Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

17

17



bồi dưỡng và phát triển tài năng, đưa thể thao nước ta đạt vị trí cao của khu vực, từng

bước tiếp cận với châu lục và thế giới [3], [92].

Ngày 3/12/2010, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2198/QĐ-TTg phê duyệt

Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020.

Theo đó, Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 sẽ tập trung với 3

nội dung chủ yếu là: TDTT cho mọi người; Thể thao thành tích cao và thể thao chuyên

nghiệp; Ủy ban Olympic Việt Nam và tổ chức xã hội - nghề nghiệp về thể thao. Chiến

lược nhằm xây dựng và phát triển nền TDTT nước nhà để nâng cao sức khỏe nhân

dân, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp cơng nghiệp

hóa và hiện đại hóa đất nước và tăng tuổi thọ của người Việt Nam theo tinh thần vì sự

nghiệp dân cường, nước thịnh, hội nhập và phát triển [83], [98].

TDTT luôn phải gắn liền với việc an sinh xã hội, vừa tăng cường sức khỏe cho

người tập luyện, vừa tạo sân chơi lành mạnh giúp nhân dân tránh xa các tệ nạn xã hội.

TDTT còn phải gắn liền với việc giáo dục đạo đức cho con người, gắn với hợp tác

quốc tế, tăng tình đồn kết giữa các nước; gắn liền với phát triển kinh tế, thúc đẩy kinh

tế phát triển. Đó cũng chính là mục tiêu lớn mà thể thao Việt Nam hướng tới [92].

Hiện nay, văn kiện trình Đại hội XII Đảng ta nhấn mạnh sự quan tâm đặc biệt và

làm rõ hơn lập trường, quan điểm, tính nhất quán về sự cần thiết phải đổi mới căn bản,

toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực.

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, đã từng

được khẳng định trong các văn kiện Đảng trước đây, đặc biệt là trong Nghị quyết số 29

của Hội nghị Trung ương 8, khóa XI, khẳng định đây khơng chỉ là quốc sách hàng đầu,

là “chìa khóa” mở ra con đường đưa đất nước tiến lên phía trước, mà còn là “mệnh

lệnh” của cuộc sống [5].

1.1.2. Công tác quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho

Thể dục thể thao trong giai đoạn hiện nay

Văn kiện Đại hội Đảng X đã thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng về phát

triển TDTT nhằm nâng cao sức khỏe, thể lực, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của

nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ Việt Nam, góp phần thực hiện các nhiệm vụ phát triển

kinh tế - xã hội và đối ngoại của Đảng và Nhà nước [99].



18

18



Tổ chức, chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực cho phát triển TDTT là

một trong những nội dung quan trọng của quản lý nhà nước về TDTT đã được Luật

TDTT quy định tại khoản 2 Điều 6. Để đảm bảo phát triển sự nghiệp TDTT theo đúng

định hướng, không ngừng nâng cao chất lượng các hoạt động TDTT, đòi hỏi phải có

nguồn nhân lực rất lớn, đa dạng, phong phú bao gồm nhiều lực lượng lao động khác

nhau về chun mơn nghiệp vụ và trình độ đào tạo từ cán bộ quản lý cấp cao ở trung

ương đến cán bộ quản lý ở cơ sở. Từ cán bộ giảng viên đại học đến giáo viên tiểu học,

mầm non, từ huấn luyện viên đội tuyển quốc gia đến hướng dẫn viên thể thao ở cơ sở

và các cán bộ chuyên môn nghiệp vụ, cán bộ khoa học thuộc các lĩnh vực chuyên

ngành có liên quan cho đến các lực lượng lao động kinh doanh dịch vụ khác tác nghiệp

trong lĩnh vực TDTT. Vì vậy nhà nước ban hành các chính sách và thống nhất quản lý

cơng tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển sự nghiệp

TDTT [64].

Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng một cách có hệ thống đội ngũ cán bộ quản

lý về TDTT làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới địa

phương (Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; các Sở Văn hố, Thể thao và Du lịch; các

Phòng Văn hố - Thông tin), đây là đội ngũ cán bộ làm cơng tác quản lý nhà nước về

TDTT có nhiệm vụ chính là tham mưu xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách

của nhà nước về TDTT. Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý thể thao làm việc trong

các tổ chức xã hội về thể thao (Uỷ ban Olimpic Việt nam; Hiệp hội thể thao người

khuyết tật Việt nam), tổ chức xã hội nghề nghiệp về thể thao (các Liên đoàn, Hiệp hội

thể thao), đây là những nhà quản lý chuyên nghiệp tổ chức các hoạt động TDTT. Đào tạo

bồi dưỡng đội ngũ huấn luyện viên, giáo viên, giảng viên, hướng dẫn viên về TDTT làm

việc trong các cơ sở thể thao, đây là những cán bộ chun mơn đòi hỏi tính chun sâu

trong các hoạt động nghề nghiệp huấn luyện, giảng dạy; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa

học thể thao làm việc trong các cơ sở nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ về thể

thao; đào tạo, bồi dưỡng lực lượng lao động khác phục vụ cho công tác quản lý, huấn

luyện, giảng dạy TDTT như kỹ thuật viên điều dưỡng, chăm sóc sức khoẻ, vệ sinh, môi

trường [6].



19

19



Nhà nước chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho TDTT dựa trên

chiến lược đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của Đảng

và Nhà nước. Trên cơ sở chiến lược chung đó, cơ quan quản lý nhà nước về thể dục, thể

thao ở trung ương có trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch , kế hoạch đào

tạo nguồn nhân lực TDTT chung cho toàn quốc phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội từng

thời kỳ theo từng đối tượng, vùng lãnh thổ. Quy hoạch, kế hoạch đào tạo bồi dưỡng phát

triển nguồn nhân lực được xây dựng một cách tổng thể và chi tiết theo những tiêu chí đáp

ứng nhu cầu phát triển sự nghiệp TDTT của cả thời kỳ và từng giai đoạn đã được xác định

trong chiến lược và quy hoạch phát triển TDTT của đất nước [9], [92].

Đặc biệt chú trọng ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng nhân lực cho các vùng có điều kiện

kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn bằng nguồn kinh phí từ ngân sách do các cơ quan nhà

nước chủ trì thực hiện. Cơ quan quản lý hành chính nhà nước về TDTT các cấp chịu

trách nhiệm tham mưu, tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng

nhân lực TDTT cho các đối tượng thuộc các ngành, lĩnh vực, vùng, miền do địa

phương được phân cấp quản lý như: tổ chức và chỉ đạo công tác đào tạo bồi dưỡng đội

ngũ giảng viên, giáo viên TDTT cho các nhà trường và cơ sở giáo dục đào tạo trong hệ

thống giáo dục quốc dân. Tổ chức và chỉ đạo công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ

cộng tác viên thể thao cơ sở. Tổ chức và chỉ đạo đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ HLV và

cán bộ quản lý thể thao trong lực lượng vũ trang trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh

dịch vụ thể thao [3], [92].

Công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực cho TDTT mang tính đặc thù của hoạt

động thể thao là nhằm điều khiển sự phát triển thể chất nâng cao sức khoẻ của con

người. Nó có tác dụng giáo dục nâng cao khả năng thành tích tối đa của con người

nên đòi hỏi phải dựa trên cơ sở khoa học của nhiều chuyên ngành khác nhau về con

người như y sinh học, tâm lý học, đạo đức học, xã hội học... [89].

Do đó, để đào tạo được nguồn nhân lực TDTT có chất lượng trước hết phải đào

tạo và bồi dưỡng được đội ngũ cán bộ giảng viên có trình độ cao thuộc nhiều lĩnh vực

làm nhiệm vụ nghiên cứu, đào tạo tại các cơ sở đào tạo, nghiên cứu trọng điểm của

nhà nước. Nơi đào tạo ra đội ngũ cán bộ quản lý, HLV, giáo viên, giảng viên, bác sỹ

thể thao có trình độ chun mơn giỏi. Nhà nước ban hành chính sách đào tạo bồi



20

20



dưỡng và thu hút các nhà khoa học đầu ngành về làm việc tại các cơ sở đào tạo này

[22].

Chính sách đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực luôn luôn gắn kết không thể tách

rời với chính sách sử dụng cán bộ, lao động hợp lý, đãi ngộ và trả công tương xứng

cho từng vị trí cơng việc được đảm trách. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ

chức thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nhân lực cho TDTT, đồng thời chỉ đạo các

tổ chức, cá nhân tham gia phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp

TDTT [7].

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ đào tạo bồi dưỡng nhân lực cho TDTT nêu trên, cơ

quan quản lý nhà nước về TDTT ở trung ương có trách nhiệm phối hợp với các bộ

ngành có liên quan như: Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Lao động, Thương binh và Xã

hội, Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng, Bộ Cơng an, Bộ Kế hoạch đầu tư, Bộ Tài chính… giúp

Chính phủ xây dựng quy hoạch mạng lưới các cơ sở đào tạo cán bộ, HLV, giáo viên

GDTC trong cả nước, thống nhất chương trình đào tạo cán bộ, chun mơn nghiệp vụ

về thể thao ở các cấp độ khác nhau đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động trong các

cơ sở thể thao [97].

1.2. Khái quát chương trình, các tiêu chí đánh giá chương trình, phát triển thể

chất và GDTC

1.2.1. Chương trình và chương trình giáo dục đại học

Trong phần này, luận án sẽ đề cập và làm rõ một số khái niệm cơ bản liên quan

đến vấn đề nghiên cứu như: Chương trình, chương trình giáo dục đại học.

Chương trình (Curriculum) trong tiếng Anh đã được nhiều tác giả, nhà khoa học

giáo dục chuyển dịch sang tiếng Việt là chương trình đào tạo, chương trình giáo dục,

chương trình học, chương trình dạy học… Thuật ngữ này trong các tài liệu tiếng Anh

về giáo dục, chương trình giáo dục trong nhà trường cũng được định nghĩa và giải

thích theo nhiều cách khác nhau [12].

Việc đưa ra định nghĩa về chương trình hồn tồn khơng dễ dàng. Qua các định

nghĩa về chương trình của nhiều tác giả, nhà nghiên cứu như: Hilda Taba (1962),

Tanner (1995), Piter F. Oliva, Ronald C. Doll (1996), White (1995)… đã cho thấy việc



21

21



quan niệm thế nào về chương trình giáo dục khơng chỉ đơn thuần là vấn đề định nghĩa

về chương trình mà nó còn thể hiện rõ quan điểm của mỗi người về giáo dục.

Đồng thuận với các quan điểm về chương trình giáo dục, luận án bày tỏ ý kiến về

chương trình như sau:“Chương trình giáo dục là bản thiết kế tổng thể được trình bày

một cách có hệ thống cho một hoạt động giáo dục, đào tạo của một khóa học trong

một khoảng thời gian xác định và được thể hiện ở 4 yếu tố sau: 1) Mục tiêu đào tạo

(được cụ thể hóa qua kết quả đào tạo); 2) Nội dung đào tạo (các mơn học) và thời

lượng chương trình, mỗi mơn học; 3) Quy trình và các phương pháp triển khai thực

hiện nội dung đào tạo đã được quy định trong chương trình để đạt được mục tiêu đào

tạo; 4) Phương pháp kiểm tra - đánh giá kết quả đào tạo” [12], [16], [19], [21].

Chương trình đào tạo của một ngành học (Program) ở một trình độ cụ thể bao

gồm: mục tiêu, chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ của người học cần đạt được sau khi

tốt nghiệp; nội dung, phương pháp và hoạt động đào tạo; điều kiện cơ sở vật chất - kỹ

thuật, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và các hoạt động học thuật của đơn vị được

giao nhiệm vụ triển khai đào tạo ngành học đó [21].

Chương trình dạy học (Curriculum) của một chương trình đào tạo ở một trình độ

cụ thể bao gồm: mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể và chuẩn đầu ra đối với ngành học và

mỗi học phần; nội dung đào tạo, phương pháp đánh giá và thời lượng đối với ngành

học và mỗi học phần [21].

1.2.2. Khái niệm tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá chương trình mơn học

Tiêu chuẩn đánh giá chương trình mơn học

Thuật ngữ “tiêu chuẩn” trong Đại từ điển tiếng việt là “Điều được quy định dùng

làm chuẩn để phân loại đánh giá”. Trong chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung cấp năm

2010, năm 2012 “Tiêu chuẩn là quy định về những nội dung cơ bản, đặc trưng thuộc

mỗi lĩnh vực của chuẩn” [49], [109].

Như vậy tiêu chuẩn trong đánh giá chương trình đào tạo là những quy định về

những nội dung cơ bản, đặc trưng thuộc mỗi lĩnh vực để đánh giá chương trình đào

tạo.

Tiêu chí đánh giá chương trình đào tạo



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×