Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN III. THỰC TRẠNG THI HÀNH VÀ TÁC ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG, KINH DOANH CỦA CÔNG TY

PHẦN III. THỰC TRẠNG THI HÀNH VÀ TÁC ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG, KINH DOANH CỦA CÔNG TY

Tải bản đầy đủ - 0trang

lợi nhuận cho công ty. Tất cả các hoạt động của cơng ty đều được thực hiện dưới hình

thức giao kết hợp đồng giữa hai bên.

Về hình thức của hợp đồng: Cơng ty áp dụng linh hoạt các hình thức hợp đồng

khác nhau cho các đối tượng khách hàng khác nhau. Nhưng chủ yếu là bằng văn bản, nhất

là đối với hợp đồng có giá trị lớn, mức độ rủi ro cao. Công ty luôn tuân thủ đúng những

quy định của pháp luật về hình thức của hợp đồng, cụ thể tại Điều 401 Bộ luật Dân sự

2005, nay được thay thế tại Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 24 Luật Thương mại

2005.

Về nội dung của hợp đồng: Công ty luôn thực hiện đúng quy định của pháp luật tại

Điều 402 Bộ luật Dân sự 2005, nay được thay thế tại Điều 398 Bộ luật dân sự 2015. Khi

thực hiện hợp đồng, Công ty cũng luôn tuân thủ đúng những nguyên tắc được quy định tại

điều 412 Bộ luật Dân sự 2005 cũng như các thỏa thuận đã ghi trong hợp đồng như giao

nhận hàng đúng thời gian, địa điểm, chủng loại, số lượng cũng như chất lượng hàng hóa,

thanh tốn đầy đủ, đúng hạn,… đối với các hợp đồng mua bán hàng hóa. Còn đối với các

hợp đồng dịch vụ đa phần có giá trị lớn và mức độ rủi ro cao nên Công ty thường sử dụng

hợp đồng giao kết bằng văn bản, quyền và nghĩa vụ của các bên được tuân thủ nghiêm

chỉnh theo quy định từ Điều 78 tới Điều 87 Luật Thương mại 2005.

Cơng ty còn tham gia ký kết một số hợp đồng với tư cách là nhà thầu, nên các hoạt

động sẽ được điều chỉnh bởi Luật đấu thầu năm 2013.

3.1.2. Tình hình thực thi pháp luật về sử dụng lao động

Để thực hiện hoạt động kinh doanh và nhằm nâng cao doanh thu cho Cơng ty.

Trong q trình hoạt động của mình Cơng ty ln cố gắng sử dụng nguồn lao động một

cách hiệu quả mà không vi phạm Bộ luật Lao động. Trong q trình tuyển dụng,bố trí,

đào tạo và đãi ngộ cho người lao động Công ty luôn thực hiện dựa trên cơ sở pháp luật

quy định, cụ thể:





Về ký kết hợp đồng lao động: Trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình cơng ty



đã tn thủ đúng quy định tại khoản 2 điều 6 – BLLĐ 2012, cụ thể: công ty thực hiện việc

ký kết hợp đồng lao động , trong việc ký kết hợp đồng lao động luôn dựa trên tinh thần tự

nguyện, tuân thủ đúng nguyên tắc về giao kết hợp đồng lao động quy định tại điều 17BLLĐ 2012. Việc lập sổ quản lý lao động, sổ lương xuất trình khi cơ quan có thẩm quyền

13



cũng được cơng ty tn thủ. Các chế độ về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người

lao động được thực hiện đầy đủ.

 Về thực hiện nghĩa vụ tiền lương: Cán bộ nhân viên bên cạnh được hưởng

mức lương tháng theo bảng hệ số lương cơ bản, phù hợp với quy định tại điều 94, 95, 96

– BLLĐ 2012.

 Về thời gian làm việc: Người lao động trong công ty làm việc không quá 8

tiếng một ngày, áp dụng theo đúng quy định tại điều 104 – BLLĐ 2012. Một ngày làm

việc tại Công ty được chia làm 2 ca, ca sáng bắt đầu từ 8h30 đến 12h và ca chiều bắt đầu

từ 13h30 đến 17h30. Một tuần người lao động làm 5 ngày, một tháng làm tối đa 02 ngày

thứ bảy.

 Chế độ Bảo hiểm: Công ty thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và

bảo hiểm khác cho người lao động, chế độ thai sản... tuân thủ theo quy định của pháp luật

về bảo hiểm;

3.1.3. Tình hình thực thi pháp luật về nhập khẩu hàng hóa

Thiết bị cơng nghiệp của Công ty Cổ phần kỹ thuật công nghệ mỏ và công nghiệp

đều được nhập khẩu từ Trung Quốc, Đức, Thổ Nhĩ Kì,... Do vậy, Cơng ty cần phải thực

hiện quá trình nhập khẩu thiết bị vào Việt Nam. Tuy nhiên, do nguồn vốn còn hạn chế nên

để đảm bảo thực hiện tốt theo Luật Thuế Xuất khẩu, Thuế Nhập khẩu thì bên cạnh việc

Cơng ty trực tiếp thực hiện những hợp đồng nhập khẩu với số lượng thiết bị ít và nhập

khẩu từ các quốc gia Châu Á như Trung Quốc. Thì Cơng ty còn tiến hành ủy thác nhập

khẩu cho Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và công nghệ Thăng Long để tiến hành nhập

khẩu các hợp đồng hàng hóa có giá trị lớn nhập khẩu từ Châu Âu, do đây là cơng ty có

quy mơ về thị trường lớn hơn, có kinh nghiệm tốt hơn và am hiểu hơn trong công tác xuất

nhập khẩu. Các hợp đồng ủy thác được công ty lập thành văn bản- tuân thủ theo đúng quy

định tại điều 159- Luật Thương mại 2005. Bên cạnh đó cơng ty ln thực hiện đầy đủ các

nghĩa vụ của mình theo quy định tại điều 163- Luật Thương mại 2005 với bên nhận ủy

thác.

Bên cạnh đó việc nhập khẩu thiết bị của cơng ty còn do chịu sự điều chỉnh của

Luật Hải quan cho nên cơng ty ln có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh, cụ thể: Công ty

kê khai, nộp thuế đầy đủ, đúng hạn theo quy định tại khoản 2 điều 83 Luật Hải quan 2013.



14



3.1.4. Tình hình thực thi pháp luật thuế

Trong quá trình hoạt động kinh doanh, việc chấp hành pháp luật thuế của công ty

là nghĩa vụ hằng năm mà công ty phải tuân thủ nghiêm chỉnh, do vậy trong công tác kê

khai, nộp thuế cho cơ quan nhà nước, công ty luông tuân thủ và chấp hành đúng các quy

định của nhà nước về thuế suất, thời hạn nộp thuế, số tiền thuế phải nộp…của các loại

thuế như: Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng….(Xem bảng

2- Phụ lục)

3.2. Tác động của hệ thống pháp Luật Thương mại đối với hoạt động kinh doanh

của Công ty

Các quy định trong Luật Doanh nghiệp, Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại đưa

ra đã tạo cơ sở tạo pháp lý chắc chắn cho Công ty Cổ Phần kỹ thuật công nghệ mỏ và

công nghiệp trong quá trình tổ chức cơ cấu quản lý của công ty và thực hiện các hoạt

động kinh doanh, mua bán hàng hóa một cách thuận tiên, giảm thiểu được những khó

khăn hay tranh chấp có thể phát sinh trong q trình hoạt động của cơng ty.

Do cơng ty có tiến hành các hoạt động nhập khẩu từ nước ngoài nên Luật thuế

Nhập khẩu, thuế Xuất khẩu, Luật Hải Quan được ban hành giúp cho hoạt động nhập khẩu

thiết bị của Công ty được tiến hành thuận lợi hơn, các thủ tục về kê khai thuế, thủ tục hải

quan ngày càng đơn giản hơn giúp cho công ty rút ngắn được thời gian nộp thuế cũng như

nhận hàng từ đó đảm bảo được tiến độ hoạt động của cơng ty.

Bên cạnh những điểm thuận lợi thì đơi khi do sự chưa rõ rang hoặc không thống

nhất được quy định giữa các điều khoản tại các Bộ luật và bộ luật điều chỉnh, dẫn đến khó

khăn cho cơng ty trong việc thực hiện. Cụ thể như tại Điểm 2 khoản 3 điều 42 Bộ luật

Dân sự quy định “Trong trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm mà khơng có

thảo thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi

phạm”, trong khi đó, theo quy định của khoản 2 điều 307 Luật Thương mại 2005 quy định

“trong trường hợp các bên có thảo thuận phạt vi phạm mà khơng có thỏa thuận bồi thường

thiệt hại thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt

hại” Do vậy nếu có vi phạm xảy ra Cơng ty khó mà giải quyết được khi 2 bộ luật lại mẫu

thuẫn như trên.



15



PHẦN IV. NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THI HÀNH VÀ HỆ

THỐNG PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG

TY

4.1. Đánh giá thực trạng thi hành của công ty

4.1.1. Đánh giá về kết quả đạt được

Công ty Cổ phần kỹ thuật công nghệ mỏ và công nghiệp ngày càng khẳng định

được vị trí và lòng tin của khách hàng qua từng cơng trình đã và đang thực hiện. Cơng ty

đã hồn thành tốt thậm chí là vượt mức chỉ tiêu hàng năm đề ra. Vốn điều lệ của công ty

từ khi mới thành lập đến nay đã tăng từ 4,9 tỷ đồng lên 9,6 tỷ đồng. Công ty đã mở rộng

được thêm mạng lưới đối tác làm ăn, thúc đẩy hoạt động kinh doanh của công ty phát

triển. Để làm được điều này thì việc thực hiện đúng các quy định của pháp luật về những

vấn đề liên quan đến các ngành nghề kinh doanh là vô cùng quan trọng.

Tuy là một Cơng ty có quy mơ khơng lớn, nhưng trong q trình xây dựng và phát

triển kinh doanh Cơng ty đã tìm hiểu nắm bắt luật về hoạt động kinh doanh của mình. Vì

vậy, chưa hề có một vụ việc vi phạm pháp luật đáng tiếc nào xảy ra. Những mặt hàng mà

Cơng ty nhập khẩu đều khơng có trong danh mục hàng cấm nhập khẩu và hạn chế nhập

khẩu. Đây cũng là môt thuận lợi cho việc thông quan được dễ dàng.

Môi trường làm việc cũng được quan tâm đặc biệt nhằm không ảnh hưởng đến sức

khỏe người lao động và cư dân xung quanh, thực hiện tốt Luật bảo vệ môi trường. Cấu

trúc tổ chức của Công ty mang đầy đủ và phù hợp với yêu cầu của Luật Doanh nghiệp,

chính vì thế Cơng ty nên duy trì cấu trúc tổ chức này.

4.1.2. Những tồn tại trong hoạt động của Công ty Cổ Phần kỹ thuật công nghệ mỏ và

công nghiệp

Bên cạnh những thành tựu mà Công ty đã đạt được trong suốt thời gian qua thì

hoạt động kinh doanh của cơng ty vẫn còn một số tồn tại nhất định.

Do loại hình Cơng ty là Cơng ty Cổ phần nên việc quyết định của Công ty phải

thông qua các Cổ đơng. Vì vậy, quyết định đưa ra thường chậm và dễ đánh mất cơ hội

kinh doanh.

Bên cạnh đó, Cơng ty mang đặc thù là một doanh nghiệp vừa và nhỏ, với số vốn

điều lệ, khả năng tài chính còn hạn chế, khả năng phát triển cũng như khả năng nghiên

16



cứu sâu về pháp luật trong doanh nghiệp vẫn còn bị giới hạn. Mặc dù có nhiều hoạt động

kinh doanh và nhập khẩu nhưng Cơng ty khơng có bộ phận pháp chế chun biệt, khơng

có cán bộ chun trách về pháp luật trong Công ty. Các vấn đề liên quan đến pháp luật

phụ thuộc chủ yếu vào cấp lãnh đạo hoặc Công ty phải đi thuê tư vấn luật ở ngồi. Vì vậy

dẫn tới hệ quả Cơng ty khơng những tốn kém nhiều chi phí mà còn bị động khi gặp các

vấn đề liên quan tới pháp luật, nhiều khi sẽ bỏ sót việc cập nhật các văn bản pháp luật,

những quy định mới của Nhà nước. Đặc biệt là khi Luật Doanh nghiệp 2014 mới được

thay thế cho Luật cũ từ ngày 01/07/2015, có thể nói Luật mới đã thay đổi cơ bản cấu trúc

của Luật cũ cho nên do khơng có bộ phận pháp chế, Cơng ty đã gặp một số khó khăn khi

nắm bắt và áp dụng pháp luật vào thực tiễn.

Hơn nữa, do không có bộ phận chuyên trách pháp luật hay chuyên viên tư vấn

pháp luật riêng của công ty. Nên các hợp đồng cơng ty đã ký kết tuy nhìn chung đã đúng

với quy định của pháp luật nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót, chưa phù hợp với

đặc thù của từng loại hợp đồng riêng do thường sử dụng loại hợp đồng mẫu dập khuôn.

Hay như vấn đề về ủy thác xuất khẩu nhìn chung đã đúng luật nhưng việc ký kết và thực

hiện hợp đồng cũng như quyền và nghĩa vụ của hai bên chưa thật sự được nghiêm túc và

chặt chẽ vì thiếu sự tư vấn về mặt pháp lý. Đặc biết, trong trường có vụ việc tranh chấp

xảy ra, Cơng ty thường tự đàm phán, rất khó có hiểu biết chuyên sâu cũng như liên kết

trong hệ thống pháp luật. Hoặc thuê chuyên viên tư vấn, luật sư pháp lý từ bên ngồi, vì

khơng phải là thành viên trong Cơng ty nên cũng rất khó nắm bắt được cặn kẽ toàn bộ sự

việc cũng như nội bộ doanh nghiệp. Có thể nói, đây là hạn chế khơng nhỏ.

4.2. Đánh giá hệ thống pháp luật thương mại điều chỉnh hoạt động của Cơng ty

4.2.1. Tác động tích cực

Nhìn chung, hệ thống pháp luật của Việt Nam nói chung và hệ thống pháp luật

thương mại nói riêng đã được sủa đổi, bổ sung và đã tạo ra một hành lang pháp lý vững

chắc, đầy đủ, điều chỉnh các hoạt động kinh doanh Công ty, phù hợp với xu thế hội nhập

Quốc tế. Các quy phạm pháp luật về thương mại đã tạo ra khung pháp lý nhất định, và

nhờ vào khung pháp lý đó Cơng ty có thể tiến hành hoạt động kinh doanh của mình mà

khơng trái pháp luật nhằm phát triển thương mại. Các quy định của pháp Luật Thương

mại đã tạo ra cơ sở pháp lý thơng thống hơn cho việc thực hiện các quyền lợi hợp pháp

của Công ty, giúp Công ty phát triển hoạt động, thu nhiều lợi nhuận, ví dụ như cụ thể hóa

nhiều quyền của Cơng ty như quyền quảng cáo, quyền mở chi nhánh ….giúp cho Công ty

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN III. THỰC TRẠNG THI HÀNH VÀ TÁC ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG, KINH DOANH CỦA CÔNG TY

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×