Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kết cấu của luận văn:

Kết cấu của luận văn:

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC VÀ DU LỊCH SINH THÁI.

1.1. Một số lý luận cơ bản về chiến lược.

1.1.1. Khái niệm và vai trò của chiến lược.

Khái niệm:

Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về chiến lược. Theo Ferd R.David

“chiến lược là những phương tiện để đạt đến những mục tiêu dài hạn; “Chiến lược

có thể coi là tập hợp những quyết định và hành động hướng đến mục tiêu để các

năng lực và nguồn lực của tổ chức đáp ứng được những cơ hội và thách thức từ bên

ngoài” – diễn dàn doanh nghiệp – Web Bộ Cơng thương.

Từ những nghiên cứu trên ta có thể hiểu: chiến lược là tập hợp các quyết định

(mục tiêu, đường lối, chính sách, phương thức, phân bổ nguồn lực…) và phương

châm hành động để đạt được mục tiêu dài hạn, phát huy những điểm mạnh, khắc

phục những điểm yếu của tổ chức, giúp tổ chức đón nhận những cơ hội và vượt qua

những nguy cơ từ bên ngoài một cách tốt nhất.

Vai trò của chiến lược:

Một chiến lược kinh doanh tốt giúp định vị được công việc kinh doanh hiện tại

đang ở vị trí nào, từ đó đặt ra các mục tiêu thực tế, phù hợp với tổ chức và biết được

một cách rõ ràng về cách đạt được chúng trong tương lai. Có chiến lược đúng đắn

với việc xác định các mục tiêu phù hợp sẽ tận dụng được tối đa các nguồn lực sẵn

có của tổ chức kết hợp với các cơ hội trên thị trường để đạt được mục tiêu của tổ

chức một cách tối ưu nhất.

Chiến lược đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của một quốc

gia. Các quốc gia trên thế giới từ lâu đã biết vận dụng chiến lược vào phát triển kinh

tế và đã có những bước nhảy thần kỳ, có thể nêu ra một số trường hợp điển hình

như sau:

Singapore: để vực dậy nền kinh tế quốc gia sau chiến tranh thế giới lần thứ hai

với tỷ lệ thất nghiệp tăng lên đến 14%, đảo quốc này đã thiết lập một chiến lược

phát triển đúng đắn với nhiều mục tiêu mũi nhọn: chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp



7



nước ngồi thơng qua việc xóa bỏ hoàn toàn những rào cản về đầu tư và thương

mại, áp dụng co chế một cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài, kết nối trực tiếp với

những khách hàng tiềm năng ở chính quốc gia của các nhà đầu tư nhằm thu hút các

nhà đầu tư nước ngoài vào khu vực hóa dầu, sửa chữa tàu thuyền, chế tạo kim loại

và điện tử; chiến lược tập trung xây dựng các khu công nghiệp chất lượng cao;

chiến lược áp dụng mức thuế quan thấp; chiến lược chi phí nhân cơng rẻ; chiến lược

gia tăng tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư: với tỷ lệ tiết kiệm trung bình khoảng 45% đã giúp

chính phủ có quỹ tiết kiệm khổng lồ đầu tư trở lại phát triển co sở hạ tầng của đất

nước như: giải phóng đường biển và xây dựng các đường cao tốc hiện đại, sân bay

tốt nhất thế giới Changi, bệnh viện, bệnh viện, trường đại học, đường hàng không

cũng như cơ sỏ hạ tầng cho ngành viễn thông cáp quang hiện đại.

Thái Lan: Nền kinh tế rơi vào tình trạng hết sức bi đát sau khủng hoảng kinh

tế khu vực năm 1997, tuy nhiên với những chiến lược phát triển kinh tế đúng đắn,

Thái Lan dần phục hồi kinh tế, tốc độ tăng trưởng như hiện nay….. Chính phủ Thái

Lan có những chiến lược quan trọng nhằm cải tổ đất nước: chú trọng nhân tố con

người – nhân tố chủ lực quyết định sự phát triển đất nước, cải tổ chính sách tài

chính – tiền tệ nhằm thu hút đầu tư nước ngồi, tạo cơng ăn việc làm cho người lao

động, ổn định trật tự, an toàn xã hội, lấy dịch vụ và xuất khẩu làm đầu tàu cho phát

triển kinh tế, tranh thủ lợi thế so sánh của từng nước với từng lĩnh vực kinh tế để

phát triển hợp tác song phương…

- Việt Nam: kinh tế nước ta gặp rất nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân

nhưng với chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội và một số văn kiện của

Đảng và Nhà nước, chúng ta đã vượt qua những khó khăn bước đầu và từng bước

đạt được những thắng lợi nhất định. Từ đó đến nay chúng ta cũng đã vạch ra những

chiến lược cụ thể như: giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, mở cửa nền

kinh tế thu hút đầu tư, khuyến khích đầu tư phát triển du lịch quốc gia, đẩy mạnh

xuất khẩu, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực…hội nhập kinh tế quốc tế với các

nước trong khu vực và trên thế giới. Thành tựu mà chúng ta đạt được là rất quan

trọng và thể hiện đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước.



8



1.1.2. Chiến lược phát triển ngành

- Chiến lược phát triển ngành là loại chiến lược mà nội dung của nó bao gồm

các yếu tố chịu ảnh hưởng của chế độ chính trị, xã hội, cách thức phát triển của một

đất nước, hoàn cảnh lịch sử và trình độ phát triển ngành. Chiến lược phát triển

ngành cũng phải xác định mục tiêu chính cần đạt đến dựa trên nguồn lực, cơ cấu

kinh tế, phương thức và cơ chế quản lý kinh tế, trong đó phải xem xét con người là

nhân tố quan trọng mang tính quyết định, khi xây dựng chiến lược chúng ta phải

xem xét đến tính đa dạng và khách nhau giữa các chiến lược do nhiều yếu tố ảnh

hưởng:

- Hoàn cảnh lịch sử và trình độ phát triển từng giai đoạn của đất nước gắn với

những yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn đó như: chiến lược thời khi hậu

chiến tranh, khôi phục kinh tế, giai đoạn tiền đề cho cơng nghiệp hóa… Ở những

nước phát triển, họ rất coi trọng đến những chiến lược ứng với những giai đoạn cụ

thể trong tiến trình phát triển.

- Dựa theo mục tiêu chính cần đạt đến của chiến lược, chúng ta có những

chiến lược như chiến lược xóa đói giảm nghèo, giảm tỷ lệ thất nghiệp, chiến lược

thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

- Gắn với nguồn lực chúng ta có các loại chiến lược ứng với các nội dung

khác nhau: chiến lược nội sinh (dựa vào nội lực), chiến lược ngoại sinh (dựa vào

ngoại lực) hoặc chiến lược hỗn hợp, chiến lược dựa vào cách mạng khoa học công

nghệ.

- Căn cứ vào cơ cấu kinh tế, chúng ta có thể xây dựng các chiến lược như:

chiến lược ưu tiên phát triển một số ngành then chốt, chiến lược thay thế nhập khẩu,

chiến lược hướng về xuất khẩu…

- Căn cứ vào phương thức và cơ chế quản lý kinh tế (mơ hình quản lý), ta có

thể có các chiến lược kế hoạch hóa tập trung, chiến lược theo cơ chế thị trường hoặc

chiến lược phát triển theo cơ chế thị trường nhưng có sự điều tiết của nhà nước.

- Con người là nhân tố cơ bản đóng vai trò quyết định đối với việc thực hiện

chiến lược, mọi chiến lược xây dựng là nhằm phát triển đất nước, đáp ứng nhu cầu



9



của con người, phải phát huy được nhân tố con người như là một chủ thể, một động

lực cơ bản của chiến lược.

1.1.3. Quy trình hoạch định chiến lược.

1.1.3.1. Xác định mục tiêu:

Mục tiêu là khái niệm dùng để chỉ những kết quả cụ thể mà doanh nghiệp

mong muốn đạt được trong một giai đoạn nhất định và là cơ sở, nền tảng cho việc

xây dựng, hình thành chiến lược. Để chiến lược cụ thể và mang tính thực tiễn



cao thì mục tiêu đặt ra phải phù hợp thực tiễn, phù hợp với từng điều kiện cụ

thể của doanh nghiệp. Do đó, Xác định mục tiêu là giai đoạn đầu tiên và cũng

là nền tảng cho việc xây dựng chiến lược.

1.1.3.2. Phân tích mơi trường hoạt động:

Phân tích đánh giá mơi trường bên ngồi: Bao gồm môi trường vĩ mô và Môi

trường vi mô (Môi trường tổng quát hay Môi trường đặc thù):

- Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô: bao gồm các yếu tố như yếu tố chính

trị, pháp luật, kinh tế, văn hóa xã hội, công nghệ và kỹ thuật, yếu tố tự nhiên. Trong

q trình xây dựng chiến lược chúng ta khơng thể bỏ qua phân tích các yếu tố này.

- Các yếu tố thuộc môi trường vi mô: đây là các yếu tố tác động trực tiếp

đến ngành như yếu tố nhà cung cấp, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, các đối thủ

tiềm năng, các sản phẩm thay thế.

Phân tích mơi trường bên trong: đây là yếu tố trong nội bộ của tổ chức, các

yếu tố này ta có thể kiểm sốt được. Các yếu tố như tài chính, kỹ thuật, nhân sự,

tiếp thị …sẽ giúp cho nhà hoạch định chiến lược thấy được điểm mạnh, điểm yếu so

với đối thủ cạnh tranh.

1.1.3.3. Hình thành các phương án chiến lược.

Để hình thành nên chiến lược, tổ chức phải phân tích kỹ tác động của

môi trường bên trong và môi trường bên ngồi của tổ chức mình, nhận dạng được

các mặt mạnh, mặt yếu, các cơ hội và nguy cơ mà tổ chức đang phải đối mặt, qua

đó giúp hình thành các phương án chiến lược một cách cụ thể và hiệu quả, phù hợp



10



với điều kiện của tổ chức mình, phát huy những điểm mạnh và khắc phục những

điểm yếu để hình thành nên những chiến lược tốt nhất.

1.1.3.4. Lựa chọn chiến lược.

Căn cứ vào chức năng, mục tiêu, nhiệm vụ của mình mà tổ chức lựa chọn

các phương án chiến lược phù hợp trong số những chiến lược được hình thành.

Ngồi ra, chiến lược còn phải đáp ứng hiệu quả kinh tế, xã hội mà tổ chức yêu cầu,

việc lựa chọn chiến lược đúng đắn, phù hợp với tổ chức sẽ là “kim chỉ nam” cho sự

thành công của tổ chức đó.

1.2. Tìm hiểu về du lịch sinh thái.

1.2.1. Quan niệm về du lịch sinh thái.

Có thể nói cho đến nay khái niệm về du lịch sinh thái vẫn còn được hiểu

dưới nhiều góc độ khác nhau với những tên gọi khác nhau. Tuy nhiên, mặc dù

những tranh luận vẫn còn tiếp tục nhằm đưa ra một định nghĩa chung được chấp

nhận về du lịch sinh thái, đa số các ý kiến tại diễn dàn quốc tế chính thức về du lịch

sinh thái đều cho rằng du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ

trợ cho các hoạt động bảo tồn và quản lý bền vững về mặt sinh thái. Du khách sẽ

được hướng dẫn tham quan với những diễn giải cần thiết về môi trường để nâng cao

nhân biết, cảm nhận được giá trị tự nhiên và văn hóa mà khơng gây tác động không

thể chấp nhận đối với hệ sinh thái và văn hóa bản địa.

Về nội dung thì du lịch sinh thái là loại hình du lịch tham quan, thám hiểm,

đưa du khách tới những mơi trường còn tương đối ngun vẹn, về các vùng thiên

nhiên hoang dã, đặc sắc để tìm hiểu, nghiên cứu các hệ sinh thái và các nền văn hóa

bản địa độc đáo, làm thức dậy ở du khách tình yêu và trách nhiệm bảo tồn, phát

triển đối với tự nhiên và cộng đồng địa phương.

1.2.2. Định nghĩa về du lịch sinh thái.

1.2.2.1. Định nghĩa về du lịch sinh thái của hiệp hội du lịch sinh thái (1992).

“Du lịch sinh thái là sự du hành mục đích đến các khu vực tự nhiên để hiểu

biết lịch sử tự nhiên, văn hóa mơi trường, khơng làm biến đổi tính hoàn chỉnh về



11



sinh thái đồng thời tạo cơ hội phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên

nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương”.

Tuy nhiên, do mỗi quốc gia có đặc diểm khác nhau về địa hình, kinh tế, văn

hóa – xã hội…nên hoạt động du lịch sinh thái được hiểu dưới góc độ khác nhau và

ở mỗi quốc gia có một định nghĩa riêng về du lịch sinh thái.

1.2.2.2. Định nghĩa du lịch sinh thái ở Việt Nam (1999)

Trong cuộc hội thảo “Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Việt

Nam” được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 7 đến ngày 9 tháng 9 năm 1999, Tổng cục

du lịch cùng hội đồng thanh niên Việt Nam và Ủy ban kinh tế xã hội Châu Á – Thái

Bình Dương đã đưa ra một quyết định thống nhất du lịch sinh thái ở Việt Nam như

sau:

“Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản

địa gắn với giáo dục mơi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền

vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”.

Như vậy, du lịch sinh thái là loại hình du lịch gắn với thiên nhiên, không

làm biến đổi hệ sinh thái, du lịch sinh thái gắn liền ý thức bảo vệ môi trường và sự

bình an của cộng đồng địa phương. Một trong những thuộc tính đặc trưng của du

lịch sinh thái là tính bền vững, đây cũng chính là sự khác biệt cơ bản giữa du lịch

sinh thái với các loại hình du lịch khác vì một phần thu nhập từ hoạt động du lịch

sinh thái được tái đầu tư trực tiếp vào bảo vệ các đối tượng du lịch cũng như nâng

cao mức sống cộng đồng địa phương thông qua sự tham gia có tổ chức của họ.

1.2.3. Đặc điểm của du lịch sinh thái:

- Du lịch sinh thái luôn gắn với nhu cầu động cơ hướng về cội nguồn và duy

trì quan hệ tốt đẹp, thân thiện.

- Sự phát triển xã hội hiện đại, đặc biệt sự phát triển của cơng nghiệp và đơ

thị hóa đã kèm theo sự ô nhiễm về không khí, nước uống, áp lực công việc, các

quan hệ xã hội đã tạo ra các trạng thái tâm lý căng thẳng. Vì thế nhu cầu thư giãn,

nghỉ ngơi trong mơi trường sinh thái để tìm lại sư cân bằng tam lý ngày càng phát

triển. Du khách du lịch sinh thái muốn có được các sản phẩm du lịch sạch, tinh

khiết. Du khách muốn được thả mình trong mơi trường cảnh quang n tĩnh, khí



12



hậu trong lành…mơi trường sinh thái đó đã có ảnh hưởng rất lớn tới tâm lý của du

khách, tạo cho họ những ấn tượng mạnh mẽ, những rung cảm tuyệt vời. Du khách

cảm thấy như được sống trong thế giới huyền ảo, và quên đi những lo toan vất vả

đời thường. Đây là những điều kiện tốt giúp cho du khách sức khỏe, tinh thần một

cách nhanh nhất.

- Du khách muốn sử dụng phương tiện đi lại đơn giản trong quá trình du lịch

như: thuyền, xe ngựa, xe kéo, đi bộ…nhằm thỏa mãn nhu cầu muốn hít thở khơng

khí trong lành, tránh được khói bụi, và khí thảy đồng thời rèn luyện sức khỏe bản

thân.

- Du khách thích được nghỉ trong các lều trại, nhà sàn, hang đá để được hòa

mình hơn với thiên nhiên cuộc sống chung với dân cư địa phương để biết và hiểu

hơn cuộc sống của họ.

- Du khách muốn được sử dụng các đặc sản của các vùng miền, rừng núi theo

những phong cách đặc trưng cá nướng, thịt rừng nướng, các món ăn thực đặc trưng

của người dân địa phương và mua quà lưu niệm gắn liền với đặc điểm sinh thái

như: mật ong rừng, hoa, quả rừng, măng rừng…

1.2.4. Vai trò của du lịch sinh thái.

1.2.4.1. Lợi ích sinh thái.

Du lịch sinh thái mang lại lợi ích rất lớn cho sinh thái của khu vực đó, muốn

du lịch sinh thái vùng đó phát triển thì trước hết hệ sinh thái vùng đó phải thật sự đa

dạng, đáp ứng nhu cầu tham quan của du khách. Thông qua các hoạt động, du lịch

sinh thái sẽ giúp các loại động thực vật quý hiếm được gìn giữ và bảo tồn, góp phần

bảo vệ khu bảo tồn thiên nhiên, góp phần bảo vệ sự đa dạng sinh học… Do đó, du

lịch sinh thái phát triển mạnh sẽ tạo điều kiện cho các quy trình sinh thái cũ cũng

như mới diễn ra liên tục hơn và ngăn chặn bớt việc phá hoại sinh thái.

1.2.4.2. Lợi ích kinh tế.

Du lịch sinh thái ngày càng phát triển tạo điều kiện tạo công ăn việc làm,

tăng thư nhập cho cộng đồng ở trong và quanh khu vực tổ chức hoạt động du lịch

sinh thái, doanh thu về nội tệ cũng như ngoại tệ sẽ tăng nếu biết đầu tư và phát triển

đúng mức cho LDST. Du lịch sinh thái cũng có thế góp phần khôi phục và phát



13



triển nghề thủ công truyền thống, thúc đẩy các ngành nghề cùng phát triển và góp

phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế

1.2.4.3. Lợi ích cho xã hội.

Du lịch sinh thái đã thúc đẩy bảo vệ môi trường tự nhiên do hiện tượng đơ

thị hóa phát triển khơng ngừng đã cuốn hút con người theo dòng chảy của cuộc

sống cơng nghiệp hóa, vật chất hóa và con người ngày càng bị tách rời với môi

trường thiên nhiên. Do đó, với sự phát triển du lịch sinh thái, nhu cầu tìm hiểu thiên

nhiên thơng qua con đường du lịch sinh thái đã trở nên ngày càng cấp thiết, thông

qua các hoạt động này con người đã giúp cho các loại động vật quý hiếm, gìn giữ và

bảo tồn.

Du lịch sinh thái khơng những giúp bảo tồn văn hóa mà còn góp phần khơi

phục ngành nghề truyền thống, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, các lễ hội và

phong tục tập quán của các cộng đồng dân cư địa phương.

Du lịch sinh thái kết hợp hài hòa cả ba mục tiêu: kinh tế, xã hội và sinh thái.

Do đó, du lịch sinh thái được xem như một mắt xích bền vững trong tổng thể ngành

du lịch đã tiếp cận toàn diện ba lĩnh vực: quy hoạch, quản lý và sự tham gia của

cộng đồng địa phương.

1.2.4.4. Tác động tiêu cực.

Bên cạnh những hiệu quả nhiều mặt mang lại thì hoạt động du lịch nói

chung và du lịch sinh thái nói riêng cũng có một số tác động tiêu cực:

* Tác động đến môi trường: nếu không quản lý tốt sẽ gây nên hậu quả to lớn

vì hiện tượng ơ nhiễm mơi trường, phá vỡ tính thống nhất và cân bằng của hệ sinh

thái.

* Về mặt văn hóa, xã hội: du lịch sinh thái nói riêng và du lịch nói chung có

thể làm xói mòn các giá trị văn hóa truyền thống của các cộng đồng do sự thẩm thấu

và giao thoa văn hóa giữa du khách và dân cư địa phương, nó làm thương mại hóa

các hoạt động văn hóa truyền thống với lý do là nhằm thu hút du khách.

* Về mặt kinh tế: du lịch sinh thái thái sẽ làm ảnh hưởng đến không gian

sống của cộng đồng địa phương, làm tăng sự phân hóa xã hội trong cộng đồng về



14



thu nhập, làm nảy sinh mâu thuẫn giữa các nhóm người trong cộng đồng địa

phương.

1.2.5. Tài nguyên du lịch sinh thái.

1.2.5.1. Hệ sinh thái tự nhiên.

Đối với hoạt động du lịch sinh thái thì các hệ sinh thái tự nhiên sau đây là

đối tượng chủ yếu:

* Hệ sinh thái vùng núi cao: đặc biệt ở các độ cao từ 1500 – 2000 m trở lên

so với mặt nước biển được xem là nơi có bầu khí quyển trong lành nhất, hệ sinh thái

này do sự thay đổi về độ cao, áp suất khí quyển, độ ẩm, với thảm thực vật đa dạng

và động vật phong phú.

* Hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm: Vườn quốc gia Cát Tiên.

* Hệ sinh thái rừng khô hạn đặc trưng: Yokdon – Bản Đôn, Đăk Lăk.

* Hệ sinh thái đất ngập nước: đất ngập nước tại các vùng đầm lầy, các vùng

ngập nước thường xuyên hay không thường xuyên: nước ngọt, nước lợ, hay nước

mặn và bao gồm cả phần đất ngập nước ven biển với độ cao không quá 6m khi thủy

triều xuống (ví dụ: Cần Giờ, tp.HCM, Kiên Giang, Amazone…) đây là môi trường

sinh sống phát triển, cư trú của nhiều loại sinh vật, thực vật đặc hữu.

* Hệ sinh thái biển: với sức hấp dẫn về độ sâu, thế giới dưới nước, cuộc

sống của sinh vật dưới đáy biển…sự phát triển của các chuyến du lịch lặn từ mấy

năm gần đây cho thấy mơ hình này rất thích hợp với loại hình du lịch sinh thái chứ

không đơn thuần là một dạng du lịch thể thao dành riêng cho các vận động viên

chuyên nghiệp.

* Hệ sinh thái ven bờ: bờ hồ, sông, suối, thác nước… cũng có sức thu hút

đối với cho du khách. Địa hình thuận lợi kết hợp yếu tố như thời tiết, khí hậu, cảnh

quang…khơng chỉ thích hợp các buổi dã ngoại, nghỉ ngơi, cắm trại ngồi trời mà

còn tìm hiểu sự sống và hoạt động của các dạng vật chất xung quanh.

1.2.5.2. Hệ sinh thái nhân văn:

Tài nguyên nhân vân – xã hội cũng được xem là một đối tượng của du lịch

sinh thái, có những định nghĩa chỉ xem du lịch sinh thái là du lịch “xanh” nghĩa là



15



chỉ quan tâm đến hệ sinh thái tự nhiên mà bỏ qua hệ sinh thái nhân văn. Tuy nhiên,

việc tìm hiểu một đặc điểm văn hóa hoặc hòa nhập với lối sống đời thường của một

vùng với những phong tục tập quán mới là cũng là một nội dung của du lịch sinh

thái.

* Nét văn hóa truyền thống: những tiêu thức nhân văn được hình thành

trong quá trình tồn tại, phát sinh, phát triển của cộng đồng người, với những truyền

thống kinh nghiệm về đời sống, các tính cách, tư duy tập quán quan hệ cộng đồng,

nét giao tiếp, phong cách sống của cư dân địa phương với lòng hiếu khách, sự hiếu

kỳ khi đón tiếp du khách cũng là yếu tố thu hút khách theo dạng sinh thái nhân văn.

Hoạt động văn hóa, nghệ thuật, đến cả các hoạt động đời thường như ăn, uống, ngủ

nghỉ, phương tiện đi lại đều gây cho du khách sự tò mò rồi từ đó đưa đến nhu cầu

hòa nhập. Tất cả những tiêu thức trên đều được xem là đối tượng của du lịch sinh

thái nhân văn. Ví dụ: uống rượu cần và nhảy múa cùng người dân tộc, chèo thuyền,

kéo lưới, xe xích lơ…

* Các di tích văn hóa lịch sử: trong tiến trình lịch sử của mỗi dân tộc, mỗi

quốc gia với việc hình thành xây dựng nên các di tích lịch sử - văn hóa, các cơng

trình kiến trúc mang tính tơn giáo, qn sự, kinh tế…những cơng trình đánh dấu

một sự kiện quan trọng nào đó…cũng được xếp vào những đối tượng của du lịch

sinh thái. Bởi du lịch sinh thái mang đậm tính hòa nhập, bảo tồn bền vững. Do đó,

những cơng trình để lại dấu ấn khéo léo của đơi tay và sáng tạo của khối óc của con

người cũng được xem là đối tượng cần phải hòa nhập, tôn trọng và cần được tôn

tạo, bảo vệ.

1.2.6. Những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái.

1.2.6.1. Nguyên tắc hòa nhập.

Du khách cần phải hòa nhập một cách tự nguyện vào mơi trường tư nhiên,

mơi trường văn hóa – xã hội theo đúng nghĩa của nó, phải chấp nhận hạn chế của nó

hơn là biến đổi, cải tạo mơi trường của nó được thuận tiện theo ý muốn cá nhân.

Giáo dục và nâng cao hiểu biết của du khách về môi trường tự nhiên, tạo ý thức

tham gia vào nỗ lực bảo tồn tự nhiên. Bên cạnh đó, việc bảo vệ và phát huy bản sắc



16



văn hóa cũng đặc biệt quan trọng mà hoạt động du lịch sinh thái cần tuân thủ, bởi

các giá trị nhân văn là một bộ phận cơ hữu không thể tách rời các giá trị của môi

trường xã hội đối với hệ sinh thái ở một nơi cụ thể.

1.2.6.2.Nguyên tắc tham gia cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch sinh thái.

Tất cả những nỗ lực cần để đạt được tính bền vững trong phát triển du lịch

sinh thái thì sự tham gia của cộng đồng địa phương cần được quan tâm và khuyến

khích, có nhiều ngun nhân mà cộng đồng địa phương cần phải tham gia vào hoạt

động du lịch sinh thái.

Về mặt đạo đức và công bằng xã hội, cộng đồng địa phương là chủ nhân

thật sự của các tài nguyên cả trong tự nhiên lần nhân văn mà ngành du lịch phải dựa

vào để thu hút du khách, cho nên họ có quyền tham gia và hưởng lợi từ hoạt động

du lịch trong khu vực.

Việc tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch không chỉ

tăng thu nhập, cải thiện đời sống mà còn làm cho họ có trách nhiệm hơn với tài

ngun, mơi trường du lịch, cùng ngành du lịch chăm lo đến việc nâng cao chất

lượng sản phẩm du lịch, góp phần quan trọng đối với việc phát triển bền vững của

du lịch.

1.2.6.3. Nguyên tắc quy mô.

Yêu cầu của du lịch sinh thái là không phá hủy môi trường, làm tổn hại cuộc

sống của các sinh vật, cư dân địa phương trong mơi trường đó, cho nên khi khai

thác cần chú ý đến một số yếu tố để bảo tồn tính bền vững của mơi trường.

Bất kỳ một điểm du lịch nào cũng đòi hỏi một giới hạn nhất định về mặt số

lượng, điều này càng chở nên tất yếu hơn đối với một điểm du lịch sinh thái đúng

nghĩa, sức chứa đựng của nó chỉ chấp nhận số lượng ở mức độ vừa phải, càng hạn

chế du khách đạt mức tối đa bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu vì ngồi việc số lượng

du khách quá đông sẽ gây tiếng ồn, nguy hại đến môi trường làm ảnh hưởng đến

cuộc sống của các sinh vật ở đó thì lượng thải cao làm ảnh hưởng đến khả năng tái

tạo sức sống của hệ sinh thái, khơng kiểm sốt được hành vi tiêu cực cho dù là do

vô ý hay cố ý hủy hoại môi trường.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kết cấu của luận văn:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×