Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHN

CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHN

Tải bản đầy đủ - 0trang

vấn



143



các chuyên gia trong các doanh nghiệp đã, đang sử dụng cơng cụ tài chính phái sinh.

Các chun gia được điều tra, phỏng vấn đều có kiến thức, chun mơn, hiểu rõ về

hoạt động phái sinh, hiểu rõ về công cụ tài chính phái sinh và đã từng áp dụng kế

tốn cơng cụ tài chính phái sinh tại doanh nghiệp. Hầu hết các chuyên gia mà tác giả

phỏng vấn đều có chung quan điểm đó là khẳng định các nhân tố mà doanh nghiệp

đối mặt khi áp dụng kế toán đó là:

1. N hân tố thị trường

2. N hân tố pháp lý

3. N hân tố con người – nhà quản trị

4. N hân tố con người – người làm kế tốn

5. N hân tố thơng tin, truyền thơng

6. N hân tố đào tạo, bồi dưỡng

N hư vậy, tại bước nghiên cứu định tính giai đoạn hai, tác giả xây dựng được mơ

hình nghiên cứu dự kiến, trong đó một biến phụ thuộc - áp dụng kế tốn cơng cụ

tài chính phái sinh và 6 biến độc lập. Với kết quả đạt được này, tác giả đã hoàn thành

mục tiêu thứ 2 và đã giải quyết được câu hỏi nghiên cứu thứ hai của luận án.

5.2.3 Kết luận liên quan đến mục tiêu nghiên cứu thứ ba

5.2.3.1 Kết luận liên quan đến câu hỏi nghiên cứu 3a

Với phương pháp nghiên cứu định lượng. Để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu

thứ ba, trên cơ sở mơ hình nghiên cứu đã được xây dựng ở bước nghiên cứu định

tính thứ hai, kết hợp với các lý thuyết nền tảng, tác giả hình thành các mục hỏi đo

lường cho từng nhân tố, sau đó tiến hành nghiên cứu định lượng thơng qua bước

điều tra sơ bộ. Kết quả nghiên cứu sơ bộ cho thấy tồn tại 1 biến phụ thuộc và 6 biến

phụ thuộc trong đó 35 mục hỏi đủ điều kiện được giữ lại cho bước nghiên cứu chính

thức.

Tại bước nghiên cứu chính thức, ngay sau khi tiến hành khảo sát qua bảng câu

2



hỏi điều tra diện rộng, kết quả đạt được với hệ số giải thích hợp lý R = 74%, thể hiện

mơ hình nghiên cứu khá phù hợp với dữ liệu và được dữ liệu ủng hộ, và có 3 biến

độc lập có ý nghĩa thống kê, tác động vào biến phụ thuộc. Tuy nhiên, cũng cần nêu

rõ hai vấn đề: thứ nhất, trong q trình phân tích dữ liệu (phụ lục 10), xuất hiện mục

hỏi C22 thuộc nhân tố con người – nhà quản trị lại được sáp nhập vào nhóm các mục

hỏi thuộc nhân tố pháp lý; và thứ hai, xuất hiện mục hỏi C29 và C30 thuộc nhân tố



đào tạo, bồi



143



dưỡng sáp nhập vào nhóm nhân tố cơng nghệ thơng tin, truyền thơng và phần mềm

kế tốn.

Kết quả nghiên cứu chính thức cho thấy có 3 nhân tố độc lập tác động trái

chiều lên nhân tố phụ thuộc với mức độ tác động lần lượt theo xu hướng giảm

dần, cụ thể nhân tố pháp lý tác động mạnh nhất có hệ số hồi quy là -0,680; nhân tố con

người - N hà quản trị tác động mạnh thứ nhì có hệ số hồi quy là -0,482; nhân tố thị

trường tác động mạnh thứ ba có hệ số hồi quy là -0,209.

Với kết quả đạt được tại bước nghiên cứu chính thức với mẫu chung gồm

319 doanh nghiệp (trong đó 163 doanh nghiệp tài chính và 156 doanh nghiệp phi tài

chính), tác giả đã thành cơng trong việc xây dựng mơ hình nghiên cứu gồm 1 nhân tố

phụ thuộc và 3 nhân tố độc lập, đồng thời xác định được mức độ tác động của các

nhân tố độc lập tác động đến nhân tố phụ thuộc, đó cũng chính là giải quyết được

mục tiêu nghiên cứu thứ 2 và thứ 3, đồng thời trả lời cho câu hỏi nghiên cứu 3a.

Với bộ mẫu nghiên cứu chung là 319 quan sát, từ bước nghiên cứu định

lượng nêu trên, tác giả tách thành hai nhóm doanh nghiệp: nhóm doanh nghiệp tài

chính (gồm 163 quan sát) và nhóm doanh nghiệp phi tài chính (gồm 156 quan

sát) để tiếp tục nghiên cứu. Mục đích của việc tách nhóm doanh nghiệp nhằm tìm

hiểu những vướng mắc, khó khăn của từng loại hình doanh nghiệp có sự khác biệt

nhất định và mức độ tác động của biến độc lập đến biến phụ thuộc, từ đó có thể đưa

ra kiến nghị thích hợp trong từng thời kỳ nhất định.

5.2.3.2 Kết luận liên quan đến câu hỏi nghiên cứu 3b

N gay sau bước phân tích hồi quy mẫu chung, tác giả tiến hành phân tích hồi quy

2



cho doanh nghiệp tài chính. Kết quả cho thấy dữ liệu khảo sát đạt mức độ giải thích R

= 59,2%, có 03 biến độc lập tác động trái chiều, và 01 biến tác động thuận chiều

đến biến phụ thuộc.



Mặc dù, nhân tố con người – người làm kế toán trong mơ hình hồi quy, mẫu

là doanh nghiệp tài chính khác biệt với mẫu chung. Tuy nhiên, nhân tố này được

giả thuyết kiểm định chấp nhận, nên giả thuyết nghiên cứu cũng được chấp nhận với

hệ số hồi quy có ý nghĩa thống kê. Do đó, có thể xem đây là một hiện tượng cần được

tiếp tục nghiên cứu và mở rộng kích thước mẫu trong các nghiên cứu tiếp theo cùng

chủ đề này.

Với kết quả đạt được tại bước nghiên cứu chính thức này, với mẫu gồm



144



163 doanh nghiệp tài chính, tác giả đã thành cơng trong việc xây dựng mơ hình

nghiên cứu



144



gồm 1 biến phụ thuộc và 4 biến độc lập, đồng thời xác định được mức độ tác động

của các biến độc lập tác động đến biến phụ thuộc, đó cũng chính là vừa giải quyết

được mục tiêu nghiên cứu thứ 2 và thứ 3, vừa trả lời cho câu hỏi nghiên cứu 3b.

5.2.3.3 Kết luận liên quan đến câu hỏi nghiên cứu 3c

Tương tự như quy trình phân tích hồi quy cho các doanh nghiệp tài chính, tác giả

cũng tiến hành theo quy trình này cho các doanh nghiệp phi tài chính. Kết quả cho

2



thấy dữ liệu khảo sát đạt mức độ giải thích R = 68,2%, có 3 biến độc lập tác động trái

chiều và 2 biến tác động thuận chiều đến biến phụ thuộc (nhân tố con người – người

làm kế toán và nhân tố đào tạo, bồi dưỡng và công nghệ thông tin, truyền thơng,

phần mềm kế tốn (tác động thuận chiều). Việc hai nhân tố này tác động thuận

chiều đến biến phụ thuộc được mơ hình hồi quy giải thích như sau:

Thứ nhất, nhân tố con người – người làm kế toán trong mơ hình hồi quy, mẫu

là doanh nghiệp tài chính và doanh nghiệp phi tài chính tác động thuận chiều đến biến

phụ thuộc, nhân tố này được giả thuyết kiểm định chấp nhận, nên giả thuyết

nghiên cứu cũng được chấp nhận với hệ số hồi quy có ý nghĩa thống kê.

Thứ hai, khác biệt với mơ hình hồi quy mẫu chung và mơ hình hồi quy cho

doanh nghiệp tài chính, thì nhân tố đào tạo, bồi dưỡng và công nghệ thông tin;

truyền thơng, phần mềm kế tốn trong mơ hình hồi quy cho doanh nghiệp phi tài

chính lại thuận chiều (chiều +), tuy nhiên được giả thuyết kiểm định chấp nhận, nên

giả thuyết nghiên cứu cũng được chấp nhận với hệ số hồi quy có ý nghĩa thống kê.

Do đó, có thể đây cũng được xem là một hiện tượng cần được tiếp tục nghiên cứu

và mở rộng kích thước mẫu trong các nghiên cứu tiếp theo về chủ đề này.

Với kết quả đạt được tại bước nghiên cứu chính thức này, với mẫu gồm

156 doanh nghiệp phi tài chính, tác giả đã thành cơng trong việc xây dựng mơ hình

nghiên cứu gồm 1 biến phụ thuộc và 5 nhân tố độc lập, đồng thời xác định được

mức độ tác động của các biến độc lập tác động đến biến phụ thuộc, đó cũng chính là

vừa giải quyết được mục tiêu nghiên cứu thứ 2 và thứ 3, vừa trả lời cho câu hỏi nghiên

cứu 3c.

5.3 Một số kiến nghị

5.3.1 Một số kiến nghị mang tính chính sách dựa trên hàm ý nghiên cứu

5.3.1.1 Liên quan đến nhu cầu áp dụng kế tốn cơng cụ tài chính phái sinh

Trong ngắn hạn



145



Để hướng đến một chính sách phù hợp cho cơng cụ tài chính phái sinh phải

nhìn nhận rằng chuNn mực kế tốn quốc tế liên quan đến cơng cụ tài chính (phái

sinh) cũng còn rất nhiều vấn đề cần bàn luận và đây khơng phải là chuNn mực duy nhất,

có nghĩa là còn liên quan đến một số chuNn mực khác nữa. Trong khuôn khổ của luận

án, từ kết quả nghiên cứu định lượng, việc áp dụng kế tốn cơng cụ tài chính phái

sinh ở các doanh nghiệp hiện nay bị ảnh hưởng bởi: (i) Đo lường cơng cụ tài chính phái

sinh sau ghi nhận ban đầu; (ii) Trình bày cơng cụ tài chính phái sinh trên báo cáo tài

chính; (iii) Hạch tốn cơng cụ tài chính phái sinh.

Để doanh nghiệp có thể áp dụng kế tốn cơng cụ tài chính phái sinh, theo tác

giả đối với cơ quan ban hành chuNn mực kế toán, chế độ kế toán cần ban hành,

hướng dẫn chi tiết các quy định trong ngắn hạn theo hướng:



 Về đo lường cơng cụ tài chính phái sinh

- Do cơng cụ tài chính phái sinh đo lường theo giá trị hợp lý. Khi xác định giá trị

hợp lý, cần đánh giá:

(i) Tài sản tài chính phái sinh hay nợ phải trả tài chính phái sinh xác định theo

giá trị hợp lý. N ếu khơng có giá niêm yết trên thị trường có thể xác định giá trị hợp lý

bằng các kỹ thuật định giá để xác định giá trị vào ngày xác định giá trị trong một giao

dịch trao đổi ngang giá.

(ii) Kỹ thuật định giá trong việc xác định giá trị hợp lý. Kỹ thuật định giá cần tối

đa hóa việc sử dụng các yếu tố đầu vào có liên quan quan sát được và tối thiểu hóa

các yếu tố đầu vào khơng quan sát được. Các yếu tố đầu vào này cần phải nhất quán

với các yếu tố mà bên tham gia thị trường sử dụng khi định giá tài sản hoặc nợ phải

trả phái sinh.

- Việc quy định các kỹ thuật định giá phải phù hợp với hồn cảnh và những dữ

liệu sẵn có để xác định giá trị hợp lý. Cần quy định chi tiết ba kỹ thuật định giá được sử

dụng rộng rãi là: (i) phương pháp giá thị trường; (ii) phương pháp chi phí; và (iii)

phương pháp thu nhập. Theo đó, cần xác định kỹ thuật định giá một cách nhất quán

theo một hoặc nhiều phương pháp nêu trên để xác định giá trị hợp lý.

- Quy định kỹ thuật định giá các yếu tố đầu vào: các kỹ thuật định giá được sử

dụng để xác định giá trị hợp lý phải sử dụng tối đa các yếu tố đầu vào có thể quan

sát được có liên quan và hạn chế sử dụng các yếu tố đầu vào không thể quan sát

được. Kỹ thuật định giá để xác định giá trị hợp lý có thể: (i) Sử dụng giá trị của các



giao dịch



146



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×