Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Mối quan hệ giữa quản lý đàn và điều kiện chăn nuôi với quá trình nhiễm PCV2: Một số nghiên cứu về dịch tễ học đã khẳng định rằng vấn đề quản lý trang trại, nhà xưởng, chuồng trại và điều kiện chăn nuôi có ảnh hưởng lớn đến khả năng phát sinh dịch PCV...

Mối quan hệ giữa quản lý đàn và điều kiện chăn nuôi với quá trình nhiễm PCV2: Một số nghiên cứu về dịch tễ học đã khẳng định rằng vấn đề quản lý trang trại, nhà xưởng, chuồng trại và điều kiện chăn nuôi có ảnh hưởng lớn đến khả năng phát sinh dịch PCV...

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Lợn mua về cần được kiểm dịch, phải tôn trọng quy tắc cách ly triệt để lợn

mới mua về. Trong thời gian cách ly đảm bảo lợn không bị bệnh hoặc kết quả

kiểm tra huyết thanh đảm bảo mới được phép nhập đàn.

- Chăm sóc ni dưỡng tốt nhằm nâng cao sức đề kháng cho đàn lợn, tránh

stress, tạo môi trường thuận lợi để lợn sinh trưởng phát triển.

Theo Gillespie et al. (2009) việc sử dụng kháng sinh (ví dụ sử dụng

chlorotetracycline để điều trị bệnh do M. hyopneumoniae gây ra) hoặc kháng sinh

phòng vi khuẩn kế phát có thể giúp phòng được bệnh do PCV2 gây ra rất hiệu

quả. Ngược lại, một số yếu tố khác như sự nhiễm PRRSV, TTV và PPV, quy mô

đàn cai sữa lớn, ... lại là nguy cơ làm cho PCVAD phát sinh; vì vậy việc giảm các

yếu tố nguy cơ này sẽ giúp hạn chế bệnh.

2.2.7.3. Phòng bệnh bằng vắc xin

Hiện nay, nhiều loại vắc xin cho PCV2 có trên thị trường bao gồm: vắc xin

virus PCV2 vô hoạt, vắc xin protein capsid của virus PCV2, vắc xin virus tái tổ

hợp PCV1 và PCV2 vô hoạt.

Sử dụng vắc xin được coi là hiệu quả nhất trong các biện pháp phòng

PCVAD. Tại Mỹ, có khoảng 99% lợn được sử dụng vắc xin phòng bệnh do

PCV2 gây ra (Shen et al., 2012) và tỷ lệ này cũng rất cao tại Anh/Châu Âu

(Wieland et al., 2012). Hiện nay có nhiều loại vắc xin được sản xuất từ các chủng

PCV2a. Khi tiêm vắc xin cho lợn sẽ sản sinh kháng thể trung hòa, giúp giảm số

lượng PCV2 trong cơ thể, từ đó giảm được lượng virus bài thải ra ngồi mơi

trường và hạn chế được bệnh truyền ngang (Segalés et al., 2009).

Theo Yang et al. (2007) khi thử nghiệm vắc xin vô hoạt PCV2 cho lợn

con 28 ngày tuổi cho thấy tỷ lệ lợn có bệnh tích đã giảm rõ rệt so với lợn

khơng tiêm vắc xin. Việc tiêm vắc xin sẽ giúp giảm khả năng nhiễm virus

cũng như nguy có mắc chứng còi cọc sau cai sữa. Seo et al. (2014) khi nghiên

cứu ảnh hưởng của việc tiêm vắc xin PCV2 cho thấy tiêm vắc xin đã làm giảm

số lượng virus huyết khi công cường độc bằng virus PCV2a hoặc PCV2b, giúp

giảm nguy cơ mắc PCVAD. Trong thực tế, O’Neill (2012) cho biết nếu dùng

vắc xin cho lợn nái sẽ giúp giảm lượng virus huyết ở lợn con, giúp bảo vệ lợn

con đến 8 tuần tuổi sau khi sinh.

Bằng thực nghiệm người ta đã chứng minh được khả năng bảo hộ phụ thuộc

vào lượng kháng thể thụ động. Khi lượng kháng thể thụ động cao thì mức bảo hộ

19



tốt hơn khi mức kháng thể thấp, tuy nhiên khơng hồn tồn bảo vệ lợn chống lại

bệnh do PCV2 gây ra; nhưng nếu hiệu giá kháng thể thụ động thấp thì chắc chắn

khơng bảo hộ được lợn (McKeown et al., 2005).

Kết quả thử nghiệm vắc xin thể ORF2 (Trần Thị Dân và cs., 2010) cho thấy

lợn được chủng ngừa vắc xin không thay đổi các chỉ tiêu huyết học và ít bệnh

tích liên quan đến PCV2 so với lợn không tiêm. Hiệu quả kinh tế được cải thiện ở

lơ thí nghiệm (tiêm vắc xin) so với lơ đối chứng (không tiêm vắc xin) trong điều

kiện trại nhiễm circovirus.

Thống kê một số loại vắc xin phòng bệnh do PCV2 gây ra được phép nhập

khẩu, lưu hành tại Việt Nam (Bảng 2.1).

Bảng 2.1. Một số loại vắc xin phòng bệnh do PCV2 gây ra được phép nhập

khẩu, lưu hành tại Việt Nam hiện nay

TT

1



Tên vắc xin/

nhà sản xuất

Circovac

(Merial – Pháp)



2



Circumvet PCV

(Intervet - Hà Lan)



3



Circumvet PCVM

(Intervet - Hà Lan)



Kháng nguyên



Liều dùng



Virus

Circovirus Tiêm cho lợn nái liều lượng

type 2, vô hoạt

2ml/con/lần. Lịch trình như sau:

lợn hậu bị: tiêm 2 mũi, cách nhau

3 - 4 tuần, mũi thứ 2 chậm nhất 2

tuần trước khi phối; nhắc lại 2-3

tuần trước khi đẻ. Lợn nái: tiêm 2

mũi cách nhau 3 - 4 tuần, mũi thứ

2 chậm nhất 2 tuần trước khi đẻ.

Tiêm nhắc lại: đối với các lứa

tiếp theo, tiêm 1 mũi trước khi đẻ

2 - 3 tuần.

Virus

Circovirus Vắc xin dùng cho lợn con khỏe

type 2, vô hoạt

mạnh từ 3 tuần tuổi trở lên (tiêm

bắp với liều lượng 2ml/ con, tiêm

nhắc lại sau 3 tuần)

Kháng nguyên tiểu

đơn vị ORF2 của

Circovirus type 2 và

Mycoplasma

hyopneumoniae



20



Vắc xin dùng cho lợn con khỏe

mạnh từ 3 tuần tuổi trở lên (tiêm

bắp với liều lượng 2ml/ con, tiêm

nhắc lại sau 3 tuần)



TT

4



Tên vắc xin/

nhà sản xuất

Porcilis PCV

(Intervet - Hà Lan)



5



Ingelvac CircoFlex

(Boehringer

Ingelheim Vet – Đức)



6



Kháng nguyên



Liều dùng



Virus

Circovirus Tiêm cho lợn con từ 3 tuần tuổi

type 2, vô hoạt

trở lên, tiêm vào cơ ở cổ và ở

vùng sau tai; tiêm 2 lần, mỗi lần

2ml và cách nhau 3 tuần

Virus

Circovirus Tiêm bắp cho lợn khỏe mạnh từ

type 2, vô hoạt

2-3 tuần tuổi trở lên, liều lượng 1

ml/con.



Pro-vac Circomaster Kháng

nguyên + Nái mang thai: mới tiêm vắc

Vac

PCV2 tái tổ hợp

xin lần đầu: tiêm bắp 2 lần, mỗi

lần 2ml vào lúc 4 - 5 tuần và 2 - 3

(Komipharm

tuần trước khi sinh. Tiêm lứa kế

international - Hàn

tiếp trở đi: tiêm bắp 1 lần 2ml vào

Quốc)

lúc 2 - 3 tuần trước khi sinh.

+ Lợn con: nếu sinh ra từ lợn mẹ

đã tiêm phòng: tiêm bắp 1 lần

2ml lúc 4 - 5 tuần tuổi. Nếu lợn

mẹ chưa tiêm phòng: tiêm bắp 2

lần, 1ml/lần vào lúc 3-4 tuần và 5

- 6 tuần tuổi.



7



Virus

Circovirus Tiêm bắp ở gốc tai cho lợn con

khỏe mạnh từ 2 – 3 tuần tuổi (liều

(ChoongAng vaccine type 2, vô hoạt

lượng tiêm 2 ml/con).

laboratory – Hàn

Quốc)



8



SuiShot® Circo Delta



9



SuiShot Circo One



Mycoplasma

(ChoongAng vaccine hyopneumoniae,

laboratory – Hàn Haemophillus

parasuis serotype 4,

Quốc)

Haemophillus

parasuis serotype 5,

Circovirus type 2

Circo Pig Vac

(Daesung



Tiêm lần 1: lợn con một tuần

tuổi, tiêm 2 ml/con, tiêm bắp tại

phần đáy của tai.

Tiêm lần 2: lợn con ba tuần tuổi,

tiêm 2ml/con tiêm bắp tại đáy tai



Virus

Circovirus Tiêm 1 liều duy nhất (1 ml/con)

type 2, vô hoạt

cho lợn con lúc 1 ngày tuổi đến 3



21



TT



Tên vắc xin/

nhà sản xuất



Kháng nguyên



Microbiological Labs

– Hàn Quốc)



Liều dùng

tuần tuổi.



10



CircoShield-V Inj



Kháng

nguyên - Lợn con: tiêm bắp 1ml/con, lợn

từ 3 tuần tuổi trở lên.

(Green Gross Vet PCV2 tái tổ hợp

Products



Hàn

- Lợn nái: tiêm bắp 2ml/con, lợn

Quốc)

5-6 tuần tuổi và 2-3 tuần trước

khi đẻ tiêm thêm 2ml/con.



11



Circovirus

Porcine Circovirus Virus

type

2

vaccine, type 2, vô hoạt

Inactivated

(Strain

LG)

(Harbin

Quốc)







- Lợn con: tiêm bắp 1ml/con, lợn

từ 3 -4 tuần tuổi.

- Lợn nái: tiêm bắp 2ml/con, lợn

3 tuần tuổi trở lên.



Trung



Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2017)



2.2.8. Điều trị

Bệnh do virus nên không có thuốc điều trị đặc hiệu. Ferreira et al., (2001)

đã thử nghiệm dùng kháng huyết thanh để điều trị nhưng hiệu quả rất khác nhau.

2.3. HIỆN TƯỢNG ĐỒNG NHIỄM DO PCV2 GÂY RA

Trong thực tế có nhiều giả thuyết được đưa ra nhằm giải thích tại sao có

nhiều căn ngun kết hợp cùng với PCV2 trong hội chứng còi cọc ở lợn sau cai

sữa. Trước hết, có thể một số mầm bệnh có cùng cơ chế sinh bệnh gây ảnh hưởng

đến hệ miễn dịch của cơ thể, khiến cho lợn nhiễm PCV2 có triệu chứng của

PMWS (Darwich et al., 2003). Opriessnig et al. (2007) cho biết mặc dù hầu hết

lợn trong đàn có thể bị nhiễm PCV2 nhưng chỉ có khoảng 5 – 30% lợn mẫn cảm

biểu hiện triệu chứng. Có bốn yếu tố ảnh hưởng đến sự phát sinh PCVAD do

nhiễm PCV2 là cấu trúc và độc lực virus, giống lợn, sự đồng nhiễm, trạng thái

miễn dịch của cơ thể.

Điều dễ dàng nhận thấy là nếu chỉ gây nhiễm PCV2 rất ít khi lợn biểu hiện

triệu chứng lâm sàng (Okuda et al., 2003). Trong hầu hết các trường hợp lợn có

triệu chứng lâm sàng rõ khi được gây nhiễm đồng thời với một số mầm bệnh



22



truyền nhiễm hoặc không truyền nhiễm (Rovira et al., 2002). Do đó PCV2 được

coi là điều kiện cần nhưng chưa đủ để gây thành bệnh (Tomás et al., 2008). Tại Úc,

đến năm 2010, mặc dù đã chứng minh được đàn lợn nhiễm PCV2 nhưng vẫn

chưa chứng minh được sự hiện diện của PMWS, giả thuyết được đưa ra là do

chưa có mầm bệnh kế phát cần thiết để PCV2 gây bệnh (Grau-Roma et al., 2010).

Thử nghiệm lâm sàng đã chứng minh trong điều kiện thực nghiệm một

mình PCV2 khơng gây bệnh mà kết hợp với một số virus như PRRS, PPV, TTV

mới gây bệnh thể lâm sàng. Changhoon et al. (2014) cho biết nhiễm ghép

PRRS và PCV2 là một trong những đồng nhiễm phổ biến nhất liên quan đến

bệnh lợn trong điều kiện thực nghiệm gần đây. Krakowka et al. (2000) cũng

chứng minh PPV được xác định là ngoài nguyên nhân gây rối loạn sinh sản ở

lợn còn góp phần khiến cho lợn nhiễm Porcine circovirus type 2 (PCV2) mắc

PMWS. Trong khi đó, TTV đồng nhiễm với PCV2 có thể là yếu tố nguy cơ

khiến cho lợn có biểu hiện bệnh PCVAD thêm trầm trọng (Lee et al., 2010).

Tại Việt Nam, đến nay mới có Hồng Văn Năm (2012) đánh giá về tỷ lệ đồng

nhiễm PRRRV và PCV2 ở lợn mắc PRRS, Lâm Thị Thu Hương (2012) nghiên

cứu một số vi khuẩn cộng nhiễm trên heo mắc hội chứng gầy còm sau cai sữa.

Nghiên cứu này tiến hành đánh giá sự đồng nhiễm PCV2 với một số virus

PRRS, PPV, TTV, PCV3 trong điều kiện sản xuất thực tế tại các cơ sở chăn

nuôi lợn ở Việt Nam.

2.4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGỒI NƯỚC VỀ PCV2

2.4.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Chăn nuôi lợn là một trong những ngành chăn nuôi phát triển nhanh nhất

trên tồn thế giới và đóng góp lớn cho nền kinh tế của nhiều quốc gia. Theo

Vidigal et al. (2012) các mầm bệnh truyền nhiễm đã thu hút rất nhiều sự chú ý

của các nhà nghiên cứu từ đầu những năm 1990 khi có rất nhiều quốc gia bị tổn

thất kinh tế rất lớn từ các tác nhân gây bệnh ở lợn nhất là PCV2.

* Các nghiên cứu về lưu hành và phân bố của PCV2:

Được phát hiện năm 1991 tại Canada nhưng nhiều kết quả nghiên cứu hồi

cứu với các mẫu bệnh phẩm cho thấy đã có sự lưu hành của PCV2 ở đàn lợn từ

năm 1969 tại Bỉ, năm 1970 tại Anh, năm 1973 tại Ireland, năm 1983 tại Canada

(Gillespie et al., 2009), và năm 1983 tại Tây Ban Nha (Rodriguez-Arrioja et al.,

2003). (Jacobsen et al., 2009) xét nghiệm các mẫu hồi cứu từ năm 1961-1998



23



bằng kỹ thuật ISH và PCR đã khẳng định sự tồn tại của PCV2 ở lợn từ năm 1962

tại miền Bắc nước Đức.

PCV2 được coi là virus gây bệnh quan trọng nhất trong ngành chăn nuôi

(Opriessnig et al., 2007) và được biết đến như là một virus gây bệnh thông thường

bởi vì sự hiện diện của nó trong hầu hết lợn nuôi (Baekbo et al., 2012). Tần suất

hiện huyết thanh dương tính PCV2 với tỷ lệ tương đối cao 20-80% ở lợn kết hợp

với tỷ lệ mắc bệnh cao là 60% và tỉ lệ chết là 40% tại các trang trại lợn bị ảnh

hưởng (Wang et al., 2009).

PCV2 được báo cáo ở rất nhiều nước trên thế giới bao gồm: Bắc và Nam

Mỹ, Châu Âu, Châu Á, Châu Đại Dương, Trung Đông và Caribê (Kayode et al.,

2017). Hiện nay, các kết quả nghiên cứu đã xác định được tỷ lệ lưu hành huyết

thanh kháng PCV2, phân lập và xác định genotype cũng như đánh giá được đặc

tính di truyền và dịch tễ học phân tử của PCV2.



Hình 2.8. Sự phân bố PCV2 trên thế giới

Nguồn: Huỳnh Thị Mỹ Lệ và cs. (2012)



Sự phân bố của PCV2 có sự khác nhau giữ các vùng địa lý:

- Châu Á: vụ dịch gần giống PMWS được mơ tả tại Đài Loan năm 1995. Từ

đó đến nay PCV2 và PCVAD được xác định lưu hành ở Nhật Bản (Takahagi et

al., 2008), Hàn Quốc (An et al., 2007), Thái Lan (Jantafong et al., 2011) và

Malaysia (Jaganathan et al., 2011).

Tại Trung Quốc, Wang et al. (2009) đã giải trình tự 49 chủng thu thập từ

nhiều vùng khác nhau và cho thấy 34 chủng thu thập từ năm 2002-2006 thuộc

24



genotype PCV2a, PCV2b, PCV2d và PCV2e, phổ biến nhất là PCV2b (18

chủng); 12 chủng thu thập trong giai đoạn 2007-2008 đều là PCV2b. Bao et al.

(2017) trong một nghiên cứu hồi cứu 23 mẫu mơ lợn dương tính với PCV2 trong

giai đoạn 1990 đến 1999 cho kết quả 20/23 chủng thuộc genotype 2a, ba chủng

còn lại hình thành một nhóm độc lập, chưa được báo cáo và đặt tên là PCV2f.

Tại Hàn Quốc, khi sử dụng kỹ thuật PCR kiểm tra 29 mẫu lợn mắc PCVAD

và 9 mẫu lợn không mắc PCVAD phát hiện được sự lưu hành của PCV2a và

PCV2b; trong đó cả 29 chủng có nguồn gốc từ lợn mắc PCVAD và 4 chủng từ

lợn không mắc PCVAD là PCV2b (Chae and Choi, 2010).

Tại Nhật Bản với 150 mẫu huyết thanh thu thập từ lợn 2-4 tháng tuổi nuôi tại 10

trang trại (15 mẫu/trại) chỉ phát hiện được PCV2a và PCV2b (Takahagi et al., 2008),

trong khi đó tại Thái Lan phát hiện được PCV2b và PCV2e (Jantafong et al., 2011).

- Châu Âu: hầu hết các nước xác định sự có mặt của PCV2b, là nguyên

nhân gây thiệt hại kinh tế do PCVAD. PCV2a còn được phát hiện ở đàn lợn nuôi

tại Ireland từ các mẫu bệnh phẩm lợn mắc PCVAD thu thập từ năm 1997-2003

(trong 5/6 trại xét nghiệm). Trại còn lại phân lập được PCV2b có tỷ lệ chết rất

cao (35%) so với 5 trại còn lại. Tất cả mẫu thu được sau năm 2003 từ trại mắc

hoặc không mắc PCVAD đều chỉ phát hiện được PCV2b.

- Bắc Mỹ: hiện tượng đột biến chủng khiến cho PCV2b lưu hành phổ biến

được nhiều người quan tâm nghiên cứu. Lần đầu tiên PCV2b được xác nhận ở

Canada vào năm 2005; sau đó là các cơng bố về PCV2 tại Kansas, North

Carolina và Iowa. Các nghiên cứu sau này đã cho thấy sự lưu hành của PCV2a và

PCV2b trong khu vực (Gagnon et al., 2007; Olvera et al., 2007).

- Nam Mỹ: khơng có nhiều nghiên cứu về PCV2, đã xác định genotype phổ

biến là PCV2b, cần có các nghiên cứu tiếp theo để khẳng định sự có mặt của

genotype PCV1/2a (Chiarelli-Neto et al., 2009).

- Châu Đại Dương: hiện tại có một số cơng bố của (O’Dea et al., 2011) về

PCVAD tại Úc; nghiên cứu của (Neumann et al., 2007) về PCV2 phân lập được

tại New Zealand.

* Kết quả giải trình tự gen và phân tích đặc điểm dịch tễ học:

Trước năm 2014, PCV2 được chính thức cơng nhận gồm có 3 genotype,

ký hiệu từ PCV2a, PCV2b và PCV2c (Segalés et al., 2008). Trong đó PCV2a

chiếm ưu thế trước khi các vụ dịch chính xảy ra trên thế giới, sau đó PCV2b là

25



genotype chiếm ưu thế hiện nay. PCV2a và PCV2b có mối tương quan gần về

trình tự nucleotide ở gen rep (97-100%) và gen cap (91-100%) và cũng tương

đương về trình tự amino acid, với tỷ lệ 97-100% với Rep và 89-100% với Cap.

Tuy nhiên, sự khác biệt về đặc tính sinh học giữa các nhóm thuộc cây phát

sinh lồi và sự sai khác này có ảnh hưởng đến độc lực của mầm bệnh như thế

nào cần phải tiếp tục nghiên cứu (Kurtz et al., 2014). PCV2c được báo cáo đầu

tiên từ những lợn khỏe mạnh ở Đan Mạch (Dupont et al., 2008) và gần đây được

phát hiện từ lợn rừng hoang dã ở Brazin (Franzo et al., 2015b) và các mẫu thực địa

thu từ lợn bệnh tại Trung Quốc (Liu et al., 2016).

Dữ liệu hiện có cho thấy PCV2a và PCV2b đều đã được khẳng định gây

bệnh ở lợn bị nhiễm bệnh với mức độ nghiêm trọng khác nhau (Opriessnig et al.,

2007; Beach et al., 2012). PCV2a và PCV2b thường phổ biến ở Châu Âu và

Trung Quốc từ năm 2003, tuy nhiên PCV2a lại phổ biến ở Hoa Kỳ và Canada

(Allan et al., 2007a). Sự chuyển đổi về tỷ lệ PCV2a so với PCV2b được quan sát

thấy ở lợn xảy ra trên toàn cầu từ năm 2003 cùng với sự gia tăng đồng thời mức

độ nghiêm trọng và dấu hiệu lâm sàng của PCVAD theo các kết quả nghiên cứu

(Constans et al., 2015; Cortey et al., 2011; Gagnon et al., 2007; Huang et al.,

2016). Tuy nhiên, khơng có bất kỳ sự khác biệt về gây bệnh thực nghiệm được

quan sát thấy giữa PCV2a và PCV2b (Opriessnig et al., 2008). Lager et al. (2007)

cũng cho kết quả tương tự khi sử dụng lợn thử nghiệm khơng có mầm bệnh

nhiễm với PCV2a hoặc PCV2b, kết quả cho thấy biểu hiện bệnh lý và dung nạp

kháng nguyên trong hai phương pháp điều trị khơng có sự khác nhau, mặc dù lợn

bị nhiễm PCV2b xuất hiện bệnh nhanh hơn.

Hiện nay, nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học phân tử cho thấy các genotype

khác nhau của PCV2 có mức độ lưu hành rất khác biệt. Vidigal et al. (2012) khi

nghiên cứu 420 trình tự gen PCV2 cơng bố trên Genbank cho biết có 102 chủng

PCV2a (24,3%), 317 chủng PCV2b (75,5%) và 1 chủng PCV2c (0,2%). Nghiên

cứu của (Guo et al., 2010) về sự lưu hành của PCV2 ở Trung Quốc đã phát hiện

một nhánh mới được đặt tên là PCV2d và được (Xiao et al., 2015) cung cấp bằng

chứng khẳng định PCV2d thực sự là một genotype mới. Genotype PCV2d hiện

được xác định lưu hành rộng rãi ở châu Âu, châu Mỹ và châu Á, gồm các quốc

gia như: Thụy Sỹ, Bỉ, Đức, Phần Lan, Romani, Serbia; Mỹ, Uruguay; Trung

Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Việt Nam, Hàn Quốc (Xiao et al., 2015; Ramos et al.,

2015, Kwon et al., 2017).

26



Như vậy, cho tới năm 2015 PCV2 có 4 genotype (PCV2a, PCV2b, PCV2c và

PCV2d) và 8 nhánh di truyền (cluster) 2A-2E và 1A-1C được công nhận.

* Các nghiên cứu về đồng nhiễm PCV2 với các virus, vi khuẩn:

Điểm đặc biệt trong cơ chế sinh bệnh của PCV2 là hiện tượng đa nhiễm hoặc

bội nhiễm với nhiều loại mầm bệnh khác. Các nghiên cứu cho thấy yếu tố đồng

nhiễm như nhiễm đồng thời với các tác nhân gây bệnh liên quan đến sự phát triển

của PCVAD (Hasslung et al., 2005).

Hesse et al. (2008) đã mô tả các đồng nhiễm tự nhiên của hai kiểu gen

PCV2 khác nhau ở lợn tại các trại nuôi. Kết quả nghiên cứu của Zhai et al. (2014)

tiến hành khảo sát dịch tễ phân tử tương tự sử dụng 118 mẫu dương tính với

PCV2 từ năm 2008-2009 cho thấy tỷ lệ đồng nhiễm PCV2 là 32,2% (38/118

mẫu) ở lợn bệnh và 0% (0/41 mẫu) ở lợn khơng có triệu chứng bệnh. Kết quả

trình tự của 38 mẫu đồng nhiễm cho thấy các kiểu gen đồng tồn tại là PCV2aPCV2b (12/38), PCV2a-PCV2d (15/38) và PCV2e-PCV2d (11/38). Kết quả này

chứng minh sự tồn tại các kiểu gen hoặc các chủng PCV2 khác nhau ở lợn có thể

giúp hiểu rõ hơn về dịch tễ học phân tử và các dạng nhiễm mới của PCV2.

Ngoài các đồng nhiễm kiểu gen PCV2 khác nhau, một số nghiên cứu đã chứng

minh PCV2 có thể đồng nhiễm với các mầm bệnh truyền thống khác như porcine

reproductive and respiratory syndrome virus (PRRS), classical swine fever virus

(CSF), porcine parvovirus (PPV), porcine pseudorabies virus (PRV), bovine viral

diarrhea virus (BVDV) theo các nghiên cứu của Yue et al. (2009); Cao et al. (2005);

Jiang et al. (2010); Xu et al. (2012); Liu et al. (2013); Deng et al. (2012) và các

mầm bệnh mới xuất hiện như porcine bocavirus (PBoV), Torque teno sus virus

(TTSuV), porcine hokovirus (PHoV) theo các nghiên cứu của Zhai et al. (2010);

Zhai et al. (2013); Li et al. (2013).

Opriessnig et al. (2006) cho biết mặc dù hầu hết lợn trong đàn có thể bị

nhiễm PCV2 nhưng chỉ có khoảng 5 – 30% lợn mẫn cảm biểu hiện triệu chứng.

Có bốn yếu tố ảnh hưởng đến sự phát sinh PCVAD do nhiễm PCV2 là cấu trúc

và độc lực virus, giống lợn, sự đồng nhiễm, trạng thái miễn dịch của cơ thể. Việc

sử dụng một số loại vắc xin, trong đó chất bổ trợ sẽ khiến cho tỷ lệ lợn có triệu

chứng PCVAD tăng lên. Ở lợn cùng tiêm một loại vắc xin nhưng có chất bổ trợ

khác nhau (đặc biệt bổ trợ dầu) sẽ làm cho thời gian nhiễm virus cũng như số

lượng PCV2 trong huyết thanh và mô bào tăng lên, tế bào lympho bị tổn thương



27



nặng hơn so với những lợn được tiêm vắc xin bổ trợ là keo phèn. Một thí nghiệm

khác cũng cho thấy khi lợn được tiêm vắc xin phòng bệnh do M. hyopneumoniae

hoặc A. pleuropneumoniae, sau đó gây nhiễm PCV2 thì thời gian PCV2 có trong

máu sẽ lâu hơn và các bệnh tích vi thể sẽ trầm trọng hơn so với những lợn khơng

tiêm phòng vắc xin.

Pallarés et al. (2002) khi nghiên cứu trên 484 mẫu bệnh phẩm từ các ca bệnh

PMWS chỉ xác định 1,9% số mẫu đơn nhiễm PCV2; 51,9% số mẫu nhiễm kép

PRRSV; 35,5% nhiễm kép với M. hyopneumoniae; 5,4% nhiễm kép với virus cúm

lợn và 15% nhiễm kép với PPV (porcine parvovirus). Bên cạnh đó, trong trường hợp

bại huyết, thường có sự hiện diện của Streptoccocus suis (14%) và Pasteurella

multocida (7,6%).

Tại Úc, đến năm 2010, mặc dù đã chứng minh được đàn lợn nhiễm PCV2

nhưng vẫn chưa chứng minh được sự hiện diện của PMWS, giả thuyết được đưa

ra là do chưa có mầm bệnh kế phát cần thiết để PCV2 gây bệnh (trích theo GrauRoma et al., 2010). Tuy nhiên kết quả của O'Dea et al. (2011) cho biết đã chứng

tỏ được sự có mặt của PCVAD ở đàn lợn thịt ni tại miền Tây nước này, cùng

với sự có mặt gây bệnh của vi khuẩn Salmonella.

Sau năm 1988, nhiều nghiên cứu trên thế giới tập trung vào vai trò của PCV2

gây hội chứng còi cọc ở lợn sau cai sữa PMWS. Điều dễ dàng nhận thấy là nếu chỉ

gây nhiễm PCV2 rất ít khi lợn biểu hiện triệu chứng lâm sàng (Okuda et al., 2003).

Trong hầu hết các trường hợp lợn có triệu chứng lâm sàng rõ khi được gây nhiễm

đồng thời với một số mầm bệnh truyền nhiễm hoặc khơng truyền nhiễm (Rovira et

al., 2002). Do đó PCV2 được coi là điều kiện cần nhưng chưa đủ để gây thành

bệnh (Tomás et al., 2008).

Trong thực tế có rất nhiều virus và vi khuẩn được phân lập cùng với PCV2

từ các ca mắc PMWS, có thể kể đến như Porcine reproductive and respiratory

syndrome virus, Swine influenza virus và Porcine parvovirus, Haemophilus

parasuis, Streptococcus suis, Mycoplasma hyopneumoniae và Actinobacillus

pleuropneumoniae. Có nhiều giả thuyết được đưa ra nhằm giải thích tại sao có

nhiều căn nguyên kết hợp cùng với PCV2 trong hội chứng còi cọc ở lợn sau cai

sữa. Trước hết, có thể một số mầm bệnh có cùng cơ chế sinh bệnh gây ảnh hưởng

đến hệ miễn dịch của cơ thể, khiến cho lợn nhiễm PCV2 có triệu chứng của

PMWS (Darwich et al., 2003).



28



Ngoài ra, đồng nhiễm với PCV2 đã được nghiên cứu rộng rãi như: PPV

(Kennedy et al., 2000; Lukác et al., 2016), PRRS (Allan et al., 2000), SIV và

TTV (Dorr et al., 2007), HEV (Yang et al., 2015), M. hyopneumoniae (Dorr et al.,

2007; Opriessnig et al., 2004), Salmonella spp. (Ha et al., 2005), E. coli (Dewey

et al., 2006).

2.4.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

Bằng chứng huyết thanh học cho thấy sự xuất hiện của PCV2 vào năm 2000

(Nguyễn Thị Thu Hồng và cs., 2006). Từ đó đến nay, các nghiên cứu về PCV2

được thực hiện đều khẳng định sự hiện diện và nguy cơ ngày càng lan rộng của

PCV2 ở mọi quy mô chăn nuôi lợn. Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ tập trung

theo vùng, miền (miền Bắc, miền Trung hoặc miền Nam), chưa có nghiên cứu

nào thực hiện để làm rõ sự lưu hành và cập nhật về đặc điểm dịch tễ học phân tử,

sự đồng nhiễm của PCV2 xuyên suốt ở các vùng miền khác nhau trên cả nước.

* Các nghiên cứu về lưu hành và bệnh lâm sàng do PCV2:

Tại miền Nam: Nguyễn Thị Thu Hồng và cs. (2006) đã sử dụng kỹ thuật

miễn dịch peroxidase trên tế bào một lớp (IPMA) khảo sát 988 mẫu huyết thanh

của lợn nái và lợn đực ở một số tỉnh thành phía Nam cho biết PCV2 xuất hiện ở

Việt Nam ít nhất từ năm 2000 và tỷ lệ nhiễm tăng dần: 38,97% năm 2000; 84,99%

năm 2003 và 90,26% năm 2005; cũng theo Nguyễn Thị Thu Hồng và cs. (2008) đã

khảo sát 17 mẫu bệnh phẩm thu thập từ năm 2002 – 2007 trên lợn nghi nhiễm

bệnh do PCV2 và cho kết quả 6/17 (35,29%) mẫu dương tính với PCV2 ở 5/6 tỉnh

thành phía Nam. Lam Thi Thu Huong et al. (2006) khảo sát tại một số trại lợn

công nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận cho biết tỷ lệ nhiễm PCV2

trên lợn khá cao: 7/9 trại khảo sát nhiễm bệnh và tỷ lệ nhiễm ở các trại biến động

từ 12,5% – 83,88%. Lê Tiến Dũng (2006) khảo sát trên địa bàn thành phố Hồ Chí

Minh sử dụng kỹ thuật PCR cho kết quả 50,77% (33/65) lợn còi dương tính với

PCV2 tại 17/22 trại khác nhau của 5/6 địa bàn lấy mẫu. Hội chứng suy đa tạng ở

lợn sau cai sữa (PMWS) cũng đã được xác định ở 110/170 (64,71%) lợn còi và

loại thải có nguồn gốc từ 2 tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ dựa trên khảo sát bệnh

tích đại thể và vi thể (Lâm Thị Thu Hương, 2012).

Tại miền Trung: Kết quả nghiên cứu xác định tình hình nhiễm PCV2 trên

đàn lợn được ni tại các trang trại thuộc các huyện phía bắc tỉnh Nghệ An của

Phạm Hoàng Sơn Hưng và cs. (2018) cho thấy trong tổng số 93 mẫu số bệnh



29



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Mối quan hệ giữa quản lý đàn và điều kiện chăn nuôi với quá trình nhiễm PCV2: Một số nghiên cứu về dịch tễ học đã khẳng định rằng vấn đề quản lý trang trại, nhà xưởng, chuồng trại và điều kiện chăn nuôi có ảnh hưởng lớn đến khả năng phát sinh dịch PCV...

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×