Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
(Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Cần Giờ, 2012)

(Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Cần Giờ, 2012)

Tải bản đầy đủ - 0trang

28



2.1.2.3. Về văn hóa xã hội.

Về văn hóa: Huyện có nhiều cơ sở văn hóa phục vụ cho nhu cầu giải trí của

nhân dân: thư viện, nhà văn hóa, sân vận động thể dục – thể thao…. Ngồi ra, CG

còn có các cơ sở tơn giáo như: chùa, đình, miếu, miễu… phục vụ nhu cầu tín

ngưỡng của người dân. Thành phần dân tộc chủ yếu là người Kinh, bên cạnh đó còn

có nguời Hoa, Khơ – me… làm cho văn hóa bản địa thêm phong phú, đa dạng.

2.1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của huyện Cần Giờ.

Đến nay, mảnh đất Cần Giờ đã thay da đổi thịt. Đảng bộ, chính quyền và

nhân dân huyện Cần Giờ tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng cách mạng, năng

động, sáng tạo trong từng bước đi, từng giai đoạn cách mạng, vượt qua mọi khó

khăn, thiếu thốn để trưởng thành và phát triển. Những kết quả đã đạt được về kinh

tế, chính trị, văn hóa, xã hội hơm nay đã khẳng định sự nỗ lực vươn lên, triển khai

và thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chỉ đạo của Trung ương cũng như của

thành phố Hồ Chí Minh. Những kết quả đã đạt được của Đảng bộ, chính quyền,

quân và dân Cần Giờ đã được Nhà nước ghi nhận và tuyên dương danh hiệu Anh

hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (năm 2000) và Anh hùng Lao động trong thời kỳ

đổi mới (năm 2005).

2.2. Thực trạng tài nguyên thiên nhiên du lịch sinh thái.

2.2.1. Tài nguyên thiên nhiên.

2.2.1.1. Hệ sinh thái rừng ngập mặn.

* Hệ thực vật:

Rừng ngập mặn Cần Giờ có diện tích 33.009 ha chiếm gần 1/2 diện tích tồn

huyện Cần Giờ, được UNESCO công nhận là Khu Dự trữ sinh quyển thế giới, xứng

đáng là “lá phổi xanh” của thành phố với hệ sinh thái quan trọng trong việc điều hòa

khí hậu, hạn chế xói mòn, làm màu mỡ đất đai, hạn chế ơ nhiễm nước và khơng

khí…

Hệ thực vật rừng ngập mặn Cần Giờ chiếm đa số là cây đước, thành phần

của loài cây này tương đối đơn giản và có kích thước cá thể ở dạng trung bình.



29



Hệ thực vật rừng tự nhiên khoảng 7.000 ha bao gồm: Chà là, Ráng, Giá,

Nấm, Dà vôi … tất cả đều sống ở vùng ít ngập nước.

* Hệ động vật:

Hiện nay, hệ động vật rừng ngập mặn Cần Giờ có giá trị cao về mặt bảo tồn

đa dạng sinh học với trên 200 lồi động vật, trong đó, có nhiều lồi có tên trong

sách đỏ của nước ta. Theo những nghiên cứu gần đây thì hiện nay ở Cần Giờ có

những lồi động vật chủ yếu sau:

Lồi thủy sinh: có 63 lồi tảo; 114 lồi động vật đáy; động vật khơng xương

sống như tơm, cua, sò, ốc; 45 lồi cá.

Động vật trên cạn: 48 lồi lưỡng cư bò sát, 4 lồi hữu nhủ, 37 lồi chim…

Nhìn chung, dù khơng nhiều và phong phú như trước khi bị tàn phá bởi chiến

tranh nhưng các loài động vật ở Cần Giờ đang dần được hồi phục, điều này đã góp

phần thu hút khách du lịch đến với Cần Giờ.

2.2.1.2. Hệ sinh thái biển, sông, kênh rạch.

* Biển:

Bờ biển cần giờ dài gần 20 km. Biển Cần Giờ rất đặc biệt – biển phù sa vì

thành phần chủ yếu là đất bùn sét. Ở đây cư dân có thể ni trồng thủy hải sản, vừa

có thêm thu nhập, vừa tạo nên được những bãi nghêu cho khách thăm quan và hiểu

thêm được cuộc sống của cư dân địa phương.

* Sơng ngòi, kênh rạch:

Diện tích sơng ngòi, kênh rạch ở Cần Giờ là 22.161 ha, dù cách Thành phố

chỉ khoảng 50 km nhưng vì có hệ thống sông rạch bao quanh, nên Cần Giờ giống

như hòn đảo nhỏ yên tĩnh, tách biệt với sự ồn ào, náo nhiệt của Thành phố. Vì vậy

Cần Giờ rất phù hợp với loại hình du lịch nghỉ dưỡng.

2.2.1.3. Hệ sinh thái ven bờ.

Bờ hồ, sơng, suối…cũng có sức thu hút đối với du lịch sinh thái, Cần Giờ

với hệ thống kênh rạch chằng chịt kết hợp với yếu tố khác như thời tiết, khí hậu,

mặt bằng, cảnh quan…khơng chỉ thích hợp với các buổi dã ngoại, nghỉ ngơi, cắm

trại ngồi trời mà còn tìm hiểu sự sống và hoạt động của hệ động thực vật ven bờ.



30



2.2.2. Tài nguyên nhân văn.

Cần Giờ ngày nay vẫn là một trong năm huyện ngoại thành còn nghèo của

thành phố Hồ Chí Minh. Dù cách thành phố không xa nhưng ở đây mọi thứ dường

như còn thiếu thốn. Tuy nhiên, điều này khơng làm kém đi những nét văn hóa rất

đặc sắc có của người dân Cần Giờ.

Đến với vùng đất này, chúng ta cảm nhận được cuộc sống bình yên, chất phát

của người dân ở đây. Từ những địa danh như Cần Giờ, Tam Thôn Hiệp, Thạnh An,

Thiềng Liềng, vịnh Gành Rái, Giồng Ao,… đều có những câu chuyện, sự tích xa

xưa của nó. Vùng vịnh Gành Rái, Giồng Ao gắn liền với những sự kiện của khởi

nghĩa Tây Sơn, những cuộc chạy trốn của Nguyễn Ánh, cho đến khu căn cứ Rừng

Sát lịch sử là những nơi mang đầy chiến công của người dân Cần Giờ trong kháng

chiến chống mỹ cứu nước.

Đời sống tâm linh của người dân Cần Giờ cũng rất phong phú, đây là nơi tập

hợp của dân tứ xứ, nên trong họ cũng đã mang nhiều tín ngưỡng khác nhau như:

Phật Giáo, Thiên chúa giáo, Cao Đài, tin lành… trong đó, phật giáo và thiên chúa

giáo được truyền bá vào Cần Giờ sớm nhất.

Nhìn chung, mặc dù có nhiều khó khăn, thiếu thốn về mặt vật chất so với các

quận - huyện ngoại thành khác, nhưng Cần Giờ có một nền văn hóa lâu đời với tài

nguyên nhân văn khá phong phú và đa dạng. Cụ thể, tài nguyên nhân văn của Cần

Giờ được chia thành các nhóm sau:

2.2.2.1. Văn hóa truyền thống.

Trong kho báu truyền thống của quá khứ để lại, lễ hội của một dân tộc hay

của một ngành nghề, một vùng là những gì quý giá khơng những khơng bị mai một

mà còn được nhân rộng phát triển cả về hình thức lẫn nội dung. Các lễ hội có sức

hấp dẫn vơ cùng to lớn “đó là những hình ảnh mn màu, mọi sự ở đó đều đan

quyện vào nhau, thiêng liêng và trần tục, nghi lễ và hồn hậu, truyền thống và phóng

khống, trí tuệ và bản năng…”

Lễ hội có nguồn gốc đa dạng và hình thức cũng vậy. Có những lễ hội làm

phục hồi, làm sống lại một cách ngoạn mục về quá khứ hay một nét văn hóa khơng



31



còn nữa. Có những lễ hội mang màu sắc tế lễ (như lễ hội nghinh Ơng), hay mang

tính lịch sử hẳn hoi. Ở Cần Giờ có các lễ hội sau đây:

+ Lễ hội Nghinh Ông:

Hàng năm vào dịp trung tuần tháng 8 âm lịch, cư dân từ các nơi lại lần luợt

đổ về thị trấn Cần Thạnh để dự lễ hội Nghinh Ông. Các vị lão ngư tại thị trấn Cần

Thạnh kể rằng: “Vào cuối thế kỉ 19, nơi đây xảy ra nhiều huyền thoại về cá voi như:

giúp người đi biển vượt qua nhiều tai nạn, từ việc cứu thuyền bị đắm cho đến cứu

người bị nạn đang trơi dạt tìm đường vào bờ thốt chết…. Những huyền thoại này,

làm cho lòng tin và sự biết ơn thành một tín ngưỡng phổ biến khắp vùng biển CG

nói riêng và các miền duyên hải khác nói chung. Bà con lúc bấy giờ đã lập lăng thờ

sau khi một con cá voi bị nạn và chết trơi dạt vào bờ biển CG. Sau đó, bà con xin

triều đình ban sắc thần để thờ.”. Việc tổ chức lễ hội Nghinh Ơng nhân dịp Tết Trung

thu, chính là sự cầu nguyện cho mùa vụ sản xuất ngư nghiệp được bình n và gặp

nhiều may mắn.

+ Ngồi ra, Cần Giờ còn có những lễ hội như: Lý Nhơn cúng đình thần

Dương Văn Hạnh vào 16 tháng 12 âm lịch; Long Hòa tổ chức lễ hội Nghinh Ơng

Thủy Tướng vào ngày 15 tháng 3 âm lịch….

- Những tập quán cổ truyền: CG có tục thờ những vị tiền hiền khai phá đất

hoang, những người yêu nước và thờ cúng tổ tiên.

2.2.2.2. Di tích lịch sử.

Cần Giờ là cửa biển quan trọng bậc nhất chế ngự đường thủy vào đất Gia

Định – Đồng Nai, Gò Cơng, Cần Giuộc; ngay từ cuối thế kỷ 18, Cần Giờ, Đồng

Tranh, Soài Rạp đã được xác lập là những đồn trấn giữ quan trọng cả về mặt thương

nghiệp lẫn quân sự. Vị trí quan trọng của cửa biển Cần Giờ và vùng đất rừng Sác

ngày ngay đã được biết đến do thế mạnh thủy lợi.

Ngồi hệ thống các gò đất đỏ mang dấu ấn di tích khảo cổ có giá trị như

những thơng điệp giúp chúng ta hiểu biết về quá trình hình thành và phát triển của

các cộng đồng dân cư đã từng sinh sống ở vùng này vào thời tiền sử. Cần Giờ còn là

nơi ghi nhận những sự kiện lịch sử rất quan trọng như cuộc thủy chiến của nghĩa



32



quân Tây Sơn chống nhà Nguyễn ở cửa sông Cần Giờ, đặc biệt là trận chiến trên

Thất Kỳ Giang năm 1872, khu rừng Sác, nơi Trương Định, đồn 10 – đặc cơng thủy

quân giải phóng đã chọn làm căn cứ địa chống ngoại xâm suốt hai thời kỳ thực dân

Pháp và đế quốc Mỹ.

Khởi nghĩa của Trương Công Định và ứng nghĩa của người dân Cần Giờ

dưới triều Nguyễn.

Ngay từ cuối năm 1858, nhân dân Cần Giờ đã đắp thành bảo vệ pháo đài tiền

tiêu Phước Thắng, sẵn sàng chiến đấu chống thực dân Pháp. Khi quân Pháp tấn

công đồng bào đã tổ chức thành những đội quân ứng nghĩa. Mặc dù vũ khí thơ sơ

lạc hậu, pháo đài Phước Thắng đã kìm chân quân giặc hơn một ngày và đã đánh

chìm một tàu chiến của giặc trên cửa biển Cần Giờ.

2.2.2.3. Di tích văn hóa tơn giáo – tín ngưỡng.

Cần Giờ có rất nhiều chùa, thánh thất và nhà thờ. Mỗi cơ sở tơn giáo đều có

những đặc điểm riêng.

+ Chùa:

Chùa ở Cần Giờ phần lớn là do dân lập và là những ngôi chùa nhỏ, thấp.

Chùa ở đây thuộc ba phái Lâm Tế có chùa Thạnh Phước là ngơi chùa cổ nhất, còn

gọi là chùa làng. Thuộc phái Tịnh Độ có chùa Hưng Lợi Tự ở xã Thạnh An. Thuộc

phái xuất gia có chùa Hải Đức.

+ Thánh Thất:

Ở Cần Giờ tại các khu dân cư tập trung hầu hết đều có xây dựng Thánh Thất,

như thánh thất Cần Thạnh, thánh thất Long Hòa, thánh thất An Thới Đơng, thánh

thất Thạnh An,… Đây là cơ sở tôn giáo của đạo Cao Đài. Các Thánh Thất ở Cần

Giờ đều có dáng dấp và hình dáng tương đối giống nhau. Biểu tượng thờ của đạo là

lấy Thiên Nhãn. Thực tế, đạo thờ những biểu tượng hòa đồng giữa Phật giáo , Thiên

Chúa Giáo, Khổng Tử, Lão Tử, vì vậy đạo còn được gọi với tên là đạo đại Tam Kỳ

Phổ Độ.

+ Nhà thờ:



33



Nhìn chung các nhà thờ ở Cần Giờ tương đối nhỏ và có rất ít tín đồ. Hình

thành vào khoảng thế kỷ 19, một số người đạo Thiên Chúa ở nơi khác đã đến Cần

Giờ. Nhà thờ đầu tiên được xây dựng tại Thạnh Thới vào khoảng năm 1871 – 1880.

Về sau còn có một số nhà thờ ở Đồng Hòa (xây dựng năm 1900), nhà thờ An Thới

Đông (xây dựng năm 1930), nhà thờ Cần Thạnh (xây dựng năm 1971), nhà thờ Tam

thơn Hiệp (xây dựng năm 1972)

+ Đình:

Huyện Cần Giờ có tất cả 7 ngơi đình. Đình là nơi thờ Thần. Người Cần Giờ

có tập tục thờ những người có cơng khai khẩn đất hoang, những người tổ chức và

bảo vệ cuộc sống yên ổn cho dân làng như chống thú dữ, vì quốc vong thân…

những vị này được người dân ở đây tôn thờ thành những vị thần làng.

+ Miễu:

Ở Cần Giờ có rất nhiều miễu như So Đũa, miễu Nhất, miễu Nhị, miễu Đá

Giăng, miễu Bình Khánh, miễu Lý Nhơn, miễu Thạnh An, miễu Tam Thôn Hiệp.

Miễu là nơi thờ Bà như bà Phấn, bà Chúa Xứ, bà Thủy Long Công Chúa và phần

lớn là thờ bà Ngũ Hành (Kim, Mộc, Thủy, Hoả, Thổ). Riêng chỉ có miễu Ba là vừa

thờ bà, vừa thờ Thần.

Các miễu được xây dựng đều có quy mơ với kiến trúc cổ xưa và hầu hết

được di dời nhiều lần (như miễu So Đũa, miễu Nhất). Tùy theo từng làng và làng

chài, làng rừng hay làng muối mà bà Thánh Thất được thờ khác nhau. Ngôi miễu

được lập làm nơi lui tới cầu xin bà Thánh phù hộ cho người dân ở đó. Ngồi ra,

trong thời kỳ chiến tranh, nhiều ngơi miễu là nơi ni dưỡng Cách mạng

+ Lăng:

Cần Giờ có hai lăng ơng. Lăng ơng ở Cần Thạnh còn gọi là Thạnh Phước

Lạch và lăng ông ở Thạnh An. Lăng ông là nơi thờ bộ xương cá voi mà đã được ngư

dân sùng bái, tơn kính và tin tưởng bái gọi là thần Nam Hải hay Nam Hải Đại

Tướng Quân, là vị thần che chở cho người dân đi trên biển và phù hộ cho họ có

những mùa cá bội thu, no ấm và giàu có…



34



Lăng ơng là điểm thăm quan lý thú cho khách trong nước và quốc tế, đặc biệt

là trong ngày lễ hội, giúp du khách biết được nét tín ngưỡng đặc thù của ngư dân

miền biển.

Ngồi ra, còn có các cơ sở tín ngưỡng khác nhau như: Dinh Ơng Phước thờ

bà Thủy và ơng Phước, lễ vào ngày rằm tháng 5 và rằm tháng 3. Các cơ sở tín

ngưỡng ở Cần Giờ hết sức phong phú và tương truyền là rất linh thiêng.

Các cơng trình tơn giáo, tín ngưỡng ở Cần Giờ có qui mơ khơng lớn, các

cơng trình có kiến trúc cổ xưa. Tuy giá trị kiến trúc khơng cao nhưng mang giá trị

văn hóa sâu sắc. Đây là nơi thể hiện niềm tin yêu cuộc sống, lòng biết ơn đối với

các bậc hiền thân, thể hiện tinh thần của dân tộc Việt Nam, đó là truyền thống uống

nước nhớ nguồn, tinh thần tranh đấu ngoan cường chống giặc ngoại xâm và niềm

khát khao chinh phục tự nhiên.

2.2.2.4. Di tích văn hóa khảo cổ.

+ Nhóm di tích giồng Am: nằm ở Cần Thạnh cách UBND huyện 200m về

hướng Nam. Những năm gần đây, do việc đắp đường nối liền tuyến Nhà Bè – CG,

nên giồng Am đã bị phá hủy một phần. Hiện di chỉ khảo cổ này có trên 6.289 hiện

vật, chất liệu hiện vật được làm duy nhất từ đất nung.

+ Nhóm di tích giồng Phệt: Tọa tạc trên một giồng đất đỏ thuộc xã Long

Hòa, diện tích của giồng khoảng 10.000 m2, di tích này cao hơn mực nước biển 1 –

2 m, nằm giữa rừng ngập mặn um tùm, nhiều luồng lạch.

+ Nhóm di tích giồng Cá Vồ: Diện tích khoảng 7.000 m2 nằm ở tả ngạn sơng

Hà Thanh (Long Hòa), đây là di tích có quy mơ khá lớn và khá nguyên vẹn. Năm

1993, một hố thám sát đã được mở ở phía Bắc của giồng, phát hiện 38 mộ chum (23

mộ còn cốt) bằng gốm và nhiều đồ trang sức cũng làm từ gốm.

2.2.2.5. Các làng nghề.

+ Làng chiếu: Làng này nằm ở xã Tam Thôn Hiệp, nguyên liệu làm chiếu là

những cây cói tròn, mọc tự nhiên hay được trồng trên những cánh đồng gần đấy.

Hiện làng còn khơng tới 10 hộ dệt chiếu, họ bỏ nghề vì nhiều lý do: đi làm ăn xa,

đào ao nuôi tôm làm mất diện tích đất trồng cói



35



+ Làng chài (xóm lưới): Tập trung ở bến chài Cần Thạnh, Long Hòa, Thạnh

An hay các bến đò nơi có tàu, thuyền, ghe, xuồng đánh bắt cá trở về mỗi khi sáng

sớm hay chiều tối.

+ Làng muối: DK về ấp Tân Điền (Lý Nhơn), gần khu DL Vàm Sát, hay

đường từ Đảo Khỉ ra bãi biển 30/4 thuộc xã Long Hòa, vào mùa khơ sẽ bắt gặp hai

bên đường những ruộng muối trắng xóa. Đặc biệt, hạt muối xã Lý Nhơn vươn cánh

bay xa ra cả nước và xuất khẩu qua EU. Làng muối cần khẩn trương cải tạo, nâng

cấp… không chỉ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng muối mà còn làm cho nghề

muối trở thành điểm đến cho DK.

+ Làng rừng: gồm những hộ làm nghề rừng (trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng), tập

trung ở Tam Thôn Hiệp, An Thới Đông và Lý Nhơn.

Những làng nghề cần được giữ ghìn, tơn tạo, phát triển, vì đó là một trong

những lý do DK đến tham quan hay muốn tìm hiểu về Cần Giờ.

2.3. Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch.

2.3.1. Cơ sở lưu trú.

Tính đến cuối năm 2012, tồn huyện có 25 đơn vị kinh doanh cơ sở lưu trú

với 432 phòng (có 2 cơ sở được cơng nhận là khách sạn 3 sao: resort Cần Giờ và

resort Hòn Ngọc Phương Nam, tổng số 140 phòng).

2.3.2. Hệ thống cơ sở hạ tầng.

Giao thông vận tải:

+ Về đường bộ: Hệ thống đường bộ được cải thiện tương đối, 2/3 diện tích là

đường nhựa số còn lại thuộc về đường đất và đường trãi sỏi, đá. Tuyến đường Rừng

Sác nối phà Bình Khánh với các xã, thị trấn đã hồn thành rộng tới 6 làn xe chạy

góp phần thúc đẩy du lịch sinh thái Cần Giờ phát triển mạnh trong tương lai. Ngồi

ra, Cần Giờ có 2 bến xe bus với 102 xe đang hoạt động, năm 2003 tuyến xe bus Tp.

HCM – Cần Giờ được khai trương.

+ Về đường thủy: Trên địa bàn tồn huyện có 48 phương tiện đường thủy

vận chuyển hành khách, hàng hóa và 41 bến đò nội huyện được bố trí trãi đều trên



36



các xã, thị trấn. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, năng lực phục vụ cho nhu cầu đi

lại của nhân dân và việc vận chuyển hàng hóa mới chỉ đáp ứng được 50%.

- Thông tin liên lạc: Hệ thống thông tin liên lạc hiện nay đã phát triển đến

cấp thôn, xã, cơ quan, nhà nghỉ, khách sạn…; số máy điện thoại bình quân năm

2011 đạt 17 máy/100 dân.

- Điện năng: Cần Giờ đã nhận được mạng điện chung của Tp. HCM, tỷ lệ hộ

dân sử dụng điện lưới quốc gia đạt 92.50% (6/7 xã được kéo lưới điện, trừ xã đảo

Thạnh An).

- Cấp thốt nước và vấn đề mơi trường: Hiện nay, nước ngọt dùng cho sinh

hoạt và sản xuất đã được kết nối với hệ thống cấp nước của thành phố (trừ xã Tam

Thôn Hiệp do nhà máy nước trên địa bàn xã cung cấp).

Nếu như thành phố lớn, hệ thống thốt nước thải và vấn đề bảo vệ mơi

trường ln gặp khó khăn thì ở Cần Giờ việc này càng trở nên nghiêm trọng. Bởi lẽ,

địa hình thấp, sơng rạch dày đặc nên việc thoát nước thải của các khu dân cư cũng

như cơ sở sản xuất được đổ thẳng ra kênh rạch mà không qua xử lý.

- Hệ thống y tế: Hệ thống y tế có nhiều thay đổi, năm 2011 tồn huyện có 10

cơ sở y tế phục vụ khám chữa bệnh cho nhân dân.

2.3.3. Hình thức vui chơi giải trí.

Dịch vụ vui chơi, giải trí ở Cần Giờ khá phong phú với nhiều loại hình như:

thám hiểm rừng, tham quan các khu nhà vườn, cây ăn trái, khu nuôi trồng thủy sản,

dịch vụ câu mực, tôm cá…Đặc biệt có Lễ Hội truyền thống Ngư dân Cần Giờ nhân

dịp Tết Trung thu hàng năm (lượng khách đến với lễ hội này khá đông năm 2012

trên 35.000 người, hầu hết là khách đi tự túc, khơng theo tour). Ngồi ra, còn có các

hoạt động giải trí khác tham quan làng muối, các di tích lịch sử tại huyện.

Tuy phong phú nhưng các dịch vụ này còn khá đơn điệu, doanh nghiệp hoạt

động trong lĩnh vực dịch vụ, du lịch phát triển chưa tương xứng với tiềm năng sẵn

có của huyện các điểm du lịch được khai thác ở dạng tự nhiên chưa có sự đầu tư lớn

thành một quần thể khu vực vui chơi, giải trí; chất lượng phục vụ du lịch còn hạn

chế, chất lượng hoạt động và số lượng các dịch vụ phục vụ còn ở mức trung bình.



37



Sản phẩm du lịch còn đơn điệu, kém hấp dẫn, phương thức kinh doanh du lịch chưa

phong phú, chưa mang tính chuyên nghiệp; các cơ sở lưu trú hoạt động với cơng

suất phòng thấp do chưa có những điểm dịch vụ, du lịch, vui chơi giải trí hấp dẫn

ngay trên địa bàn huyện, để giữ chân du khách.

2.4. Nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển du lịch.

Đội ngũ lao động là một trong những nguồn lực rất quan trọng đối với sự

phát triển phát triển kinh tế nói chung và ngành du lịch nói riêng. Lao động trong

ngành du lịch huyện Cần Giờ đang từng bước cải thiện về chất lượng, tuy nhiên so

với ngành khác thì ngành du lịch vẫn chưa thu hút được nhân tài. Lao động có trình

độ chun mơn khơng cao sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phục vụ của ngành

này.

Năm 2011 số người trong độ tuổi lao động của huyện là 37.528 người. Trong

đó, lao động hoạt động trong ngành nơng nghiệp 2.176 người (chiếm 5.97%), nuôi

trồng thủy hải sản là 13.865 người (chiếm 38.06%), thương mại – dịch vụ là 6.103

người (chiếm 16.75%), còn là các ngành khác. Tỷ trọng lao động trong ngành du

lịch Cần Giờ trong tổng số lao động xã hội là rất thấp.

Hiện tại, huyện chưa có thống kê chính thức về trình độ chun ngành du

lịch, điều này gây khó khăn cho việc đánh giá trình độ chun mơn cũng như năng

lực quản lý của đội ngũ lao động trong lĩnh vực du lịch, gây khó khăn cho ngành du

lịch huyện Cần Giờ trong việc định hướng phát triển nguồn nhân lực phục vụ nhu

cầu phát triển ngành. Trong tương lai để đẩy mạnh thu hút lượng khách quốc tế và

khách du lịch từ các địa phương khác trong nước, huyện Cần Giờ cần thống kê lao

động theo trình độ, nỗ lực hơn nữa trong công tác phối hợp nâng cao chất lượng

nhân lực của ngành này để nâng cao lợi thế cạnh tranh ngành du lịch huyện.

2.5. Thực trạng khai thác du lịch.

2.5.1. Thực trạng khách du lịch tại huyện Cần Giờ.

Bảng 2.2: Số lượng khách DL đến CG từ năm 2007 – 2012

Năm

2007

2008



Lượng khách

272.000

360.000



38



2009

2010

2011

2012



400.000

410.000

457.000

420.000

(Nguồn: UBND huyện Cần Giờ, 2012)



Qua bảng số liệu 2.2 cho thấy, số lượng khách đến CG nhìn chung ngày

càng tăng (chỉ riêng năm 2012 có giảm so với năm 2011). Tốc độ tăng bình quân

gia đoạn 2007 – 2012 là 9,1%.

Đơn vị tính: nghìn người



Biểu đồ 2.1: Số lượng khách đến CG từ năm 2007 – 2012

- Khách trong nước: chủ yếu là học sinh, sinh viên từ Tp. HCM và các khu

vực lân cận do trường hoặc các công ty DL tổ chức. Họ thường đến vào những ngày

cuối tuần hoặc ngày lễ với mục đích tham quan, sinh hoạt dã ngoại hay kết hợp tìm

hiểu hệ sinh thái rừng ngập mặn; Đôi khi DK là cán bộ, cơng nhân viên xí nghiệp,

nhà máy, các gia đình tự đến hay thông qua công ty DL. DK thường đến vào những

ngày lễ, tết, cuối tuần với mục đích tham quan nghỉ ngơi. Một số ít khách là nhà

khoa học trong nước từ các trường đại học, học viện, viện nghiên cứu họ thường đi

theo nhóm hoặc hướng dẫn các sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh đến nghiên cứu

và thực tập tại rừng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

(Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Cần Giờ, 2012)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×