Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cấu trúc đề tài

Cấu trúc đề tài

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội

dung đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết kế trò chơi học tập

trong dạy học mơn Tự nhiên và Xã hội

Chương 2: Thiết kế một số trò chơi học tập trong dạy học môn Tự nhiên

và Xã hội

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm



6



CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ TRÒ CHƠI

HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu về phương pháp tổ chức trò chơi trong

dạy học ở tiểu học

1.1.1. Khái quát một số nghiên cứu trên thế giới

Trò chơi là một hoạt động khơng còn q xa lạ trong trường học nói chung

và dạy học tiểu học nói riêng. Các vấn đề lí luận về trò chơi đã được nhiều nhà

sư phạm trên thế giới cũng như nước ta quan tâm, nghiên cứu. Vào những năm

40 của thế kỉ XIX, một số nhà khoa học giáo dục Nga như: P.A.Bexonova,

OP.Seina, V.I.Đalia, E.A.Pokrovxki, ... đã đánh giá cao vai trò giáo dục, đặc biệt

và tính hấp dẫn của trò chơi dân gian Nga đối với trẻ mẫu giáo. E.A.Pokrovxki

trong lời đề tựa cho tuyển tập “Trò chơi của trẻ em Nga” đã chỉ ra nguồn gốc,

giá trị đặc biệt và tính hấp dẫn lạ thường của trò chơi dân gian Nga đối với trẻ

em.

Vào thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX các nhà nghiên cứu như: Ph.Phroebel

(Đức), M.Mentori (Ý), ... có ý tưởng trò chơi với dạy trẻ học, dùng trò chơi làm

phương tiện dạy học. Về sau, ý tưởng đó được tiếp tục phản ánh trong hàng

loạt cơng trình nghiên cứu của các nhà giáo dục Liên Xô như: A.P.Radina,

A.P.Vsova, A.Navanhesova, A.L.Sovokia.

Ngay từ đầu thế kỉ XX nhà tâm lý học Thụy Sĩ J.Piaget đã rất quan tâm tới

phương pháp này “Thông qua hoạt động vui chơi để tiến hành học tập”.

B.C.Grrenhikaia cũng đã khẳng định: “Chúng ta không những phải tạo cho trẻ

có thì giờ để chơi mà còn phải làm tồn bộ cuộc sống của trẻ được ni dưỡng

bằng trò chơi”. [Dẫn theo 4]

Vào những năm 30-40-60 của thế kỉ XX, vấn đề sử dụng trò chơi dạy học

trên “tiết học” được phản ánh trong cơng trình của R.I. Giucovxkaia,

V.R.Bexpalova. E.I.Udalsova, ... R.I. Giucovxkaia đã nâng cao vị thế của dạy

7



học bằng trò chơi. Bà chỉ ra những tiềm năng và lợi thế của những “tiết học”

dưới hình thức TCHT, coi TCHT như là hình thức dạy học giúp người học lĩnh

hội những tri thức mới từ những ý tưởng đó, bà đã soạn thảo ra một số “tiết học

- trò chơi” và đưa ra một số yêu cầu khi xây dựng chúng.[Dẫn theo 4]

Với sự đa dạng của các hình thức tổ chức trò chơi cũng như ý nghĩa và tác

dụng to lớn mà trò chơi đem lại thì phương pháp tổ chức trò chơi được nghiên

cứu theo nhiều khuynh hướng khác nhau, cụ thể như:

Khuynh hướng thứ nhất: Các nhà sư phạm nghiên cứu trò chơi và sử

dụng nó với mục đích giáo dục - phát triển toàn diện nhân cách của trẻ. Tiêu

biểu cho khuynh hướng này là N.K. Crupxkaia, I.A. Komenxki, Đ. Lokk, J.J.

Rutxo, Saclơ Phuriê, Robert Owen, A.X. Macarenco, E.I. Chikhieva trẻ và

phải hướng dẫn, chỉ đạo đúng đắn cho trẻ chơi. Các nhà sư phạm này cho rằng

trò chơi có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nhân

cách của trẻ. “TCHT đẩy mạnh sự phát triển chung của trẻ, nó giúp trẻ xích lại

gần nhau, phát huy tính độc lập của chúng. Nếu GV biết cách tổ chức, hướng

dẫn loại trò chơi này một cách khéo léo và sinh động thì trẻ sẽ rất thích thú và

tràn ngập niềm vui” (Theo

E.I. Chikkieva). Đại diện cho khuynh hướng này còn phải kể đến nhà sư phạm

người Tiệp Khắc nổi tiếng I.A. Komenxki (1592 - 1670). Ơng coi trò chơi là

hình thức hoạt động cần thiết, phù hợp với bản chất và khuynh hướng của

trẻ. Trò chơi dạy học là một dạng hoạt động trí tuệ nghiêm túc, là nơi mọi khả

năng của trẻ em được phát triển, mở rộng phong phú thêm vốn hiểu biết. Với

quan điểm trò chơi là niềm vui sướng của tuổi thơ, là phương tiện phát triển

toàn diện cho trẻ I.A. Komenxki đã khuyên người lớn phải chú ý đến trò chơi

dạy học cho trẻ em.

Khuynh hướng thứ hai: Với các đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng này

là I.B. Bazedora, Ph. Phroebel, X.G. Zalxmana,… Họ nghiên cứu và sử dụng

TCHT trong phạm vi dạy học. Ở đây, trò chơi được xem như là một hình thức

dạy HS động có tác dụng lớn trong việc kích thích hứng thú cũng như xây dựng

8



động cơ học tập cho HS tiểu học nói chung và HS lớp 1 nói riêng. Nhà sư phạm

người Đức nổi tiếng Ph. Phroebel (1782 - 1852) là người khởi xướng và đề xuất

ý tưởng kết hợp dạy học với trò chơi cho trẻ. Quan điểm của ơng về trò chơi

phản ánh cơ sở lý luận sư phạm duy tâm thần bí. Ơng cho rằng thơng qua trò

chơi trẻ nhận thức được cái khởi đầu do thượng đế sinh ra tồn tại ở khắp mọi

nơi, nhận thức được những quy luật tạo ra thế giới, tạo ra ngay chính bản thân

mình.

Khuynh hướng thứ ba: Nghiên cứu và sử dụng TCHT vào mục đích giáo

dục và phát triển một số năng lực, phẩm chất trí tuệ cho HS. Tiêu biểu là các

nhà sư phạm nổi tiếng như T.M. Babunova, A.K. Bodarenco,… Với khuynh

hướng này, TCHT được xem như là một phương pháp dạy học hiệu quả, góp

phần quan trọng vào việc nâng cao tính tích cực, độc lập của q trình nhận

thức của HS.

1.1.2. Khái quát một số nghiên cứu của Việt Nam

Trong quá trình đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học có rất nhiều

nhà giáo dục đã nghiên cứu, tìm tòi, thiết kế nên các trò chơi nhằm giáo dục

tồn diện tạo hứng thú học tập cho các em như: cuốn “Tổ chức hoạt động vui

chơi ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ, thể lực cho HS” của Hà Nhật

Thăng (chủ biên) hay cuốn “150 trò chơi thiếu nhi” của Bùi Sĩ Tụng, Trần

Quang Đức (đồng chủ biên). Ở các tài liệu này, các tác giả đã đề cập rất rõ

vai trò của trò chơi, đưa ra những hoạt động vui chơi chung chung, chưa đi sâu

vào ứng dụng của trò chơi trong mơn học cụ thể.

Gần đây, trong tác phẩm “Trò chơi trẻ em”, tác giả Nguyễn Ánh Tuyết đã

đề cập đến trò chơi trí tuệ. Loại trò chơi này có tác dụng thúc đẩy hoạt động trí

tuệ của trẻ. Tác giả Trần Thị Ngọc Trâm đã thiết kế một hệ thống TCHT nhằm

phát triển khả năng khái qt hóa của trẻ mẫu giáo lớn. Còn tác giả Trương

Thị Xuân Huệ lại nghiên cứu về việc xây dựng và sử dụng trò chơi nhằm

hình thành biểu tượng toán ban đầu cho trẻ 5-6 tuổi. Tác giả Hứa Thị Hạnh

cũng nghiên cứu việc thiết kế và sử dụng trò chơi nhằm phát triển trí tuệ của

9



trẻ mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi). Các tác giả đã nêu ra một số biện pháp nhằm



10



phát huy tính tích cực học tập của HS thông qua việc xây dựng và sử dụng

TCHT.

“Những trò chơi vui nhộn trong sinh hoạt tập thể” là cuốn sách của tác

giả Trần Phiêu (2005 - NXB trẻ). Đây là cuốn sách giới thiệu tuyển tập các trò

chơi khá hấp dẫn và vui nhộn, mong rằng những buổi sinh hoạt, vui chơi của

các bạn nhỏ ngày càng sinh động và thiết thực hơn.

Nhóm tác giả Đỗ Tiến Đạt, Trần Ngọc Lan, Phạm Thanh Tâm đã đề cập

đến các loại trò chơi theo từng nội dung bài học trong chương trình Tốn 1 qua

cuốn sách 100 trò chơi Tốn lớp 1. Tác giả Ngơ Thúc Lanh đã cho xuất bản

cuốn Giúp em vui học toán 1. Cuốn sách đã đưa ra những câu đố và rất nhiều

trò chơi toán giúp các em củng cố nội dung bài học, rèn trí thơng minh và khả

năng sáng tạo mà vẫn đảm bảo vui mà học, học mà vui.

Đối với môn TN-XH ở Tiểu học nói chung và trong chủ đề Tự nhiên nói

riêng có các nghiên cứu sáng tác trò chơi trong dạy học cụ thể như: cuốn “Học

mà vui vui mà học” của tác giả Vũ Xuân Đỉnh, “Trò chơi học tập TN-XH” lớp

1, 2, 3 Bùi Phương Nga (chủ biên), Dự án phát triển GV Tiểu học - NXB Giáo

dục, “Tổ chức hoạt động vui chơi ở tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ

và thể lực cho HS” do tác giả Hà Nhật Thăng (chủ biên) đã giới thiệu các trò

chơi vận động cho HSTH. Trần Đồng Lâm cùng Trần Đình thuận và Vũ Thị

Ngọc Thư đã giới thiệu một số trò chơi giữa buổi cho HSTH nhằm đem lại

tinh thần sảng khoái cho HS sau những giờ học căng thẳng, qua cuốn sách “Tổ

chức cho HSTH vui chơi giữa buổi học”. Trong đó, các tác giả đã giới thiệu

chủ yếu các động tác thể dục nhẹ nhàng, một số động tác theo bài hát giúp cho

HS giảm bớt căng thẳng trong giờ học.

1.1.3. Nhận xét, đánh giá chung

Tổ chức trò chơi là hoạt động khơng thể thiếu trong đời sống con người.

Vì vậy, trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về

phương pháp tổ chức trò chơi trong quá trình dạy học. Phần lớn các tác giả đều

nhận định, chỉ ra được hiệu quả cao khi sử dụng kết hợp “học mà chơi, chơi mà

học” với HS lứa tuổi tiểu học.

11



Tuy nhiên, các cơng trình nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc sử dụng trò chơi

trong các hoạt động tập thể mà ít có những cơng trình nghiên cứu về TCHT gắn

với việc tổ chức dạy học những môn học cụ thể, đặc biệt là môn TN-XH. Một

số cơng trình nghiên cứu, cuốn sách chỉ đi hệ thống lại các trò chơi đã có trong

SGK hoặc có gợi ý các TCHT cho GV Tiểu học nhưng lại chưa hệ thống hóa về

cơ sở lựa chọn, thiết kế, cách tổ chức TCHT cho HS tiểu học. Đặc biệt, chưa gắn

việc sử dụng TCHT với vấn đề phát triển năng lực cho HS tiểu học, nhất là

những năng lực đặc thù gắn với dạy học môn TN-XH như: năng lực nhận thức,

tìm hiểu mơi trường TN-XH xung quanh; năng lực giao tiếp, giải quyết một số

vấn đề đơn giản. Ở đề tài này, tác giả đi vào chuyên sâu nghiên cứu “Thiết kế

một số TCHT trong dạy học môn TN-XH” theo quy trình phù hợp một cách cụ

thể.

1.2. Một số khái niệm cơng cụ

1.2.1. Trò chơi

Có rất nhiều khái niệm về trò chơi, tùy thuộc vào mục đích và đối tượng sử

dụng sẽ có những khái niệm khác nhau.

Karin Hamman (một nhà tâm lý học Đức) và Chrisma Wakhend (một nhà

giáo dục học Đức) cho rằng: Vui chơi là một khái niệm khơng thể định nghĩa

được. Bởi nó cũng giống như cuộc sống và tình u. Nó là một q trình, mà đã

là một q trình thì nó ln ln sống động, ln ln đổi thay và phát triển.

Còn Huizinga lại có quan điểm: Vui chơi là dành cho cả người lớn và trẻ

em. Nó là một chức năng văn hóa, là một trong những nền tảng của nền văn

minh, có tính chất tồn cầu và hòa nhập trong cuộc sống của con người cũng

như lồi vật. Vì vậy, vui chơi là trọng tâm không những cho trẻ em mà còn cho

người lớn và cả xã hội mà ta đang sống”.

Nếu vui chơi là một thuật ngữ chỉ một dạng hoạt động giải trí tự nguyện

của mọi người, tạo ra sự sảng khoái, thư giãn về thần kinh, tâm lý, thì trò chơi

là một vui chơi có nội dung, có tổ chức của nhiều người, có quy định luật lệ.

12



Trò chơi



13



vừa mang tính chất vui chơi giải trí, vừa có ý nghĩa giáo dưỡng và giáo dục đối

với con người.

Theo từ điển Tiếng Việt, do trung tâm từ điển học xuất bản năm 2007 định

nghĩa “Trò chơi là hoạt động bày ra để vui chơi, giải trí.” [18] Chữ “trò” được

hiểu là một hình thức mua vui bày ra trước mặt mọi người. Chữ “chơi” là một

từ chung để chỉ hoạt động lúc nhàn rỗi, ngoài giờ làm việc nhằm mục đích giải

trí là chính.

Đ.V Enconhin định nghĩa: Trò chơi ln gắn liền với sự phát triển của xã

hội lồi người và sự thay đổi vị trí của đứa trẻ trong các mối quan hệ xã hội.

Theo Đ.K Unsinxki – một nhà giáo dục người Nga quan niệm rằng: Trò

chơi là một hoạt động không nhằm tạo ra sản phẩm kết quả vật chất mà nó chỉ

giúp trẻ thỏa mãn nhu cầu được chơi, đem lại kết quả về mặt tinh thần.

Trong cuốn Giáo dục trẻ em, tập 3 do NXB ĐHQGHN, 1997: “Trò chơi là

một hoạt động độc lập - tự do và tự nguyện của đứa trẻ”. Trò chơi của trẻ không

phải là thật là giả vờ, giả vờ làm một cái gì đó. Nhưng sự giả vờ ấy của trẻ lại

mang tính chất thật.[1]

Theo Đặng Thành Hưng: “Trò chơi là thuật ngữ có hai nghĩa khác nhau

tương đối xa: 1. Một kiểu loại phổ biến của chơi. Nó chính là chơi có luật (tập

hợp quy tắc, định rõ mục đích, kết quả và yêu cầu hành động) và có tính cạnh

tranh hoặc tính thách thức đối với người tham gia; 2. Những thứ công việc được

tổ chức và tiến hành dưới hình thức chơi, như chơi, bằng chơi, chẳng hạn: học

bằng chơi, giao tiếp bằng chơi, giao tiếp bằng chơi, rèn luyện thân thể dưới hình

thức chơi ..., và thực chất đó là việc”. [10]

Có rất nhiều quan niệm về trò chơi và trong luận văn này chúng tơi quan

niệm: trò chơi là một hoạt động của con người nhằm mục đích trước tiên là vui

chơi, giải trí, thư giãn, sau đó là phát triển kiến thức, rèn luyện thể lực, phát

triển các giác quan, rèn kĩ năng hợp tác, làm việc tập thể.

1.2.2. Trò chơi học tập



14



Về tên gọi, tùy thuộc vào tác giả nhìn nhận trò chơi theo chức năng và ý

nghĩa giáo dục của nó hoặc tùy thuộc vào cách hiểu, cách dịch của người dịch

từ tiếng nước ngồi sang tiếng Việt, trò chơi này có một số tên gọi khác nhau.

Có thể kể một số tên thường gặp như: “trò chơi dạy học”, “TCHT”, “trò chơi

khó”, “trò chơi đòi hỏi trí thơng minh”, “trò chơi có luật”… Trò chơi này

theo tiếng Anh là “game with rules”.

Theo A.N. Lêơnchiev “Trò chơi đó được gọi là TCHT hay trò chơi dạy học

là vì trò chơi đó gắn liền với một mục đích dạy học nhất định và đòi hỏi khi tổ

chức phải có tài liệu dạy học kèm theo phù hợp với mục đích của trò chơi”. [Dẫn

theo 5]

Kharlamơv cho rằng loại trò chơi được xem là TCHT “Đó là những trò chơi

có nhiệm vụ chủ yếu là giáo dục và phát triển trí tuệ cho trẻ em”. [Dẫn theo 5]

Nhà sư phạm nổi tiếng A.I Xôrôkina cũng đã đưa ra một luận điểm vô

cùng quan trọng về đặc thù của dạy học kết hợp với trò chơi. Theo ơng, TCHT

là một q trình phức tạp, nó là hình thức dạy học và đồng thời nó vẫn là trò

chơi… Chúng khơng có mối quan hệ bền vững. Khi các mối quan hệ chơi bị

xóa bỏ, ngay lập tức trò chơi biến mất và khi ấy, trò chơi biến thành tiết học,

đơi khi biến thành sự luyện tập.

Tác giả N.K.Crupxkaia từng nhận định: “TCHT không những là phương

thức nhận biết thế giới, là con đường dẫn dắt trẻ đi tìm chân lý mà còn giúp trẻ

xích lại gần nhau, giáo dục cho trẻ tình yêu quê hương, lòng tự hào dân tộc. Trẻ

em khơng chỉ học trong lúc học mà còn học trong lúc chơi. Chơi với trẻ vừa là

học vừa là lao động, vừa là hình thức giáo dục nghiêm túc”.[Dẫn theo 8]

Việc phân loại và gọi tên trò chơi hồn tồn được dựa vào kết quả tác động

giáo dục chủ yếu của nó, tuy nhiên việc phân loại cũng chỉ mang tính tương đối

và ước lệ mà thôi. Điều cơ bản là nhà giáo dục phải hiểu được nội hàm, bản

chất và ý nghĩa của trò chơi. Trong đề tài này, chúng tơi sử dụng tên gọi loại trò

chơi này là TCHT và thuật ngữ này đã được công nhận và sử dụng rộng rãi

trong lĩnh vực giáo dục. TCHT chủ yếu hướng tới việc giáo dục và phát triển

hoạt động nhận thức của trẻ. Chơi là phương tiện, học là mục đích.

15



Những thành tựu nghiên cứu về trò chơi, đặc biệt về sự phân loại trò chơi

đã chỉ ra những đặc thù của loại trò chơi này như sau:

TCHT thuộc nhóm trò chơi có luật thường là do người lớn nghĩ ra cho trẻ

chơi và dùng nó vào mục đích giáo dục và dạy học, hướng tới việc phát triển

hoạt động trí tuệ cho trẻ. TCHT có nguồn gốc trong nền giáo dục dân gian và

trong trò chơi có chứa đựng các yếu tố dạy học. Những TCHT được truyền

khẩu trong dân gian thì được gọi là trò chơi dân gian.

TCHT khác với các loại trò chơi khác ở chỗ: Nhiệm vụ nhận thức và luật

chơi đòi hỏi trẻ phải huy động ở mức độ cao các chức năng trí tuệ để giải quyết

các nhiệm vụ nhận thức đó. Tuy nhiên, nhiệm vụ này lại được thực hiện dưới

hình thức chơi vui vẻ, thú vị và chính điều đó nâng cao thể chất của trẻ. Khác

với nhóm trò chơi có luật ẩn (các trò chơi do trẻ em tự nghĩ ra, luật chơi

được ẩn đằng sau chủ đề, hành động và vai chơi). TCHT thuộc nhóm trò chơi

có luật cố định (các trò chơi do người lớn nghĩ ra cho trẻ với những nội dung,

nhiệm vụ và luật chơi có sẵn). TCHT khác với “tiết học” ở chỗ, trong TCHT

nhiệm vụ nhận thức không đặt ra một cách trực tiếp và công khai trước trẻ mà

nằm trong nhiệm vụ chơi, luật chơi và hành động chơi. Những nhiệm vụ chơi

và hành động chơi đòi hỏi trẻ phải tích cực huy động những tri thức, kỹ năng,

kỹ xảo của mình để đạt được kết quả mà trò chơi đặt ra.

Như vậy, TCHT là trò chơi được sử dụng trong quá trình dạy học gắn với

một mục tiêu học tập nhất định, qua đó hình thành và phát triển ở HS những

năng lực cần thiết.

1.2.3. Thiết kế trò chơi học tập

Theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên): “Thiết kế là lập tài liệu kĩ

thuật tồn bộ, bao gồm có bản tính tốn, bản vẽ,… để có thể theo đó mà xây

dựng cơng trình, sản xuất thiệt bị, sản phẩm,vv…” [18,tr.958].

Thiết kế gắn với một dạng hoạt động cụ thể bao gồm các việc như: lên ý

tưởng, lập kế hoạch, dự kiến kết quả. Theo đó, các cá nhân có thể dựa vào để

tiến hành tạo ra sản phẩm cụ thể. Trong dạy học, thiết kế được hiểu là một

chuỗi các

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cấu trúc đề tài

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×