Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hướng dẫn viên du lịch.

Hướng dẫn viên du lịch.

Tải bản đầy đủ - 0trang

19



Chính vì vậy họ cần phải là những người có kiến thức, nắm được đầy đủ

thông tin về môi trường tự nhiên, các đặc điểm sinh thái, văn hóa cộng đồng địa

phương để giới thiệu một cách sinh động nhất, đầy đủ nhất với du khách về những

vấn đề mà họ quan tâm. Bên cạnh đó, các hướng dẫn viên du lịch cũng phải là

người có quan hệ đặc biệt với người dân địa phương nơi tổ chức hoạt động du lịch.

1.2.7.3. Khách du lịch.

Là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, khách du lịch luôn mong muốn

có được một trải nghiệm mang tính tổng thể, các hoạt động như giải trí, thể thao, lễ

hội, thám hiểm, chăm sóc sức khỏe, giáo dục… hay các hoạt động liên quan đến

kinh tế có thể làm giàu kinh nghiệm và vốn hiểu biết cho du khách. Nhu cầu đi du

lịch đang ngày càng tăng cùng với những cải thiện chung về kinh tế, những thuận

lợi về giao thông.

1.2.8. Kinh nghiệm của một số nước về du lịch sinh thái.

1.2.8.1. Kinh nghiệm của Malaysia.

Malaysia đã chấp nhận định nghĩa chính thức về du lịch sinh thái là “hoạt

động du lịch và thăm viếng một cách có trách nhiệm về mặt mơi trường tới những

khu thiên nhiên còn ngun vẹn, nhằm tận hưởng và trân trọng các giá trị thiên

nhiên, mà hoạt động này sẽ thúc đẩy công tác bảo tồn, có ảnh hưởng của du khách

khơng lớn,và tạo điều kiện cho dân chúng địa phương tham dự một cách tích cực có

lợi về xã hội và kinh tế”. Du lịch sinh thái tại Malaysia xoay quanh các nội dung

chính sau:

* Củng cố các cơ chế tham gia liên ngành, xây dựng trên cơ sở sức mạnh và

các thể chế hiện có:

- Các cơ quan chun mơn như Hiệp hội du lịch Châu Á Thái Bình Dương

(PATA), Hiệp hội các Hãng du lịch lữ hành Malaysia, các hãng du lịch, cần được

tham gia đầy đủ vào quá trình phát triển du lịch sinh thái.

- Cần thiết lập hệ thống gồm các cơ quan quốc gia và bang để có thể giám

sát và chứng nhận tiêu chuẩn, cung cấp thông tin và huấn luyện đào tạo, tiến hành

nghiên cứu và điều phối hoạt động du lịch sinh thái.



20



- Du lịch sinh thái cần dựa trên một hệ các hướng dẫn và các điển hình tốt

do mọi ban ngành đồng ý đưa ra và những nội dung này cần phải dễ dàng tiếp cận.

* Cần có sự nhất quán hơn giữa các bang về mặt quản lý hành chính và

pháp luật tại các điểm du lịch sinh thái.

- Nghiên cứu các văn bản pháp quy khác nhau của các bang để xem xét mối

liên quan của chúng tới phát triển du lịch và quản lý bảo tồn như thế nào, từ đó có

thể xác định được các khuôn khổ chung. Dựa trên khuôn khổ pháp lý đó, xây dựng

một cách tiếp cận chung đối với các cơ quan quản lý.

- Cần có sự nhất quán trong việc xác định, phát triển và quản lý các điểm du

lịch sinh thái.

* Các hoạt động du lịch sinh thái cũng như các tuyến cần được xác định và

khuyến khích.

- Các tuyến du lịch cần bao gồm các điểm du lịch được phân bổ hợp lý song

phải ln nghi nhớ các ý thích đặc biệt của du khách để tránh một tour trọn gói quá

tạp nham,

- Phạm vi cho du lịch sinh thái cần được xây dựng trên diện tích rộng cho

các chủ đề hẹp đã được xác định.

* Đối với mỗi điểm cần xây dựng kịp thời các khái niệm về sức chứa và

những giới hạn của sự biến đổi có thể chấp nhận được, ưu tiên những điểm nổi tiếng

và những điểm có tầm quan trọng về kinh tế và môi trường.

- Mức độ sức chứa cần được quy định cho mỗi điểm du lịch sinh thái, và

chúng cần được gắn kết với các hướng dẫn hoạt động du lịch tại mỗi điểm.

- Du lịch sinh thái tại mỗi điểm cần dựa trên khái niệm về khoanh vùng,

trong đó có những vùng được sử dụng với cường độ cao, vùng sử dụng với cường

độ thấp và có những vùng khơng được vào để bảo tồn và nghiên cứu.

* Các chiến lược tiếp thị và khuyến mãi cần được xây dựng ở các cấp địa

phương, quốc gia và quốc tế:

- Các chiến lược tiếp thị cần nêu bật các chủ đề cụ thể của du lịch sinh thái,

như leo núi, lịch sử, kiến trúc,…



21



- Thông tin cần chính xác, tận dụng kỹ năng và kiến thức của các chuyên gia

trong và ngoài ngành du lịch.

- Tăng cường sử dụng Internet, thư điện tử, và các hình thức trao đổi thông

tin điện tử khác để chuyển tải thông tin quảng cáo, tiếp thị;

- Tăng cường số lượng và chất lượng các thông tin ở dạng ấn phẩm như tạp

chí, sách chun mơn, sách hướng dẫn, các danh mục tra cứu, các bản đồ.

- Quảng cáo và khuyến mãi cho du lịch sinh thái cần tập trung nhiều vào cơ

quan chuyên môn như các hiệp hội chuyên ngành, các nhóm cùng sở thích và các

nhóm có cùng mối quan tâm đặc biệt, cả ở địa phương cũng như trên trường quốc

tế.

* Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng dân địa phương vào những hoạt

động kinh tế xã hội trong và xung quanh các điểm du lịch sinh thái, và cần tạo ra

các khuyến khích vật chất cho các doanh nghiệp du lịch.

- Các cấp địa phương, các đơn vị đào tạo kinh doanh du lịch cần nâng cao

năng lực của cộng đồng địa phương để họ tham gia vào du lịch sinh thái bền vững.

- Chương trình huấn luyện về du lịch sinh thái tại cấp địa phương cần được

xây dựng phù hợp với các điểm du lịch sinh thái cụ thể.

* Giảm thiểu các tác động bất lợi đến mơi trường, văn hóa và xã hội.

- Cộng đồng địa phương cần được lôi cuốn về mặt kinh tế vào sự phát triển

du lịch sinh thái.

- Các cơ sở thiết bị mới cho du lịch và du lịch sinh thái cần được dùng như

là một cơ hội đề nâng cấp các dịch vụ cho cộng đồng địa phương.

- Việc nâng cấp chứng nhận và giám sát các sản phẩm du lịch cần được sử

dụng như một công cụ quản lý các rủi ro có liên quan đến các tác động văn hóa và

xã hội.

* Đào tạo nguồn nhân lực trở thành chủ đề chính trong du lịch sinh thái.

* Cần có cơ chế giám sát và đánh giá sự tiến bộ trong quá trình phát triển du

lịch sinh thái.



22



- Giám sát và đánh giá cần phải dựa trên sự đồng tâm nhất trí giữa quần

chúng và khối tư nhân.

- Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ và khối tư nhân cần tìm ra một số cơ

sở chung để từ đó giải quyết các vấn đề về tiêu chuẩn, cấp giấy chứng nhận, phát

triển sản phẩm và sự tiến bộ trong du lịch sinh thái.

1.2.8.2. Kinh nghiệm của Thái Lan.

* Phát triển du lịch sinh thái cộng đồng: Khái niệm du lịch sinh thái cộng

đồng đã được sử dụng để đề cao sự tham gia của người dân địa phương vào việc

phát triển và quản lý du lịch sinh thái. Nếu khơng có sự tham gia của người dân địa

phương thì việc kiểm sốt và sử dụng tại nguyên rất khó khăn. Sự tham gia của

người dân địa phương vào việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và trực tiếp khuyến

khích người địa phương tìm các phương thức để quản lý các nguồn của mình vì lợi

ích của mình hơn là cho người ngồi tất cả lợi ích và lợi thế.

Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng ngày càng được quan tâm ở Thái Lan

được coi như là một hình thức du lịch bền vững được ưa thích vì những lý do sau:

- Những người biết bảo tồn môi trường và nguồn tài nguyên thiên nhiên

mong muốn có được loại hoạt động du lịch có tác động ảnh hưởng đến môi trường

thấp.

- Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng được sử dụng như là một mối liên kết

hữu hiệu giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển cộng đồng.

- Du khách mong muốn biết, có kiến thức về bản địa, lối sống, văn hóa, các

hệ thống quản lý tài nguyên thiên nhiên qua kinh nghệm đích thực từ người dân địa

phương hơn là hướng dẫn viên du lịch.



Tóm tắt chương 1:

Qua nghiên cứu Chương I ta thấy:



23



- Xây dựng chiến lược phải đảm bảo tuân thủ các bước nêu trên, phải xác

định được mục tiêu dài hạn, đảm bảo về nguồn lực, các chính sách cần thiết để thực

hiện mục tiêu đó.

- Để hình thành nên chiến lược, tổ chức phải phân tích kỹ tác động của

môi trường bên trong và môi trường bên ngồi của tổ chức mình, nhận dạng được

các mặt mạnh, mặt yếu, các cơ hội và nguy cơ mà tổ chức đang phải đối mặt, qua

đó giúp hình thành các phương án chiến lược một cách cụ thể và hiệu quả, phù hợp

với điều kiện của tổ chức mình, phát huy những điểm mạnh và khắc phục những

điểm yếu để hình thành nên những chiến lược tốt nhất.

- Việc lựa chọn chiến lược phải phù hợp với mục tiêu và định hướng chung

của nhà nước và đặc thù của từng địa phương.



CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TẠI CẦN GIỜ.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hướng dẫn viên du lịch.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×