Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Các nghiên cứu về lưu hành PCV2 trước đây chủ yếu được thực hiện tại

một vùng miền nhất định. Ở miền Nam, mẫu được lấy tập trung tại thành phố Hồ

Chí Minh và các tỉnh phụ cận ở miền Nam (Nguyễn Thị Thu Hồng và cs., 2006;

Lâm Thị Thu Hương và cs, 2005; Lê Tiến Dũng, 2006; Lê Thị Thu Phương và cs,

2018). Ở miền Trung, mẫu được lấy tại tỉnh Nghệ An (Phạm Hoàng Sơn Hưng

và cs., 2018). Ở miền Bắc, mẫu được lấy tại Hà Nội, Hải Dương, Bắc Ninh, Hải

Phòng, Thái Bình.... (Huỳnh Thị Mỹ Lệ và cs, 2012; Bùi Trần Anh Đào và cs.

2015). Với phạm vi thu thập mẫu đại diện cho 3 miền, nghiên cứu này sẽ làm đầy

đủ hơn thông tin về sự phân bố PCV2 ở Việt Nam.

Kết quả xác định tỷ lệ lưu hành PCV2 ở lợn nuôi tại 14 tỉnh đại diện cho ba

miền Bắc – Trung – Nam được trình bày ở bảng 4.1.

Bảng 4.1. Kết quả xác định sự có mặt của PCV2 từ các địa phương

TT



Tỉnh



Số mẫu xét

nghiệm



Số mẫu

dương tính



Tỷ lệ (%) dương tính

(95%CI)



1



Bắc Ninh



25



8



32,00 (14,95 – 53,50)



2



Hải Dương



25



6



24,00 (9,36 – 45,13)



3



Hòa Bình



25



10



40,00 (21,13 – 61,33)



4



Hà Nội



25



22



88,00 (68,78 – 97,45)



5



Hải Phòng



25



4



16,00 (4,54 – 36,08)



6



Hưng Yên



25



8



32,00 (14,95 – 53,50)



7



Thái Nguyên



25



5



20,00 (6,83 – 40,70)



8



Hà Tĩnh



25



13



52,00 (31,31 – 72,20)



9



Quảng Trị



25



14



56,00 (34,93 – 75,60)



10



Thừa Thiên Huế



25



9



36,00 (17,97 – 57,48)



11



Quảng Nam



25



13



52,00 (31,31 – 72,20)



12



Bình Dương



25



11



44,00 (24,40 – 65,07)



13



Tiền Giang



25



14



56,00 (34,93 – 75,60)



14



Vĩnh Long



25



7



28,00 (12,07 – 49,39)



350



144



41,14



Tổng hợp



47



Kết quả nghiên cứu chỉ ra PCV2 lưu hành ở tất cả các tỉnh nghiên cứu

(14/14). Tỷ lệ lưu hành PCV2 ở Việt Nam trung bình 41,14%, với khoảng biến

động rộng, từ 16% - 88%. Tỷ lệ mẫu kiểm tra dương tính với PCV2 cao nhất ở

Hà Nội là 88% (dao động từ 68,78 – 97,45% ở độ tin cậy 95%), thấp nhất ở Hải

Phòng là 16% (dao động từ 4,54 – 36,08% ở độ tin cậy 95%), các tỉnh còn lại

có tỷ lệ dương tính với PCV2 như sau: Bắc Ninh là 32% (dao động từ 14,95 –

53,50% ở độ tin cậy 95%), Hải Dương là 24% (dao động từ 9,36 – 45,13% ở độ

tin cậy 95%), Hòa Bình là 40% (dao động từ 21,13 – 61,33% ở độ tin cậy 95%),

Hưng Yên là 32% (dao động từ 14,95 – 53,50% ở độ tin cậy 95%), Thái

Nguyên là 20% (dao động từ 6,83 – 40,70% ở độ tin cậy 95%), Hà Tĩnh là 52%

(dao động từ 31,31 – 72,20% ở độ tin cậy 95%), Quảng Trị là 56% (dao động từ

34,93 – 75,60% ở độ tin cậy 95%), Thừa Thiên Huế là 36% (dao động từ 17,97

– 57,48 ở độ tin cậy 95%), Quảng Nam là 52% (dao động từ 31,31 – 72,20% ở

độ tin cậy 95%), Bình Dương là 44% (dao động từ 24,40 – 65,07% ở độ tin cậy

95%), Tiền Giang là 56% (dao động từ 34,93 – 75,60% ở độ tin cậy 95%) và

Vĩnh Long là 28% (dao động từ 12,07 – 49,39% ở độ tin cậy 95%).

So với một số nghiên cứu trước đây tại Việt Nam bằng phương pháp PCR phát

hiện PCV2 trong các mẫu bệnh phẩm của lợn cho thấy tỷ lệ dương tính PCV2 ở các

khu vực khác nhau là khác nhau. Lê Tiến Dũng (2006) khảo sát trên địa bàn thành

phố Hồ Chí Minh cho biết bằng kỹ thuật PCR đã phát hiện 50,77% (33/65) mẫu lợn

còi dương tính với PCV2 ở 5/6 địa bàn lấy mẫu; Lâm Thị Thu Hương và cs. (2005)

khi xét nghiệm hạch bẹn của 36 lợn còi cọc thì có 47,22% mẫu dương tính, Nguyễn

Thị Thu Hồng và cs. (2008) lại chỉ xác định được 4 trong tổng số 14 mẫu bệnh

phẩm dương tính, chiếm tỷ lệ 28,57%. Kết quả khảo sát của Lam Thu Huong et

al. (2006) tại một số trại lợn cơng nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh và vùng

phụ cận cho biết tỷ lệ nhiễm PCV2 ở lợn có triệu chứng mắc PMWS là

77,78% (7 trại nhiễm/9 trại khảo sát); Lê Tiến Dũng (2006) khảo sát trên địa

bàn thành phố Hồ Chí Minh sử dụng kỹ thuật PCR cho kết quả 17/22

(77,27%) trại khác nhau của 5/6 địa bàn lấy mẫu bệnh phẩm lợn xét nghiệm

dương tính với PCV2. Kết quả công bố của Nguyễn Thị Thu Hồng và cs.

(2008) cũng cho kết quả tương tự PCV2 có mặt ở 5/6 tỉnh thành phía Nam.

Cùng với kết quả của các nghiên cứu khác, có thể khẳng định PCV2 lưu hành rất

48



phổ biến ở Việt Nam (có mặt ở khắp 3 miền Bắc- Trung- Nam), với tỷ lệ PCV2

lưu hành là 41,14%.



Hình 4.2. Tỷ lệ dương tính với PCV2 tại các địa phương thu mẫu

Ở một số nước Châu Á đã có rất nhiều cơng trình nghiên cứu sử dụng

phương pháp PCR xác định sự lưu hành của PCV2 ở đàn lợn nuôi như tại

Nhật Bản, kết quả nghiên cứu 312 mẫu lợn từ 30 – 120 ngày tuổi thu thập

được của 56 trại có triệu chứng còi cọc, tỷ lệ dương tính PCV2 rất cao, theo

49



đàn là 96,4% và theo cá thể là 85,3% (Hinton, 2003). Tại Triết Giang, Trung

Quốc kết quả theo dõi trung bình từ năm 2003 đến 2007 có tỷ lệ dương tính

PCV2 theo đàn và theo cá thể lần lượt là 55,05% và 49,06%; đặc biệt giai

đoạn từ 2006 – 2007 các tỷ lệ này tương ứng là 69,23% và 57,14%, đã tăng rõ

rệt so với một số năm trước như 2005 (tương ứng là 65,63% và 55,10%), năm

2003 - 2004 (tương ứng là 32,26% và 35,19%) với P<0,01 (Shuai et al., 2007).

Tại Malaysia, kết quả nghiên cứu của Jaganathan et al. (2011) khi sử dụng kỹ

thuật nested PCR cũng cho biết có đến 80% số trại lợn dương tính với PCV2.

Tại Thái Lan, Jantafong et al. (2011) khi kiểm tra 70 mẫu phân và 70 mẫu

máu của lợn mắc PMWS thì tỷ lệ PCV2 dương tính lần lượt là 50% và 57,14%.

So với các kết quả nghiên cứu nêu trên thì kết quả nghiên cứu này của chúng

tơi thấp hơn, điều này có thể được giải thích rằng một trong các nguyên nhân dẫn

đến kết quả của sự sai khác này là do nguồn mẫu lấy từ các địa phương khác nhau

và các mẫu lấy nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện lấy ngẫu nhiên cả ở trên

lợn khỏe mạnh và lợn có triệu chứng bệnh do PCV2, đồng thời liên quan đến một

số điều kiện thực tế như các điểm giết mổ tập trung, vận chuyển lợn, công tác vệ

sinh thú y giữa các địa phương, cùng với việc gây dựng đàn mới khơng kiểm sốt

có thể là ngun nhân làm cho PCV2 lây lan và do ảnh hưởng của một số dịch

bệnh liên quan lưu hành ở lợn làm cho sức đề kháng của lợn giảm sẽ làm tăng sự

nhân lên của PCV2.

Ở một khía cạnh khác, một số nghiên cứu đánh giá về tỷ lệ lưu hành PCV2

qua đánh giá về kết quả dương tính kháng thể khi kiểm tra huyết thanh bằng phản

ứng ELISA cho thấy tỷ lệ cao hơn đáng kể khi sử dụng kỹ thuật PCR để phát hiện

PCV2 trong huyết thanh.

Một số nghiên cứu trên thế giới khi sử dụng phản ứng ELISA cho thấy tỷ lệ

lợn có kháng thể kháng PCV2 trong huyết thanh rất cao như ở một số vùng thuộc

Châu Âu, Mỹ và Canada là 100% đàn và gần 100% mẫu (Allan et al., 2000;

Cadar et al., 2009; Cotrell et al., 1999). Tỷ lệ huyết thanh dương tính kháng thể

kháng PCV2 ở Tây Ban Nha là 72,7% (Rodríguez - Arrioja et al., 2003). Tại

Triết Giang, Trung Quốc là 100% đàn và 58,34% mẫu kiểm tra (Zhou et al.,

2006); 90,2% mẫu (Chen et al., 2007); ở Mỹ là 94% năm 2006 (Gillespie et al.,



50



2009). Tỷ lệ huyết thanh dương tính với kháng thể kháng PCV2 thay đổi giữa các

nước có thể do đối tượng lấy mẫu khác nhau sẽ chịu ảnh hưởng sự khác biệt về

quy mô chăn nuôi, giống, lứa tuổi và đặc biệt là sự đồng nhiễm một số bệnh

truyền nhiễm khác ở lợn.

Ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Lam Thu Huong et al. (2006) tại thành

phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ huyết thanh dương tính với PCV2 rất biến động từ 12,5 –

83,33%; Nguyễn Thị Thu Hồng và cs. (2006) khảo sát 988 mẫu huyết thanh của

lợn nái và lợn thịt ở một số tỉnh phía Nam cho biết PCV2 xuất hiện ở Việt Nam ít

nhất từ năm 2000 và tỷ lệ nhiễm tăng dần: 38,97% năm 2000; 84,90% năm 2003;

90,26% năm 2005 và 96,47% năm 2006. Huỳnh Thị Mỹ Lệ và cs. (2012a) thực

hiện tại một số trại lợn thuộc 4 tỉnh gồm Hà Nội, Hòa Bình, Bắc Giang và Hải

Dương cũng cho thấy 43/48 (89,58%) trại được điều tra cho kết quả huyết thanh

học dương tính với PCV2; Nguyễn Viết Không và cs. (2013) chỉ ra tỷ lệ dương

tính huyết thanh học trung bình ở các đàn nhiễm PCV2, khu vực chăn nuôi nông

hộ và trang trại là 22,19%, thấp hơn tỷ lệ nhiễm ở các điểm giết mổ (51,81%).

Điều này được giải thích đây có thể là kháng thể thụ động hoặc do ảnh

hưởng của thời gian nhiễm nên virus khơng còn tồn tại trong máu, vì vậy khơng

phát hiện được khi tiến hành xét nghiệm bằng kỹ thuật realtime PCR. Tuy nhiên,

với kết quả kiểm tra sự hiện diện của PCV2 trong bệnh phẩm của lợn có triệu

chứng của PCVAD như đã trình bày ở trên cho phép khẳng định sự lưu hành của

PCV2 ở đàn lợn nuôi tại 14 tỉnh.

Trong thực tế, lợn khỏe mạnh hoặc lợn có triệu chứng bệnh do PCV2 đều có

thể bị nhiễm PCV2 tại một thời điểm nào đó trong q trình sống, vì vậy có thể lợn

khỏe cũng cho kết quả PCR dương tính. Tomás et al. (2008) cho rằng PCV2 là

điều kiện cần, cùng với các tác nhân gây nhiễm khác và điều kiện ngoại cảnh để

gây thành bệnh PCVAD; khi chẩn đoán cần phải kết hợp giữa kết quả PCR và biểu

hiện triệu chứng của lợn để khẳng định, Jantafong et al. (2011) khi kiểm tra 70

mẫu máu của lợn khỏe mạnh không phát hiện được trường hợp nào dương tính

nhưng với 70 mẫu lấy từ lợn có triệu chứng PMWS thì 57,14% mẫu dương tính.

Gillespie et al. (2009) chỉ ra chứng minh sự có mặt của PCV2 trong phủ tạng của

lợn rất có ý nghĩa trong chẩn đoán PCVAD.



51



Như vậy, kết quả xác định tỷ lệ lưu hành PCV2 ở Việt Nam góp phần khẳng

định sự phổ biến của PCV2 ở hầu hết các nước chăn nuôi lợn trên thế giới, kết

quả này gợi mở cho nhiều hướng nghiên cứu tiếp theo về PCVAD.

4.1.2. Kết quả xác định sự lưu hành PCV2 theo quy mơ chăn ni

Nhằm mục tìm hiểu sự lưu hành của PCV2 ở các cơ sở chăn nuôi lợn với

quy mô khác nhau, căn cứ các quy mô đàn lợn ở các cơ sở ni trong q trình

thu mẫu thực tế, chúng tôi thực hiện đánh giá trên 4 quy mô đàn là <100 con,

100-300 con, 300-500 con và >500 con. Kết quả xác định tỷ lệ lưu hành PCV2 ở

từng quy mơ đàn được trình bày ở bảng 4.2.

Bảng 4.2. Tỷ lệ lưu hành PCV2 ở đàn lợn theo các quy mô khác nhau trên

địa bàn nghiên cứu

TT



Quy mô đàn

(con)



Tổng số mẫu

kiểm tra



Số mẫu

dương tính



Tỷ lệ (%) dương tính

(95%CI)



1



<100 con



110



46



41,82 (32,48 – 51,61)



2



100 - 300



62



17



27,42 (16,85 – 40,23)



3



300 - 500



98



43



43,88 (33,87 – 54,27)



4



>500



80



38



47,50 (36,21 – 58,98)



Tổng hợp



350



144



41,14



Trong quá trình thực hiện lấy mẫu bệnh phẩm lợn tại các tỉnh nghiên cứu,

chúng tơi chỉ ghi nhận thấy có hai quy mơ chăn nuôi chủ yếu tại các cơ sở

chăn nuôi lợn bao gồm chăn nuôi hộ cá thể (chăn nuôi hộ nhỏ lẻ với số lượng

lợn không lớn, công tác chăm sóc, vệ sinh thú y khơng được đảm bảo) và chăn

nuôi công nghiệp (theo quy mô trang trại). Ở các đàn lợn ni có quy mơ khác

nhau thì tỷ lệ dương tính với PCV2 khác nhau, cụ thể những đàn lợn có quy

mơ lớn hơn 500 con thì tỷ lệ dương tính trung bình là 47,50% (dao động từ

36,21-58,98% ở độ tin cậy 95%), tỷ lệ dương tính trung bình thấp nhất ở đàn

lợn có quy mơ 100-300 con là 27,42% (dao động từ 16,85-40,23% ở độ tin

cậy 95%). Ở những trại có mức quy mơ đàn phổ biến từ 300-500 con và nhỏ

hơn 100 con thì tỷ lệ lưu hành PCV2 khá cao, lần lượt trung bình là 43,88%

(dao động từ 33,87-54,27% ở độ tin cậy 95%) và 41,82% (dao động từ 32,4852



51,61% ở độ tin cậy 95%). Tuy tỷ lệ dương tính với PCV2 giữa các quy mơ

đàn có vẻ khác nhau lớn (47, 5% ở quy mơ >500 con so với 41,82% ở quy mô

<100 con, 27,42% ở quy mô 100-300 con và 43,88% ở quy mô 300-500 con),

nhưng kiểm định χ2 cho biết trên phương diện thống kê, các tỷ lệ này khơng có ý

nghĩa thống kê vì trị số p = 0,4085 > 0,05.

Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Segalés (2009) ở quy mô trại

với trên 400 nái là một trong các nguy cơ làm tăng tỷ lệ lợn mắc bệnh do

circovirus. Nghiên cứu của (Gillespie et al., 2009) cho biết đến năm 2006 tỷ lệ

mắc PCV2 đã tăng lên rất nhiều ở các trại có quy mơ khác nhau, lần lượt là 21,5%;

12,5% và 39,6% (ở lợn cai sữa) và 25%; 35,4%; 59,9% (ở lợn thịt và lợn vỗ béo).

Như vậy, quy mơ chăn ni có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển và lưu

hành bệnh do PCV2 ở lợn ni. Mặc dù kết quả kiểm tra mẫu dương tính với

PCV2 chưa đủ để khẳng định sự lưu hành của PCVAD trong đàn nhưng đây là

điều kiện cần để bệnh phát sinh và lây lan do đó cơng tác quản lý đàn, cơng

tác phòng bệnh rất cần được quan tâm trong ngành chăn nuôi lợn.

4.1.3. Kết quả xác định tỷ lệ lưu hành PCV2 ở đàn lợn thuộc các lứa tuổi

Nhằm mục đích đánh giá các giai đoạn phát triển của lợn có ảnh hưởng lớn

đến sự lưu hành bệnh do PCV2 ở lợn nuôi tại 14 tỉnh nghiên cứu, chúng tôi đã

tiến hành đánh giá tỷ lệ mẫu dương tính PCV2 ở các lứa tuổi lợn bao gồm: lợn

nái, lợn thịt và lợn con theo mẹ. Kết quả xác định tỷ lệ lưu hành PCV2 ở đàn lợn

theo từng lứa tuổi được trình bày ở bảng 4.3.

Bảng 4.3. Kết quả xác định tỷ lệ lưu hành PCV2 ở các lứa tuổi lợn

TT



Nguồn gốc mẫu



Tổng số mẫu



Số mẫu



Tỷ lệ (%) dương tính



kiểm tra



dương tính



(95%CI)



1



Lợn con theo mẹ



96



38



39,58 (29,75 – 50,08)



2



Lợn thịt



186



84



45,16 (37,87 – 52,61)



3



Lợn nái



68



22



32,35 (21,51 – 44,79)



350



144



41,14



Tổng hợp



53



Mẫu bệnh phẩm lợn dương tính với PCV2 ở bất cứ nhóm tuổi nào, tỷ lệ

dương tính thấp nhất là lợn nái đạt 32,35% (dao động từ 21,51-44,79% ở độ tin

cậy 95%); thấp hơn so với hai lứa tuổi lợn con theo mẹ và lợn thịt lần lượt là

39,58% (dao động từ 29,75-50,08% ở độ tin cậy 95%) và 45,16% (dao động từ

37,87-52,61% ở độ tin cậy 95%). Tuy tỷ lệ dương tính với PCV2 ở các lứa tuổi

lợn có vẻ khác nhau lớn (45,16% ở lợn thịt so với 39,58% ở lợn con theo mẹ và

32,35% ở lợn nái) nhưng kiểm định χ2 cho biết trên phương diện thống kê, các tỷ

lệ này khơng khác nhau vì trị số p = 0,4704 > 0,05.

Kết quả của nghiên cứu này phù hợp với nghiên cứu của Lâm Thị Thu

Hương và cs. (2005) cho thấy tỷ lệ nhiễm PCV2 ở nhóm tuổi 8-12 tuần tuổi

(80,88%), kế đến nhóm 4-7 tuần tuổi (56,79%) và thấp nhất là nhóm trên 12 tuần

tuổi (42,86%). Theo Lê Tiến Dũng (2006) nhóm lợn từ 8-12 tuần tuổi có biểu hiện

còi do PCV2 chiếm tỷ lệ cao nhất (65,79%), kế đến là nhóm lợn 6-8 tuần tuổi

(33,33%), nhóm lợn trên 12 tuần tuổi (31,25%). Opriessnig et al. (2005) cũng cho

rằng hội chứng PMWS thường gặp ở lợn từ 5-18 tuần tuổi nhưng tập trung chủ yếu

là 6-10 tuần tuổi.

Kết quả công bố của Kathleen et al. (2008) sử dụng phản ứng PCR cũng

cho thấy có thể có mối liên hệ giữa sự hiện diện của PCV2 trong phân lợn nái

cho con bú và tăng PCV-2 ở lợn con và đối với hầu hết các giai đoạn sản xuất, có

thể phát hiện được DNA của virus trong tất cả hoặc gần như tất cả các mẫu phân.

Allan et al. (2007) cũng cho rằng tỷ lệ mắc PMWS ở các lứa tuổi khác nhau là do

liên quan đến kháng thể mẹ truyền chống lại PCV2. Nếu kháng thể mẹ truyền

cao sẽ giúp bảo vệ lợn con 6 tuần đầu sau sinh, ngược lại lợn con chỉ được bảo vệ

trong 2-3 tuần đầu.

Kết quả này đặc biệt có ý nghĩa trong việc xây dựng chiến lược vacxin

phòng bệnh. Vacxin cần phải được tiêm cho lợn mẹ giúp truyền kháng thể thụ

động cho lợn con, bảo hộ cho con những tuần đầu sau khi sinh. Khi lợn được trên

3 tuần tuổi, hàm lượng kháng thể thụ động giảm, cần phải tiêm vacxin nhằm tạo

miễn dịch chủ động cho con vật. Segalés (2009) cũng cho biết khi lợn nái bị nhiễm

PCV2 hoặc có hiệu giá kháng thể kháng PCV2 trong huyết thanh thấp sẽ làm tăng

nguy cơ mắc bệnh ở lợn con. Thời gian bán hủy của kháng thể thụ động ở lợn là

54



19 ngày, và lượng kháng thể thụ động này sẽ không còn ở các độ tuổi lợn khác

nhau tùy thuộc vào lượng kháng thể thụ động từ mẹ (từ 4 – 6 tuần tuổi nếu ít

kháng thể thụ động; từ 6 – 10 tuần nếu lượng kháng thể thụ động ở mức trung bình

và 8,5 – 13,5 tuần nếu nhiều kháng thể thụ động). Lợn con theo mẹ (< 4 tuần tuổi)

thường khơng có triệu chứng lâm sàng do được bảo hộ bởi kháng thể thụ động

(Gillespie et al., 2009).

Ở một khía cạnh khác, một số nghiên cứu đánh giá về tỷ lệ lưu hành PCV2

qua đánh giá về kết quả dương tính kháng thể khi kiểm tra huyết thanh bằng phản

ứng ELISA cho thấy tỷ lệ cao hơn đáng kể khi sử dụng kỹ thuật PCR để phát hiện

PCV2 trong huyết thanh. Điều này được giải thích đây có thể là kháng thể thụ động

hoặc do ảnh hưởng của thời gian nhiễm nên virus khơng còn tồn tại trong máu, vì

vậy khơng phát hiện được khi tiến hành xét nghiệm bằng kỹ thuật PCR. Tuy nhiên,

các kết quả kiểm tra sự hiện diện của PCV2 trong bệnh phẩm của lợn đều cho phép

khẳng định PCV2 lưu hành ở tất cả các giai đoạn nuôi ở đàn lợn. Một số nghiên cứu

kiểm tra huyết thanh bằng phản ứng ELISA như:

Huỳnh Thị Mỹ Lệ và cs. (2012) cho thấy so sánh với kết quả dương tính

kháng thể khi kiểm tra huyết thanh bằng phản ứng ELISA (70,57%) thì tỷ lệ phát

hiện được PCV2 trong huyết thanh bằng kỹ thuật nested PCR (18,32%) thấp hơn

đáng kể với P<0,001. Nguyễn Thị Thu Hồng và cs. (2008) tuy không kiểm tra tỷ

lệ huyết thanh dương tính với kháng thể PCV2 ở các lứa tuổi nhưng cho biết hiệu

giá kháng thể này của lợn con (sinh ra từ lợn mẹ khơng được tiêm phòng vacxin

PCV2) đã bị giảm dần và âm tính theo thời gian tại các thời điểm kiểm tra là 20,

50, 110 và 170 ngày tuổi. Điều này cũng có thể đồng nghĩa với khả năng tỷ lệ

huyết thanh dương tính với kháng thể PCV2 giảm dần ở các lứa tuổi đã nêu. Tác

giả cũng cho biết kháng thể kháng PCV2 được kiểm tra lúc 20 ngày tuổi là kháng

thể thụ động. Theo McKeown et al., (2005) cho rằng hiệu giá kháng thể thụ động

cao sẽ bảo hộ (nhưng khơng hồn tồn) lợn chống lại việc nhiễm PCV2, còn hiệu

giá kháng thể thụ động thấp thì chắc chắn lợn sẽ bị nhiễm PCV2. Kháng thể thụ

động từ mẹ truyền giảm gần như âm tính hoàn toàn nên lợn con trở nên mẫn cảm

với PCV2, do đó PMWS tác động chủ yếu trên lợn 7 tuần tuổi. Các loại vacxin

nhược độc cũng có hiệu quả phòng bệnh tốt nhất khi tiêm cho lợn trên 7 – 8 tuần

tuổi vì lúc đó lượng kháng thể thụ động hầu như đã hết.

55



Chen et al. (2007) khi kiểm tra tỷ lệ huyết thanh dương tính với PCV2 ở đàn

lợn nuôi tại các vùng khác nhau tại Zhejiang (Triết Giang), Trung Quốc. Với tổng số

2062 mẫu huyết thanh lấy từ 44 trại, tỷ lệ huyết thanh dương tính kháng thể kháng

PCV2 ở lợn nái là cao nhất (59,38%) (Zhou et al., 2006); và với 2255 mẫu kiểm tra

thì tỷ lệ huyết thanh dương tính của lợn nái hậu bị là 98,0%, nái sinh sản 88,5%

(Chen et al., 2007). Khi lợn nái dương tính với kháng thể kháng PCV2 thì lợn con

theo mẹ cũng có kháng thể (có thể được truyền qua sữa) khiến cho tỷ lệ huyết thanh

dương tính của đàn lợn con cũng cao. Điều đặc biệt các tác giả nhận ra là lợn nái

càng già có tỷ lệ huyết thanh dương tính càng giảm, có thể liên quan đến việc loại

thải những con nái bị ốm hoặc có sức sản xuất kém của những trang trại được điều

tra. Vì vậy, trong chăn ni các trang trại cần lưu ý đến công tác loại thải những nái

bệnh, giúp hạn chế sự lưu hành các loại mầm bệnh nói chung cũng như với PCV2

nói riêng.

Nghiên cứu của Jiangbing et al. (2007) với 1779 mẫu huyết thanh của các

nhóm lứa tuổi được kiểm tra, lợn con theo mẹ có tỷ lệ huyết thanh dương tính

thấp nhất (173/519; 33,3%); thấp hơn rõ rệt so với lứa tuổi sau cai sữa (233/412;

54,1%) và lợn thịt (423/848; 49,9%) (P<0,01). Zhou et al. (2006); Chen et al.

(2007) cho biết tỷ lệ huyết thanh dương tính của lợn thịt cao hơn lợn con theo mẹ.

Điều này có thể giải thích do có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm PCV2

như quy mô đàn, yếu tố đồng nhiễm, giống, tính biệt...

Như vậy, PCV2 lưu hành ở bất cứ nhóm tuổi lợn nào, tỷ lệ lưu hành lợn thịt,

lợn con theo mẹ và lợn nái tương ứng lần lượt là 45,16%, 39,58% và 32,35%.

Kết quả nghiên cứu cũng khẳng định đây là điều kiền cần để bệnh do PCV2 phát

sinh và lây lan do đó cũng rất cần được quan tâm trong ngành chăn nuôi lợn.

4.1.4. Kết quả nghiên cứu sự lưu hành của bệnh do PCV2 gây ra

Một đặc điểm quan trọng của bệnh do PCV2 gây ra là sự có mặt của virus

khơng đồng nghĩa với mắc bệnh thể lâm sàng. Do đó, bên cạnh việc nghiên cứu

sự lưu hành virus, nghiên cứu này còn tìm hiểu sự hiện diện của thể bệnh lâm

sàng do PCV2 gây ra tại các địa phương lấy mẫu. Một trong những bệnh thường

gặp nhất trong hội chứng bệnh do PCV2 gây ra là PMWS. Qua quan sát triệu

chứng lâm sàng ở các đàn lợn có sự lưu hành của PCV2 được tóm tắt ở hình 4.3.



56



4.3a. Lợn bị tiêu chảy và có triệu chứng hơ hấp



4.3b. Lợn còi cọc, chậm lớn so với lợn cùng lứa



4.3c. Hạch bẹn nơng sưng



4.3d. Lồi sống lưng, bạc màu



Hình 4.3. Một số triệu chứng điển hình ở lợn mắc PMWS

Kết quả theo dõi triệu chứng lâm sàng của chúng tôi tương tự như những

mô tả trước đây về một số triệu chứng điển hình ở lợn mắc PMWS của các tác

giả Gillespie et al. (2009); Opriessnig et al., (2007) cho biết các dấu hiệu lâm

sàng chính bao gồm sút cân, da nhợt nhạt, lợn gầy còm ốm yếu kèm theo các

triệu chứng hô hấp, tiêu chảy. (Huỳnh Thị Mỹ Lệ và cs., 2012a) cho thấy triệu

chứng chủ yếu quan sát được là biểu hiện lợn còi cọc và lơng khơ, xơ xác (100%),

lợn có triệu chứng hơ hấp với tỷ lệ 89,74%. Một số triệu chứng lâm sàng khác ở

lợn bao gồm hiện tượng hoàng đản (15,38%), tiêu chảy (23,08%), triệu chứng

57



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×