại hòa bình và hòa hợp dân tộc ở Lào.

Theo Hiệp định, Lào được chia làm ba vùng: vùng do cách mạng quản lý, vùng do

phái Hữu quản lý và vùng do phái Trung lập quản lý. Hiệp định Viêng Chăn được ký

kết đã tạo ra bước ngoặt cho cách mạng Lào, hình thái hai chính quyền song song tồn

tại tiếp tục phát triển. Uy tín của chính quyền cách mạng ngày càng được nâng cao,

ngược lại, uy tín của phái Hữu ngày càng giảm sút nghiêm trọng.



64

Xác định Hiệp định Viêng Chăn đã tạo thời cơ để đưa cách mạng Lào tiếp tục

giành những thắng lợi lớn hơn, ngày 27/02/1973, chỉ sau một tuần Hiệp định Viêng

Chăn được kí kết, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 ra chỉ thị: “Trước mắt giúp bạn đấu tranh

buộc địch phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định đã kí, trong tình huống nào cũng

cùng với bạn đập tan mọi âm mưu của địch, giữ và phát huy thành quả cách mạng”1

[114; tr.513]. Theo đó, LLVT Quân khu 4 phối hợp với quân dân Lào xây dựng vùng

giải phóng vững mạnh tồn diện, đẩy mạnh công tác dân vận, địch vận, tuyên truyền

thắng lợi Hiệp định; phát triển triển lực lượng đủ mạnh để trực tiếp làm hậu thuẫn

trong cuộc đấu tranh chính trị.

Ngày 2/3/1973, Bộ Tổng tư lệnh QĐND Việt Nam đề ra nhiệm vụ cho lực

lượng tình nguyện Việt Nam ở Lào phải phối hợp cùng quân dân Lào bảo vệ vững

chắc vùng giải phóng và bảo vệ những thành quả cách mạng đã giành được [118;

tr.436]. Ngày 23/4/1973, Quân khu ủy 4 họp và xác định: “Đoàn kết chặt chẽ với

đảng bộ, với quân và dân bạn, đấu tranh buộc địch phải nghiêm chỉnh thi hành hiệp

định đã ký kết, trong tình huống nào cũng phải cùng bạn đập tan mọi âm mưu của

địch, giữ vững và phát huy thành quả cách mạng, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng,

trọng tâm là bảo vệ cho được vùng giải phóng thuộc Hin Bun, đồng thời duy trì

thường xuyên thế uy hiếp kìm chân địch trên địa bàn Khăm Muộn, trọng điểm là

Đông và Tây đường 13 thuộc hai huyện Nọong Bóoc và Thà Khẹt”2.

Thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh QĐND Việt Nam và Nghị quyết của

Quân khu ủy 4, từ năm 1973 đến 1975, LLVT Quân khu 4 đẩy mạnh phối hợp với

quân dân Lào xây dựng vững chắc vùng giải phóng, bám sát địa bàn vừa mới giải

phóng để tuyên truyền, vận động nhân dân xây dựng chính quyền cách mạng; hỗ trợ

nhân dân vùng địch chiến đóng đấu tranh buộc địch phải thi hành Hiệp định Viêng

Chăn; đẩy mạnh cơng tác binh vận. Chỉ tính ở hai tỉnh Bôlikhămxay và Xavannakhẹt,

nửa đầu năm 1973, liên quân Quân khu 4- Lào vận động hơn 172 binh sĩ phái Hữu

về với nhân dân [139; tr.532-533].

Về xây dựng vùng giải phóng, tháng 9/1974, Quân khu 4 tổ chức lực lượng

vận tải, gồm: Tiểu đoàn 32, Trung đoàn 1, Binh trạm 1, Tiểu đoàn 44 để đẩy nhanh

1



. Dẫn theo Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 (2001), Công tác đảng, cơng tác chính trị lực lượng

vũ trang Qn khu 4, Biên niên, tập II (1955 - 1975), Nxb QĐND, Hà Nội, tr. 513.

2

. Dẫn theo Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 (2001), Công tác đảng, cơng tác chính trị lực lượng

vũ trang Qn khu 4, Biên niên, tập II (1955 - 1975), Nxb QĐND, Hà Nội, tr. 520.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 3 HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP CHIẾN ĐẤU GIỮA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU 4 (VIỆT NAM) VỚI QUÂN DÂN LÀO TRÊN CHIẾN TRƯỜNG LÀO (1955 - 1975)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×