Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tại Việt Nam chưa quy định.

Tại Việt Nam chưa quy định.

Tải bản đầy đủ - 0trang

60



(b) N hững thuyết minh về rủi ro tín dụng, tài sản tài chính q hạn thanh

tốn hoặc bị suy giảm giá trị, tài sản thế chấp và các hình thức hỗ trợ tín dụng

nhận được, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường (IFRS 7.34b).

(c) Mức độ rủi ro tập trung nếu khơng được trình bày rõ trong những

thuyết minh theo mục (a) và (b).

N ếu các dữ liệu định lượng được thuyết minh vào cuối kỳ báo cáo không đại

diện cho các rủi ro mà đơn vị phải đối mặt trong kỳ thì đơn vị phải cung cấp thêm

thông tin thể hiện rõ các rủi ro của đơn vị (IFRS 7.35).

Tại Việt N am, xét trong nội dung quy định tại thơng tư 210/2009/TT-BTC

thì các quy định này chưa được hướng dẫn cụ thể và chi tiết, đồng thời một số

nội dung chưa được đề cập, hoặc bổ sung, điều chỉnh thêm cho phù hợp và có

phần lỗi thời so với quy định hiện hành tại các chuNn mực kế tốn và chuNn mực

BCTC quốc tế tính đến thời điểm này.

Từ các quy định về kế tốn cơng cụ tài chính nói chung và CCTCPS nói

riêng có thể thấy tính chất phức tạp, khó nhận diện, khó hiểu và khó thực hiện.

Tuy nhiên, xét ở quan điểm khác, theo Yagoubi (2014) thì:

(i) Ở góc độ kinh tế, kế tốn CCTCPS tạo điều kiện cho dòng vốn hoạt động

hiệu quả trên thị trường; có chức năng đo lường, và là hệ thống đánh giá, xác

định giá trị hàng hóa, dịch vụ...

(ii) Ở góc độ thể chế, kế tốn bao gồm các khn khổ pháp lý, kiểm sốt các

q trình kinh tế và giải mã các giá trị kinh tế, đồng thời tăng cường vai trò thơng

tin và sự thích hợp của thơng tin thơng qua việc trình bày và được cơng bố

trên BCTC.

(iii) Ở góc độ xã hội, kế tốn góp phần mang lại lợi ích xã hội, duy trì và

phát triển bền vững cho xã hội thơng qua việc cải thiện thơng tin. Do đó, có thể

nói kế tốn được xem xét như một cơng cụ kiểm sốt, quản trị hiệu quả. Với cách

nhìn nhận này, kế tốn là công cụ cung cấp phương pháp trong đo lường, cơng

bố và trình bày, và dễ thực hiện.

Từ quan điểm này, có thể nhận thấy, để giảm thiểu rủi ro trong hoạt

động kinh doanh, góp phần thúc đNy xã hội phát triển, và tạo những bước tiến

mới trong



61



hội nhập và hài hòa với kế tốn quốc tế, đối với kế toán CCTCPS ở Việt N am cũng

cần được thực hiện, và tiến hành thông qua:

- Phân loại.

- Ghi nhận ban đầu.

- Dừng hoặc ngừng ghi nhận.

- Đo lường.

- Trình bày

- Cơng bố (thuyết minh).

- Tài khoản kế tốn.

2.3. Các lý thuyết nền tảng

2.3.1. Lý thuyết thơng tin hữu ích

Theo một số nghiên cứu của Chambers (1960), Ijiri và Jaedicke (1966), AAA

(1966), McDonald (1967), Snavely (1967), Sterling (1970), và AICPA (1970): Lý

thuyết thơng tin hữu ích cho việc ra quyết định kinh tế cung cấp thơng tin tài

chính liên quan đến DN để sử dụng trong việc đưa ra quyết định. Đặc tính của lý

thuyết thơng tin hữu ích là: (i) công bố đầy đủ thông tin giúp cho các tổ chức ra

quyết định kinh tế; (ii) quản trị nguồn lực kinh tế của một tổ chức phù hợp hơn;

(iii) duy trì và truyền đạt thơng tin cho các bên sử dụng thông qua BCTC; và (iv) sử

dụng thông tin kế toán để đánh giá hoặc đưa ra khả năng dự đoán những vấn

đề tương lai của một tổ chức như lợi nhuận, dòng tiền, khả năng phá sản... nhằm

mang lại lợi ích cho các bên tham gia thị trường tạo điều kiện cho các thị

trường hoạt động hiệu quả, kinh tế phát triển và mang lại lợi ích cho xã hội.

- Trong lĩnh vực kế tốn, việc cơng bố thơng tin kế tốn đầy đủ, chất lượng

được xem là thơng tin hữu ích phải đáp ứng được giá thị trường của sản phNm,

hàng hóa, dịch vụ. Trong nghiên cứu này giá thị trường bị chi phối bởi nhân tố thị

trường. Thị trường là nơi giao dịch của các sản phNm, hàng hóa, tỷ giá, lãi suất,…

Do đó, thơng tin kế tốn phải phản ánh được thực trạng thị trường thơng qua giá

cả và chất lượng. Kế tốn CCTCPS đòi hỏi các sản phNm phái sinh phải đo lường,

đánh giá và được theo dõi theo giá thị trường. N hư vậy, thị trường là cầu nối giữa

giá ghi sổ kế toán và giá thị trường; giữa bên truyền thông tin và bên nhận thông

tin; đồng thời phụ thuộc vào giá trị của thông tin để DN một phần phân bổ nguồn

lực kinh tế hiệu



62



quả, một phần dự đoán được sự thay đổi của thị trường từ đó có khả năng ứng

phó kịp thời trước sự biến đổi đột ngột của thị trường (Beaver và cộng sự, 1968).

Từ nguồn thông tin mà các DN cung cấp qua số liệu của báo cáo kế tốn

khơng những giúp DN phân bổ nguồn lực kinh tế hiệu quả hơn mà còn giúp DN có

thể tiếp cận và tham gia thị trường tài chính, thị trường vốn, thị trường

chứng khoán, thị trường phái sinh… N gược lại, nếu thiếu vắng thơng tin từ phía thị

trường nói chung sẽ là trở ngại lớn cho các DN áp dụng kế tốn CCTCPS.

- Thơng tin kế tốn CCTCPS hữu ích ngoài việc giúp nhà quản trị phân bổ

nguồn lực kinh tế ở đơn vị phù hợp, phòng ngừa rủi ro hiệu quả, còn giúp nhà

quản trị dự đốn tốt nhất tình trạng thị trường phái sinh và giá của các sản phNm

phái sinh trong một thời kỳ nhất định. Tuy nhiên với dữ liệu kế tốn cung cấp,

liệu có được xem là tốt nhất hay khơng còn phụ thuộc vào đối tượng thực hiện

thơng tin. Vì vậy, trong nghiên cứu này, đối tượng cung cấp thơng tin đó là người

làm kế tốn có liên quan trực tiếp đến áp dụng kế tốn CCTCPS. N gồi ra, nhà

quản trị là đối tượng sử dụng thơng tin kế tốn từ bên ngồi vào, nên cũng có thể

căn cứ vào báo cáo kế tốn để dự đốn tình hình thị trường phái sinh, giá cả và

chất lượng của các sản phNm phái sinh. Do đó, năng lực chun mơn của người

làm kế toán và năng lực quản lý của nhà quản trị trong việc nắm bắt thông tin về

thị trường, về sản phNm tài chính phái sinh, về giá cả… để ra quyết định kinh tế

(Beaver và cộng sự, 1968), có ảnh hưởng đáng kể đến áp dụng kế tốn CCTCPS.

Chính sự tồn tại về giá thị trường của các sản phNm phái sinh; bên cung cấp

thông tin đầu ra cho phép các bên liên quan có thể dự đốn về giá cả, về triển

vọng của một doanh nghiệp; bên nhận thông tin đầu vào sử dụng thơng tin cho

q trình ra quyết định; bên quy định về đặc điểm thông tin, chất lượng thơng

tin... là đặc tính cơ bản của lý thuyết thơng tin hữu ích trong kế tốn. Tóm lại,

dựa vào lý thuyết thơng tin hữu ích, trong nghiên cứu này, tác giả khám phá

được các nhân tố có thể ảnh hưởng đến mơ hình nghiên cứu, đó là: nhân tố thị

trường; nhân tố con người.

2.3.2. Lý thuyết tín hiệu

Lý thuyết tín hiệu ra đời năm 1973, từ ngành kinh tế học trong điều kiện

bất đối xứng về thông tin (Spence, 1973; Tirole, 1988). Trong lĩnh vực kế tốn,



63



tình trạng thông tin bất đối xứng dẫn đến hai vấn đề:



64



Thứ nhất, thơng tin kế tốn khơng được doanh nghiệp trình bày đầy đủ

trên BCTC, hoặc có thể thơng tin mà DN trình bày và cơng bố khơng đảm bảo

chất lượng. Tình trạng này có thể là do người làm kế tốn chưa đủ chun mơn,

nghiệp vụ, kiến thức sâu để xử lý các vấn đề thực tiễn trong đơn vị và, hoặc nhà

quản trị không đủ năng lực để thực hiện thông tin BCTC chất lượng. N hư vậy,

nhân tố người làm kế toán khi thực hiện báo cáo kế tốn liên quan đến

CCTCPS có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng BCTC. Trong nghiên cứu này, để

giảm thiểu sự bất đối xứng về thông tin, nếu người làm kế toán khả năng vận

dụng và xử lý kế toán CCTCPS tốt, kiến thức, chuyên môn cao sẽ tác động rất

lớn đến áp dụng kế tốn cơng cụ tài chính phái sinh dẫn đến BCTC minh bạch,

đáng tin cậy và có chất lượng. N gược lại, nếu người làm kế toán chưa am

tường các quy định về kế toán CCTCPS, hoặc do tính chủ quan của người làm kế

tốn khơng những tác động đến áp dụng kế tốn CCTCPS mà còn ảnh hưởng đến

thơng tin kế tốn khơng hữu ích.

Thứ hai, động cơ của nhà quản trị trong việc công bố thơng tin, bởi vì nhà

quản trị có lợi nhất về thơng tin có nghĩa là nhà quản trị là đối tượng cung cấp

thông tin, độc quyền trong việc cung cấp thơng tin. Do đó, nhà quản trị sẽ cung

cấp thơng tin ra bên ngồi có lợi nhất cho bản thân nhà quản trị và cho doanh

nghiệp. Cả hai vấn đề này khơng những gây khó khăn cho các đối tượng sử dụng

thơng tin kế tốn trên BCTC khi ra quyết định kinh tế mà còn dẫn đến sự kém

phát triển của các thị trường. Ở nghiên cứu hiện tại, nếu nhà quản trị không

cung cấp hoặc cung cấp thông tin kế tốn cơng cụ tài chính phái sinh khơng

đầy đủ do mục đích của nhà quản trị hay hệ thống kế toán thiếu sự tham gia và

hợp tác của nhà quản trị, hoặc nhà quản trị chưa am hiểu, hoặc chưa nhận thức

được tầm quan trọng của thông tin kế tốn cơng cụ tài chính phái sinh có thể dẫn

đến (i) thơng tin kế tốn cơng bố sẽ khơng hữu ích cho các đối tượng sử dụng,

(ii) người làm kế tốn gặp khó khăn trong áp dụng kế tốn cơng cụ tài chính phái

sinh.

Trong nền kinh tế, các thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường hàng

hóa, thị trường phái sinh... cùng hỗ trợ và bổ sung cho nhau, nếu sự kém phát

triển của một thị trường sẽ dẫn đến sự lây lan cho các thị trường còn lại. Sự kém



65



phát triển của một thị trường xuất phát từ sự bất đối xứng thơng tin trong đó

con người là nhân tố quyết định đến thị trường giao dịch, đồng thời, thị trường

đóng vai trò quan



66



trọng trong việc cung cấp thông tin về giá cả và chất lượng của các sản phNm phái

sinh. N hư vậy, nếu thông tin kịp thời, đầy đủ có ảnh hưởng tốt đến hoạt động

thị trường, ngược lại, dẫn đến sự kém hiệu quả của thị trường. Trong nghiên cứu

này, thị trường được xem là nhân tố quyết định cho các doanh nghiệp tham

gia, đồng thời ảnh hưởng đến nguồn thông tin mà doanh nghiệp cần tham chiếu.

Tóm lại, vận dụng lý thuyết tín hiệu trong mơ hình nghiên cứu nhằm diễn

giải cho nhân tố con người; và nhân tố thị trường thông qua nguồn thông tin bất

đối xứng xuất phát từ (i) mức độ về kiến thức, hiểu biết, chuyên môn khác

nhau, dẫn đến kết quả của kế tốn sẽ khác; hoặc có thể (ii) lợi ích nhóm, thơng

qua hành vi của nhà quản trị và người người làm kế tốn, từ đó sẽ can thiệp

vào hệ thống kế tốn sao cho có lợi nhất cho mục tiêu của mình, vì vậy cũng ảnh

hưởng đến áp dụng kế tốn cơng cụ tài chính phái sinh. Tuy nhiên, việc quan sát

hành vi của các đối tượng này không dễ dàng.

2.3.3. Lý thuyết nguồn lực doanh nghiệp

Theo lý thuyết nguồn lực doanh nghiệp (Wernerfelt, 1984), tập trung

phân tích: (1) nguồn lực hữu hình như nguồn lực về tài chính đó là nguồn vốn

góp của chủ sở hữu và nguồn tài trợ; (2) nguồn lực vơ hình có thể là kiến thức, kỹ

năng của nhà quản trị, nhân viên... Với nguồn lực hữu hình, lý thuyết này là cơ sở

cho việc ra quyết định nhằm tạo hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp. Với nguồn

lực vơ hình, đó chính là nguồn nhân lực.

Trong lĩnh vực kế tốn, dưới góc độ của doanh nghiệp, việc bồi dưỡng nâng

cao chuyên môn cho đội ngũ hiện tại và đội ngũ kế thừa là cần thiết nhằm đảm

bảo chuyên môn, kiến thức, khả năng vận dụng, khả năng cập nhật kiến thức…

cho cả người làm kế toán và nhà quản trị. Trong nghiên cứu này, để người làm kế

toán áp dụng kế tốn cơng cụ tài chính phái sinh thuận lợi ngồi việc đào tạo,

bồi dưỡng cho đội ngũ kế tốn hiện tại còn phải đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ kế

thừa và nhà quản trị là sự cần thiết phải thực hiện bởi nếu có đầy đủ kiến thức,

chuyên mơn, nghiệp vụ, người làm kế tốn mới có thể tuân thủ đạo đức nghề

nghiệp, tổ chức điều hành bộ máy kế toán, lập BCTC tuân thủ chế độ kế tốn và

chuNn mực kế tốn... có như vậy thì báo cáo kế toán tại đơn vị mới đảm bảo

chất lượng. Đồng thời, nhà



67



quản lý cũng cần có chun mơn tốt để phối hợp, tổ chức và quản lý bộ máy kế

tốn chặt chẽ đảm bảo BCTC cơng bố đạt chất lượng tốt nhất.

Cùng với lý thuyết nguồn lực doanh nghiệp còn có lý thuyết quản trị doanh

nghiệp. Lý thuyết quản trị doanh nghiệp nhằm thiết lập mối quan hệ giữa nhà

quản trị, cổ đông và các bên liên quan nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ

chức, thông qua các phương tiện giám sát, kiểm soát (Chris và cộng sự, 2007).

Tính hiệu quả của việc kiểm sốt, kiểm tra được biểu hiện thông qua chất lượng

thông tin được công bố trong BCTC làm gia tăng mối quan tâm giữa các bên và

làm cơ sở cho việc ra quyết định kinh tế (John, 1992). Thuộc tính của lý thuyết

quản trị doanh nghiệp hướng đến nhân tố con người và nhân tố hiệu quả hoạt của

một tổ chức.

Trong nghiên cứu này, hiệu quả hoạt động của một tổ chức được thể

hiện thông qua cơ cấu và quy trình hoạt động của doanh nghiệp. Với doanh

nghiệp đã, đang sử dụng CCTCPS thì quan điểm cho rằng kế tốn cơng cụ tài

chính phái sinh là một phần cơ bản của cơ cấu và quy trình tổ chức, kế tốn ghi

nhận tài sản tài chính phái sinh, nợ tài chính phái sinh,... trên BCTC, là một

kênh quan trọng để thơng qua đó các nhà đầu tư dựa trên các số liệu kế toán,

kết hợp với thông tin từ các nguồn khác, ra quyết định kinh tế cho các hoạt động

trong tương lai. Do đó, để thơng tin kế tốn cơng cụ tài chính phái sinh của

doanh nghiệp được thừa nhận là chất lượng, đáng tin cậy, cần phải có kênh

truyền thơng tốt, một hệ thống internet đạt chất lượng cao, một hệ thống phần

mềm kế toán xử lý nhanh, chuNn xác cùng với một nguồn nhân lực đầy đủ năng

lực, chuyên môn và thường xuyên cập nhật kiến thức, bồi dưỡng, nâng cao

nghiệp vụ, chuyên môn tại đơn vị là cần thiết để doanh nghiệp áp dụng kế tốn

CCTCPS được thuận lợi. Thêm vào đó, nhà quản trị, ngoài việc thực hiện quản lý

về chuyên mơn, cần phải nhận thức, am hiểu và phải có kiến thức về kế toán

CCTCPS liên quan đến lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh của đơn vị. Sự tham gia

của các nhà quản trị trong công việc cập nhật kiến thức, bồi dưỡng nghiệp vụ,

chun mơn cho chính nhà quản trị là nhân tố quyết định sự thành công trong

hoạt động kinh doanh bởi ngồi chun mơn quản lý, nhà quản trị còn phải chịu

trách nhiệm trong việc tổ chức bộ máy kế tốn, phân cơng và bố trí người làm kế



68



tốn, đồng thời chỉ đạo thực hiện cơng tác kế toán trong đơn vị theo quy



69



định của pháp luật về kế toán và chịu trách nhiệm trực tiếp thuộc trách nhiệm

quản lý của mình trước pháp luật.

Tóm lại, với doanh nghiệp sử dụng CCTCPS để phòng ngừa rủi ro và để

doanh nghiệp áp dụng kế toán CCTCPS thuận lợi, lý thuyết nguồn lực doanh nghiệp

và lý thuyết quản trị doanh nghiệp được tác giả đưa vào nghiên cứu này nhằm

giải thích về nhân tố con người – nhà quản trị; nhân tố con người – người làm kế

toán; nhân tố đào tạo, bồi dưỡng; và nhân tố công nghệ thơng tin, truyền

thơng, phần mềm kế tốn.

2.3.4. Lý thuyết cung cầu

Theo Stigle (1971), cung - cầu là những lực lượng làm cho nền kinh tế thị

trường hoạt động. N ghiên cứu cung - cầu là nghiên cứu về hành vi của con người,

cũng như sự tương tác giữa các bên tham gia thị trường với nhau. Trên thị

trường người mua và người bán là người chấp nhận giá. N gười mua quyết định

cầu, người bán quyết định cung. Cân bằng thị trường được xác định bởi giao điểm

giữa cung và cầu.

Các nhà kinh tế vi mơ sử dụng mơ hình tổng cầu và tổng cung để phân tích

các biến động kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, giá cả là những tín hiệu

hướng dẫn việc phân bổ các nguồn lực. Trong kế tốn, mơ hình kinh tế vi mơ

được sử dụng để phân tích thơng tin, mơ tả nhu cầu sử dụng và cung cấp

thông tin nhằm phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả. Quan hệ cung - cầu

trong kế toán được thể hiện ở chỗ, cung - cung cấp thơng tin ra bên ngồi cho các

bên, và cầu - nhu cầu nhận được thông tin từ bên ngồi. Do thơng tin kế tốn là

thơng tin dễ sai lệch do tính chủ quan của người lập, mang phức tạp do nhiều

kỹ thuật và chính sách kế tốn, và đa chiều vì nhiều đối tượng sử dụng khác

nhau, nên các bên cầu và cung thông tin đều phải đảm bảo đáp ứng nhu cầu

thực sự của xã hội. Do đó, việc định lượng thơng tin kế tốn sẽ xuất phát từ việc

định lượng mối quan hệ giữa cung và cầu của thơng tin kế tốn. Tại nghiên cứu

này, lý thuyết cung cầu hướng đến hai vấn đề:

Đối với các đối tượng cung cấp thơng tin kế tốn. Thơng tin kế tốn khơng

như các hàng hóa thơng thường, là nguồn thông tin được cung cấp độc quyền

bởi một tổ chức. Với một thị trường hàng hóa độc quyền có thể dẫn đến lỗi cả hệ



thống,



70



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tại Việt Nam chưa quy định.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×