Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đề số 22: "Mọi tiết kiệm, suy cho cùng là tiết kiệm thời gian" - C.Mac Trình bày suy nghĩ của em bằng một đoạn văn về câu nói trên.

Đề số 22: "Mọi tiết kiệm, suy cho cùng là tiết kiệm thời gian" - C.Mac Trình bày suy nghĩ của em bằng một đoạn văn về câu nói trên.

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Sử dụng thời gian để học tập tốt, lao động tốt thì chúng ta sẽ tạo ra nhiều của cải vật chất và

tinh thần, góp phần dựng xây đất nước ngày càng giàu đẹp.

- Có thời gian là có tất cả. Thời gian qua đi không lấy lại được. Mỗi con người chỉ có một quỹ

thời gian nhất định để sống, học tập và lao động. Vậy trong suốt thời gian ấy, chúng ta phải làm gì

để đến “khi nhắm mắt xi tay, khơng phải ân hận vì những năm tháng sống hồi sống

phí ?”(“Thép đã tơi thế đấy” – Otsterropski).

Đó là câu hỏi lớn đặt ra cho cả đời người, do đó chúng ta phải biết quý thời gian mình đang sống.

* Khẳng định câu nói của C.Mác có giá trị như mọt chân lí:

- Trong hồn cảnh nước ta hiện nay vốn là một nước có nền kinh tế tiểu nông lạc hậu. Sau hai

cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ kéo dài suốt mấy chục năm, nền kinh tế

nước ta lại càng nghèo nàn, lạc hậu. Chính vì vậy, chúng ta cần tranh thủ thời gian để khôi phục và

phát triển mọi lĩnh vực của đất nước. Kể từ 1975 cho đến nay, nhân dân ta đã bắt tay vào sự nghiệp

xây dựng đất nước trong hòa bình theo đường lối đổi mới, mở cửa nên bước đầu đã có cuộc sống

ấm no. Tuy vậy, Việt Nam vẫn là một trong những nước nghèo chậm phát triển so với các nước

trong khu vực và trên thế giới.

- Hiện nay, đi đôi với những cố gắng phát triển kinh tế, khoa học, kĩ thuật. Nhà nước đề cao chủ

trương tiết kiệm trong toàn Đảng, toàn dân, coi tiết kiệm là quốc sách, là một trong những biện

pháp cơ bản hàng đầu để xây dựng đất nước.“Tiết kiệm là quốc sách”.

- Tiết kiệm để tích lũy vốn, đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, từng bước đưa đất

nước đi lên.

- Tiết kiệm là việc làm vô cùng cần thiết.

- Tiết kiệm là biểu hiện của nếp sống văn minh, văn hóa. Sinh thời, Hồ Chủ tịch đã căn dặn

toàn dân phải “tiết kiệm thời giờ, sức lao động và tiền của”.

Mỗi người có những cách thức khác nhau để thực hành tiết kiệm. Còn học sinh chúng ta

phải làm gì để thực hành tiết kiệm ?. Điều quan trọng nhất dành nhiều thời gian để : “Học, học

nữa, học mãi”.

* Khẳng định câu nói của Cac Mac đúng với mọi hồn cảnh, mọi quốc gia.

- Trong nhịp sống khẩn trương của thời đại công nghiệp, chúng ta lại càng phải thường quyên

rèn luyện ý thức tiết kiệm.

- Tiết kiệm không chỉ là việc làm quan trọng, cấp thiết mà còn là một trong những phẩm chất

cần có của mỗi con người nếu muốn thành cơng trong sự nghiệp. Vì thế, ủng hộ chủ trương tiết

kiệm của Nhà nước cũng là biện pháp để chúng ta rèn luyện phẩm chất tốt đẹp của con người mới.

Đề số 23: Bàn về câu nói: “ Ở đâu có ý chí, ở đó có con đường” bằng một đoạn văn.

a. Yêu câu về kĩ năng:

- Biết cách viết một đoạn văn nghị luận xã hội.

- Kết hợp các thao tác: giải thích, chứng minh ....

- Suy ra vấn đề cần bàn bạc ở đây là: Ở đâu có ý chí, ở đó có con đường.

- Bài viết lập luận chặt chẽ, hành văn có cảm xúc, khơng mắc lỗi diễn đạt, chính tả.

b. u cầu về kiến thức:

* Giải thích các khái niệm: Ý chí, con đường?

+ Ý chí: là cái hình thành từ trong ý thức mà ra. Ý chí chính là nghị lực, là lòng quyết tâm

của chúng ta để thực hiện thành cơng một việc gì đó.Ý chí được thể hiện bằng các hành động và

suy nghĩ có định hướng của con người. Vì thế người có ý chí là người theo đuổi để đạt được mục

đích đã định trước và cố găng vượt qua các trở ngại trên đường đến đích đó.

+ Con đường: con đường ở đây được hiểu theo nghĩa chuyển: đó là thành cơng, là hạnh

phúc, là tương lai tươi sáng.

68



*Ý nghĩa của câu nói:

+ Ý chí giúp chúng ta có sức mạnh vượt qua trở ngại, khó khăn, thử thách, vượt qua nghịch

cảnh, vượt qua những điều tưởng chừng không thể, biến điều “không thể” trở thành “có thể”.

Dù có điều gì xảy ra thì kiên trì và ý chí sẽ giúp chúng ta vượt qua tất cả (Vietghilơ).

+ Ý chí giúp ta có niềm tin để nhìn thấy hướng đi, nhìn thấy tương lai, tìm ra con đường

phía trước, tiến lên phía trước. Khi tin rằng mình có thể làm được điều gì, thì chắc chắn ta sẽ đạt

được điều ấy.

+Ý chí giúp ta có được sự thành công, thành đạt trong sự nghiệp, trong cuộc sống, tạo ra số

phận. Ý chí đã tạo nên đường đời, số phận của con người.

*Chứng minh qua thức tế cuộc sống:

+ Tấm gương nhà văn Nguyễn Đình Chiểu: Bất hạnh chồng chất: mẹ mất, lỡ đường công

danh, mù mắt, người yêu bội ước… nhưng ông đã vượt qua tất cả để trở thành thầy thuốc tài giỏi,

thầy giáo mẫu mực, nhà thơ nhà văn lớn ở thế kỷ XIX.

+ Tấm gương của Bác Hồ: vượt qua tất cả khó khăn trở ngại, chịu bao gian khó, làm đủ mọi

nghề…cuối cùng Bác đã tìm ra con đường cứu nước.

+ Tấm gường nhà văn M. Gorơki: mồ côi, bị ném vào đời kiếm sống từ nhỏ, gian khó vơ

cùng, có lúc mất niềm tin vào cuộc sống nhưngđã trở thành nhà văn kiệt xuất của nước Nga.

+ Tấm gương Bác sĩ Glenn Cunningham, người chạy nhanh nhất thế giới trong cự ly một

dặm vốn là một cậu bé bị bỏng nặng bị tổn hại đến mức lẽ ra chết thì hay hơn bởi vì cậu sẽ là kẻ

vơ dụng sống một cuộc đời tàn phế. Cậu bé dũng cảm quyết định mình khơng là người tàn phế.

Nhờ bàn tay của mẹ, nhờ ý trí sắt đá, cậu đã tự đứng dậy, bước đi và …chạy. Cậu bắt đầu đi bộ

đến trường, rồi bắt đầu chạy tới trường, rồi chạy để tận hưởng niềm vui sướng được chạy. Sau

này cậu chạy với tư cách là vận động viên chuyên nghiệp được mệnh danh là “cánh én”, “con

ngựa sắt”, “con tàu tốc hành”…

+ Tấm gương Beethoven - nhạc sĩ tài ba của thế giới - chơi rất dở đàn violin, và thay vì phải

tập luyện liên tục, ông đã chơi những bản nhạc tự mình sáng tác. Thầy giáo của ơng nói rằng, ông

không có cơ hội để trở thành nhà soạn nhạc. Vậy mà người đã vượt qua tất cả trở ngại, truyền đi

niềm đam mê bất diệt với âm nhạc để tạo nên những kiệt tác.

+ Đó là anh em nhà Wright: Wilbur và Orvilee - những con người đánh cược cả cuộc sống của

mình, đã cống hiến trọn vẹn sức lực, trí tuệ cho ước mơ bay lên của nhân loại từ 100 năm năm

trước. Điều đó còn có ý nghĩa nâng nhân loại lên tầm cao mới để bay đến những chân trời mới.

+ Helen Keller - cô gái người Mỹ đã vượt qua những cú sốc tinh thần để trở thành người vừa

mù vừa điếc đầu tiên ở Mỹ lấy bằng tốt nghiệp đại học. Cơ còn trở thành một diễn giả được u

thích, thậm chí, cơ còn viết và xuất bản sách.

Tất cả nhờ vào ý chí. Họ hồn tồn khơng là siêu nhân hay thần thánh gì cả. Họ chỉ là những con

người bình thường. Họ cũng từng nếm trải những đau buồn và thất vọng đời thường. Nhưng ngay

chính trong những khoảnh khắc ấy, họ bộc lộ những phẩm chất khác biệt, những phẩm chất đã

giúp họ ln tiến về phía trước trong khi những người khác chấp nhận đầu hàng, bỏ cuộc.

*Bài học rút ra:

+ Hãy xác định được mục đích sống, nhìn nhận bằng cái nhìn lạc quan.

+ Hãy nỗ lực hết sức, quyết tâm cao độ, tận dụng mọi lợi thế của bản thân để hồn thành cơng

việc.

+ Khơng được bỏ cuộc dù gặp phải bất kỳ khó khăn nào.

+ Ln ước mơ và khát vọng.

- Tất cả khó khăn chỉ là thử thách và cuộc sống còn rất nhiều thử thách để vượt qua. Và ngay cả

khi ta không vượt qua được thì ta vẫn tin rằng đó chỉ là một cơ hội giúp ta trưởng thành hơn,

69



mạnh mẽ hơn. Muốn đi đến đến thành cơng ta cần có niềm tin, chí tiến thủ và sự nổ lực hết mình.

Ý chí là chiếc chìa khóa vạn năng để mở ra mọi cánh cửa cuộc sống …

“Ở đâu có ý chí ở đó có con đường”.

Đề số 24: Câu nói:"Con người khơng cảm nhận được bóng tối sẽ khơng bao giờ thấy được

ánh sáng". Viết đoạn văn nêu suy nghĩ của mình về câu nói trên.

a. Yêu câu về kĩ năng:

- Biết cách viết một đoạn văn nghị luận xã hội.

- Kết hợp các thao tác: giải thích, chứng minh ....

- Suy ra vấn đề cần bàn bạc ở đây là: Con người khơng cảm nhận được bóng tối sẽ khơng bao

giờ thấy được ánh sáng.

- Bài viết lập luận chặt chẽ, hành văn có cảm xúc, khơng mắc lỗi diễn đạt, chính tả.

b. Yêu cầu về kiến thức:

*Giới thiệu khái quát nội dung câu nói:Con người phải tự nhìn ra cái sai của bản thân để khắc

phục và hồn thiện mình.

*Giải thích câu nói và khẳng định tính đúng đắn:

a. Giả thích:

- Bóng tối là gì? Bóng tối ln thể hiện cho những điều sai trái trong cuộc sống, nó là biểu

tượng cho sự mắc sai lầm.

- Ánh sáng là gì?Ánh sáng luôn thể hiện cho những điều tốt đẹp, tươi sáng trong cuộc đời.

- Ý của câu nói là khuyện chúng ta phải biết nhận ra cái sai để sửa chữa và khơng bao giờ

mắc phải.

b. Khẳng định đính đúng đắn của câu nói:

- Trong cuộc sống khơng ai là hồn thiện, bản thân ta đã đang và có lẽ sẽ còn mắc phải

những sai lầm nhưng điều quan trọng khơng phải ta bảo thu khơng chịu chấp nhận mình sai mà

là ta có nhận ra cái sai và biết cách sửa nó khơng.

"Thất bại là mẹ thành cơng"

- Nếu ta cứ cho là mình ln đúng ln ở ánh sáng thì ta sẽ khơng bao giờ có thể sửa chữa

sai lầm có thể biết thứ ánh sáng diệu kì của thành công.

c. Chứng minh trong cuộc sống:

-Trong học tập và lao động.

-Trong tư duy và lối sống.

*Rút ra bài học:

- Cần biết nhận ra sai lầm và nghe lời khuyện của mọi người để sửa chữa.

-Tích cực hồn thiện bản thân hơn nữa.

Đề số 25:

Viết đoạn văn nêu suy nghĩ về "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia".

a. Yêu câu về kĩ năng:

- Biết cách viết một đoạn văn nghị luận xã hội.

- Kết hợp các thao tác: giải thích, chứng minh ....

- Suy ra vấn đề cần bàn bạc ở đây là: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.

- Bài viết lập luận chặt chẽ, hành văn có cảm xúc, khơng mắc lỗi diễn đạt, chính tả.

b. Yêu cầu về kiến thức:

1. Dẫn dắt vấn đề:

70



“ Hiền ta là nguyên khí quốc gia” một chân lý mà mỗi quốc gia muốn phát triển đều phải

nhớ và làm theo.

2. Giải thích khái niệm:“Hiền tài là nguyên khí quốc gia” và vì sao hiền tài lại là nguyên khí

quốc gia.

- “ Hiền tài là nguyên khí quốc gia”.

+ “Hiền tài” là người tài cao, học rộng và có đạo đức.

+“Ngun khí” là chất làm nên sự sống còn và phát triển của đất nước, xã hội.

- Ý nghĩa của câu nói: “Hiền tài là ngun khí quốc gia”: Hiền tài, chính là phần cốt lõi, chất

ban đầu để làm nên sự sống còn và phát triển của đất nước. Quốc gia có nhiều hiền tài và biết

sử dụng hiền tài thì sẽ phát triển vững mạnh.

3. Bàn bạc mở rộng vấn đề:

- Vậy thì tại sao hiền tài lại là nguyên khí của quốc gia? Trong mỗi quốc gia nhất thiết

phải có một bộ phận lãnh đạo, điều hành đất nước, nếu như đất nước mà những người điều

hành tồn là những kẻ ngu dốt, khơng học thức, khơng đạo đức thì có phải chăng là đã huỷ diệt

đất nước hay khơng?

- Trong quốc gia đã có người lãnh đạo thì họ sẽ phải lãnh đạo ai? họ sẽ phải lãnh đạo

những hiền tài khác, nếu như người mà họ lãnh đạo là những con người ngu muội, đầu óc

khơng sáng suốt, khơng biết sáng tạo thì chẳng phải là “ đổ nước vào cái xô thủng “ sao?

- Trong mỗi quốc gia cần có những hiền tài để xây dựng và phát triển đất nước theo đúng

đường lối của người lãnh đạo, họ phải biết tự sáng tạo ra những ý kiến mới, tạo ra những phát

minh mới.

+Ví như những quốc gia như Mỹ, Nga, Anh, Pháp vì sao họ có thể phát triển đi

trước các quốc gia khác, chính là nhờ họ có những nhà khoa học, bác học lỗi lạc đã tạo ra

những kì tích trong khoa học kĩ thuật, đưa quốc gia phát triển lên một tầm cao mới.

+Hay ngay ở nước ta, đại tướng Võ Nguyên Giáp theo đường lối chỉ đạo của Bác

Hồ vĩ đại đã tạo nên một trận Điện Biên Phủ làm trấn động năm châu, khiến cho người Pháp

phải khăn gói về nước.

-> Từ đó mới thấy tầm quan trọng của hiền tài trong công cuộc đổi mới đất nước.

Khơng những thế, chúng ta còn phải làm cho những người nơng dân bình thường cũng có thể

trở thành hiền tài, quốc gia nào cũng cần có những người dân thông minh và biết sáng tạo, đổi

mới để đem lại lợi ích cho chính mình.

- Nhà nước ta đang chủ trương giáo dục, chính là để nâng cao dân trí, nuôi dưỡng phát

triển những hiền tài trong tương lai.

Hay là các nhà khoa học khi đưa ra bất kì phát minh hay sáng kiến nào thì điều phải nghĩ đến có

thể ứng dụng được cho người dân của họ hay khơng.

- Đất nước có nền dân trí cao, thì sẽ là động lực để thúc đẩy để phát triển các ngành kinh

tế, vì cơng nghệ ngày càng đổi mới mà người dân khơng đi theo kịp thì sẽ bị tuột hậu và thua

thiệt.

+ Có những người nơng dân Việt Nam, họ không cần chờ đến người khác mà họ đã

tự phát minh những cơng cụ của riêng mình để phục vụ cho lao động, đó cũng chính là những

hiền tài cho đất nước.

+ Hay trong giáo dục, những nhân tài trẻ tuổi đã làm rạng danh Việt Nam trong những

cuộc thi lớn, thì đó cũng chính là hiền tài cuộc đất nước. Vận mệnh đất nước sao này sẽ phải

giao cho những con người trẻ tuổi và tài năng như thế để đưa dân tộc hồi sinh và phát triển.

* Khẳng định ý kiến trên là đúng: Vì hiền tài chính là nguyên khí của quốc gia.

+ Đất nước mà mỗi người dân là một hiền tài thì đất nước sẽ không ngừng phát triển.

71



+ Đất nước mà mỗi nhà lãnh đạo là một hiền tài thì vận mệnh nước nhà sẽ vững trải, xã

hội sẽ ổn định.

* Bài học:

- Chúng ta phải hết sức phát huy khả năng và nuôi dưỡng các hiền tài, phải tạo điều kiện

để họ thể hiện chính mình phục vụ cho đất nước.

- “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” là chân lý khẳng định vai trò quan trọng của hiền tài

đối với vận mệnh dân tộc.

- Mỗi chúng ta, những con dân đất việt phải có nhiệm vụ cống hiến sức lực của mình để

phục vụ đất nước, dân tộc, nhân dân vì chúng ta chính là nguồn nguyên khí của đất nước.

Đề số 26: “ Người hạnh phúc nhất là người đem đến hạnh phúc cho nhiều người nhất” ( Đi

- đơ-rô ). Viết một đoạn văn nêu suy nghĩ của mình về vấn đề này?

a. Yêu câu về kĩ năng:

- Biết cách viết một đoạn văn nghị luận xã hội.

- Kết hợp các thao tác: giải thích, bình luận ....

- Suy ra vấn đề cần bàn bạc ở đây là: Người hạnh phúc nhất là người đem đến hạnh phúc

cho nhiều người nhất.

- Bài viết lập luận chặt chẽ, hành văn có cảm xúc, khơng mắc lỗi diễn đạt, chính tả.

b. Yêu cầu về kiến thức:

1. Dẫn dắt vấn đề:

- Hạnh phúc: đó là mục đích mà cả nhân loại hằng ao ước qua muôn đời . Tuy nhiên ,

hạnh phúc là gì ? Sống như thế nào để có hạnh phúc ? Đó vẫn là những câu hỏi mà con người

vẫn ln ln tìm lời giải đáp .

- Đi-đơ-rơ, một trong những nhà văn, một trong những nhà tư tưởng lớn của nước Pháp

thế kỉ XVIII , đã có câu trả lời rất đúng cho mọi người suy nghĩ : “ Người hạnh phúc nhất là

người đem đến hạnh phúc cho nhiều người nhất”.

2.Giải thích khái niệm: Hạnh phúc là gì ?

- Là sự thỏa mãn những khao khát trong đời sống từ vật chất đến tinh thần. Là sự thành

công sau những thất bại để đạt được một mục đích đã được đặt ra cho một chặng đường hay cả

cuộc đời.

- Tuy nhiên, trong những cái riêng ấy thì điều chung nhất của hạnh phúc có lẻ là: Sự mãn

nguyện của tâm hồn, cảm nhận tự bằng lòng về mình cảm thấy mình sống đúng với ý nghĩa của

cuộc sống.

3. Sống như thế nào là “ đem đến hạnh phúc cho nhiều người nhất”?(Biểu hiện)

- Làm được những việc to lớn , có được những thành tựu vĩ đại thỏa mãn dược niềm mong

của một số lượng đông đảo con người; cho cả nhân loại hay cho cả dân tộc (một nhà phát

minh ra thứ thuốc chữa được một căn bệnh nan y đã từng gây ra đau khổ hay cái chết cho

hàng triệu người; một bật anh hùng giải phóng dân tộc mình khỏi vòng nơ lệ ).

- Trong cuộc sống bình thường, biết hết lòng giúp đỡ những người xung quanh, giảm bớt

những phiền muộn khổ đau, đó là những điều mà bất kì ai nếu mong muốn thì đều có thể làm

được, khơng phải một lần nào mà trong suốt cả cuộc đời.

+Dẫn chứng: Pax-tơ hạnh phúc trong lần đầu tiên cứu một em bé khỏi bệnh dại, rồi tìm

ra thứ vắc xin để từ đó chủng ngừa được bao nhiêu thứ bệnh hiểm nghèo mà lồi người trước

đó bó tay ( bệnh dại, đậu mùa, uống ván ) …

Một bà sơ để cả cuộc đời săn sóc người bệnh nơi những trại phong , làm giảm nỗi đau

cả thể xác lẫn tinh thần cho những người đã tuyệt vọng ….

72



- Nói “ nhiều nhất” khơng ngụ ý nhắc đến một con số tuyệt đối nào, là hàng vạn hay hàng

triệu, mà chính là nói đến khả năng cao nhất trong hoàn cảnh và khả năng của từng người. Bất kì

ai cũng có thể đem lại hạnh phúc cho nhiều người nhất.

4. Mối liên quan giữa hạnh phúc nhất của một người và hạnh phúc của nhiều người nhất.

- Đi-đơ-rô đã khẳng định một lẽ đúng, rất tốt đẹp: hạnh phúc của mỗi người phải gắn liền với

hạnh phúc của người khác, tùy thuộc vào hạnh phúc của người khác. Đây cũng là lí tưởng cuộc

Cách Mạng mà Đi-đơ-rơ đã góp phần tạo nên.

- Đây cũng là lối sống mà các bật hiền triết ngày xưa, đạo lí dân tộc nào cũng đề cao. Đạo

phật khuyên người ta u thương mn lồi. Truyền thống VN khun: “ Thương người như thể

thương thân”. Vua Lí Thánh Tơn thấy con gái mình mặc áo ấm giữa mùa giá rét mà nghĩ thương

những tù nhân đang nằm trong ngục.

- Đạo lí của Đi-đơ-rơ là một đạo lí đỏi hỏi hành động tích cực: khơng chỉ u thương mà còn

“ đem lại hạnh phúc” cho nhiều người.

- Đạo lí của Đi-đơ-rơ còn đòi hỏi sự qn mình, lấy hạnh phúc của mọi người làm hạnh phúc

của mình, có thể xả thân vì hạnh phúc của mọi người.

* Bài học:

- Ít nhất một lần trong đời, bất kì ai cũng từng tự đặt mình trước câu hỏi: Hạnh phúc là gì ?

Sống như thế nào để có hạnh phúc?

- Hãy một lần nghĩ như Đi-đơ-rô, Hãy làm như Đi-đơ-rô.

Đề số 27: Trình bày suy nghĩ của em bằng một đoạnvăn về ba tính "Tự ti", "Tự phụ" và "Tự

trọng.

a. Yêu câu về kĩ năng:

- Biết cách viết một đoạn văn nghị luận xã hội.

- Kết hợp các thao tác: giải thích, chứng minh.....

- Suy ra vấn đề cần bàn bạc ở đây là: Tự ti", "Tự phụ" và "Tự trọng.

- Bài viết lập luận chặt chẽ, hành văn có cảm xúc, khơng mắc lỗi diễn đạt, chính tả.

b. u cầu về kiến thức:

1. Dẫn dắt vấn đề:

- “Tự ti”, “tự phụ”, “tự trọng” là những nét tính cách và trạng thái tâm lí thường có ở con

người. Giữa chúng có những nét giống nhau và khác nhau nhưng đều tác động và ảnh hưởng

trực tiếp đến tính cách và sự thành công hay thất bại trong cuộc đời của mỗi con người. Tính

“tự ti”, “tự phụ” và “tự trọng” được thể hiện như thế nào trong cuộc sống?

2. Giải thích khái niệm + Chứng minh:

a.Thế nào là tính “Tự ti”?

- “Tự ti” là tự đánh giá mình thấp nên thiếu tự tin vào năng lực của bản thân. Vì thế mà ngại

suy nghĩ, nói năng, hành động, ngại giao tiếp với mọi người.

- Biểu hiện: Những ai mắc tính “tự ti” thường cho rằng mình yếu kém, bất tài, chẳng có gì nổi

bật so với người khác. Nói theo kiểu dân gian là: “Ăn khơng nên đọi, nói chẳng nên lời”, làm

gì hỏng nấy. Từ nhận thức sai lệch về mình, họ sẽ trở nên thụ động, thiếu hẳn sự linh hoạt, sáng

tạo trong mọi cơng việc vì sợ thất bại, sợ trách nhiệm.

- Tính “tự ti” cản trở rất lớn đến sự phấn đấu vươn lên của mỗi cá nhân, bởi nó tạo ra sức ỳ và

thói xấu ỷ nại cùng tâm lí thất bại. Mà đã sẵn tâm lí thất bại thì khơng bao giờ có thể thành

cơng. Tâm lí “tự ti” đi ngược lại tâm lí chung của số đơng là ai cũng muốn khẳng định mình,

muốn thành đạt trong cuộc sống. Do đó, “tự ti” là trạng thái tâm lí tiêu cực, chúng ta khơng nên

có.

- Dẫn chứng: Từ xa xưa, dân gian đã có những câu ca dao nói về tính “tự ti”:

73



Cây khơ xuống nước cũng khô,

Phận nghèo đi đến nơi mô cũng nghèo.

Hoặc :

Con vua thì lại làm vua,

Con sãi ở chùa thì quét lá đa.

- Nếu mang nặng tâm lí ấy, con người sẽ tê liệt ý thức phản kháng, đấu tranh, chấp nhận những

ngang trái, bất công trong xã hội, chấp nhận thân phận thấp hèn con sâu cái kiến, bị rẻ rúng,

khinh bỉ, bị áp bức, bóc lột.

- Nguyên nhân sâu xa của tính “tự ti” phần lớn là do thiếu tự chủ, tự lập và thiếu nghị lực cùng

quyết tâm phấn đấu. Nói như nhà giáo Nguyễn Bá Học đầu thế kỉ XX thì đây chính là tâm lí

“ngại núi e sơng”.

b. Thế nào là tính “tự phụ”?

- “Tự phụ” là tự đánh giá mình quá cao và tỏ ra coi thường người khác. Nó đồng nghĩa với kiêu

căng, tự mãn. Một người có năng khiếu hoặc tài giỏi ở một lĩnh vực nào đó và đã được xã hội

cơng nhận, ví dụ như nhà văn, nhà tốn học, nhà vật lý học, hay một ca sĩ, một diễn viên điện

ảnh nổi tiếng chẳng hạn… khơng có nghĩa đó là người tồn tài, có quyền đứng trên tất cả.

- Dẫn chứng: Thuở vừa nổi tiếng trên thi đàn “Thơ mới”, Xuân Diệu đã viết : “Ta là Một, là

Riêng, là Thứ Nhất, Khơng có chi bè bạn nổi cùng ta” (“Hy-mã-lạp-sơn”). Để rồi sau Cách

mạng tháng Tám năm 1945, thi sĩ tự phê phán đó là nhận thức ấu trĩ, nông nổi của tuổi trẻ. Quả

đúng như vậy !. Tuổi trẻ thường hăng hái và xốc nổi, hay ngộ nhận về mình. Có chút tài năng

nào đó đã vội cho mình là “trung tâm vũ trụ”, mọi người phải tung hơ, nể phục, phải ca ngợi,

còn mình thì có “đặc quyền” đòi hỏi thỏa mãn tất cả những gì mình muốn.

Trong một lớp học, học sinh nào kiêu căng, “tự phụ” thường cơ độc, ít bạn bè. Mà như

thế thì sự khiếm khuyết về tình cảm, về đời sống tinh thân là điều khó tránh khỏi.

- Phê phán:

+“Tự phụ” là thói xấu có hại. Nó làm cho người ta ảo tưởng về mình. Tài năng chỉ chút đỉnh

nhưng lại tưởng mình là thiên tài, để rồi nảy sinh thói hnh hoang, khoác lác, hợm hĩnh đến

mức lố bịch.

+ Kẻ tự phụ ngồi đâu cũng thích nói về mình, khoe khoang cái mình có, thâm chí bịa đặt,

thổi phồng cả những cái mình khơng hề có để thỏa mãn tính thích hơn người.

+ Vì khơng nhận thức đúng đắn về bản thân nên kẻ mắc bệnh “tự phụ” khó có thể thành

cơng lâu dài và ít nhận được sự ủng hộ của số động.

c.Thế nào là “tự trọng”?

- “Tự trọng” là coi trọng và giữ gìn phẩm cách, danh dự của mình. Đây là một nét tính cách

được coi là nền tảng để làm nên phẩm giá cao quý của một con người chân chính.

- Dẫn chứng: Từ ngàn xưa, tổ tiên chúng ta đã đặt danh dự lên hàng đầu: “Đói cho sách,

rách cho thơm”; “Tốt danh hơn lành áo”; “Cọp chết để da, người ta chết để tiếng”… “Tiếng”

ở đây chính là những nhận xét, đánh giá tốt đẹp của cộng đồng xã hội về một cá nhân nào đấy

và điều đó sẽ được lưu truyền mãi mãi.

- Biểu hiện:

+ Người có tính “tự trọng” ln nhận thức đúng đắn về bản thân và về những người xung

quanh. Biết phân biệt đúng, sai, phải, trái; cái gì nên làm và cái gì khơng nên làm.

+ Dù trong bất cứ hồn cảnh nào, dù khó khăn thiếu thốn đến đâu, người có tính “tự

trọng” vẫn ln giữ nếp sống trong sạch, thanh cao, khơng vì chút quyền lợi vật chất mà bán rẻ

lương tâm, danh dự. Những bậc chính nhân quân tử nổi tiếng trong lịch sử như Tô Hiến Thành,

Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Thiếp, Lê Hữu Trác, Cao Bá Quát… và đặc biệt là Chủ

74



tịch Hồ Chí Minh là gương sáng của lòng “tự trọng”, xứng đáng cho mn đời con cháu noi

theo.

+ Tính “tự trọng” được thể hiện qua suy nghĩ, lời nói và từng cơng việc trong cuộc sống

hằng ngày. Ví dụ như một học sinh khơng thuộc bài nhưng dứt khốt khơng quay cóp của bạn

bên cạnh, khơng giở sách để chép, đó là “tự trọng”. Có lỗi, biết nhận và biết sửa lỗi, đó là “tự

trọng”. Việc gì làm được thì cố gắng làm, khơng phiền lụy đến người khác, đó là “tự trọng”…

- Điều đáng lưu ý là bản thân phải tôn trọng mình trước, khơng làm điều gì tổn hại đến

thanh danh, không bị khuất phục trước cường quyền, bạo lực; khơng bị mua chuộc bởi tiền tài,

danh vọng.

- Tính “tự trọng” khơng phải tự nhiên mà có. Đó là kết quả của một quá trình được giáo dục

và tự tu dưỡng lâu dài của mỗi cá nhân. Rèn luyện, tạo cho mình tính “tự trọng” và giữ vững

đức tính ấy suốt cuộc đời quả là cực khổ, nhưng để mất nó thì cực dễ. Người xưa đã đúc kết :

“Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng”; “Kiếm củi ba năm thiêu một giờ” để nói đến những

trường hợp như vậy.

Ngạn ngữ Nga có câu : “Hãy giữ gìn chiếc áo từ khi còn mới. Hãy giữ gìn danh dự từ khi còn

trẻ trung”. Đó là lời khun bổ ích và thiết thực cho tất cả những ai muốn trở thành con người

chân chính.

* Lựa chọn đức tính tốt:

- Trong ba tính : “tự ti”, “tự phụ” và “tự trọng” thì chúng ta nên chọn “tự trọng” vì đó là đức

tính rất đáng q. Nó giúp chúng ta phát triển nhân cách, có ý chí và nghị lực vươn lên để thành

công trong cuộc sống.

* Bài học: Hãy nhớ cho rằng mất tiền bạc hay mất một thứ gì đó có thể kiếm lại được, chứ

đánh mất lòng “tự trọng” thì người ta dễ dàng tha hóa và sa vào vực thẳm tội lỗi. Gương xấu

của những thanh thiếu niên hư hỏng, của những cán bộ biến chất, tham nhũng mà báo chí và

nhân dân lên án đã chứng minh cho điều đó.

Đề số 28: Viết đoạn văn nêu suy nghĩ về câu "Người chê ta mà chê phải là thầy của ta,

người khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ là kẻ thù của ta

vậy”(Tuân Tử)

a. Yêu câu về kĩ năng:

- Biết cách viết một đoạn văn nghị luận xã hội.

- Kết hợp các thao tác: giải thích, chứng minh.....

- Suy ra vấn đề cần bàn bạc ở đây là: Người chê ta mà chê phải là thầy của ta, người khen ta

mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ là kẻ thù của ta vậy.

- Bài viết lập luận chặt chẽ, hành văn có cảm xúc, khơng mắc lỗi diễn đạt, chính tả.

b. Yêu cầu về kiến thức:

1. Dẫn dắt vấn đề:

- Trung Hoa là một trong những cái nơi của văn hố nhân loại. Từ thời cổ đại, người dân

Trung Quốc có quyền tự hào về những bậc học giả, về những người thầy lỗi lạc, uyên bác với

những triết lí nhân sinh trở thành chân lý cho mọi thời đại.

- Tuân Tử là một trong số những bậc vĩ đại ấy. Và câu nói của ơng: “ Người chê ta mà chê

phải là thầy ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ là kẻ thù của

ta vậy”, cũng đủ cho hậu thế phải suy nghĩ.

2. Biểu hiện:

75



- Xã hội loài người ngày càng phát triển về kinh tế, về tư tưởng, nhận thức và cũng song hành

với phát triển sự phức tạp trong mọi quan hệ đời sống. “ Miệng lưỡi thế gian” là điều không thể

tránh khỏi. Mỗi con người sống chung trong đồng loại cần phải biết chấp nhận lời chê tiếng

khen của mọi người. Nhưng để nhận biết sự “thật” – “giả” trong mỗi lời khen tiếng chê, để có

ứng xử thích hợp, quả khơng đơn giản.

- Câu nói của Tuân Tử đã giúp chúng ta nhận biết đâu là “thầy”, đâu là “bạn”, đâu là “thù”

trong cuộc đời đầy phức tạp đó.

- Là một con người, kể cả bậc vua chúa, vĩ nhân, trong cuộc sống, thật khó tránh khỏi những sai

lầm. Những lúc như thế, hẳn chúng ta nhận được những lời nhận xét của mọi người. Tất yếu,

mỗi người khác nhau, sẽ có những nhận xét, thái độ khác nhau về ta. Điều quan trọng là ở chính

bản thân ta: biết nhận ra cái đúng, cái sai của mình; quan trọng hơn, trong vơ số những lời

“khen”, “chê” đó, ta nhận ra ai là “thầy ta”, ai là “bạn ta”, ai là “kẻ thù” của ta vậy!

- Bình luận và chỉ ra mặt đúng sai.

+ Lời dạy của Tuân tử thật chí lí: “Người chê ta mà chê đúng là thầy ta, người khen ta mà

khen đúng là bạn ta”.

+ Mỗi người, khi phạm điều sai, tự mình khơng dễ gì nhận ra. Người nhận ra cái sai của ta,

lại “chê”- tức khẳng định cái sai của ta và chỉ cho ta biết - hẳn phải là người có tầm tri thức,

hiểu biết hơn ta. Người đó xứng đáng là bậc “thầy” của ta về trí tuệ.

+ Người thấy và dám chỉ cho ta nhận ra cái sai của mình, để mình có hướng khắc phục, sửa

chữa, hẳn đó phải là người có cái tâm thật cao quý: những muốn cho chúng ta nhanh chóng tiến

bộ. Chúng ta, về thái độ, tình cảm khơng thể khơng tơn vinh người đó là bậc “thầy” về nhân

cách để ta học tập.

+ Người “khen ta mà khen phải”- nghĩa là người đó khơng những khơng đố kị, hiềm khích

trước những cái tốt, cái mạnh của ta, mà còn “khen”, cùng chung vui, chia ngọt sẻ bùi…Đó hẳn

là người bạn tốt, người bạn tri âm, tri kỉ của ta vậy. + Cuộc đời mỗi chúng ta, nếu có được nhiều

người “thầy”, người “bạn” như thế thì thật hạnh phúc.

- Tuy nhiên, trong cuộc sống, không phải ai khen hay chê ta đều là “thầy”, là “bạn” của ta.

Tuân Tử đã một lần nữa chỉ cho ta biết cách nhận ra “ bộ mặt thật” của những “kẻ” hiểm độc

đó. Đó là “kẻ vuốt ve, nịnh bợ ta”, Tuân Tử tỏ thái độ rõ rệt, dứt khoát khi gọi những loại người

đó “là kẻ thù của ta vậy”. Nhưng để nhận ra đâu là bạn “khen ta mà khen đúng” với “những kẻ

vuốt ve, nịnh bợ” thật không dễ.

+ Kẻ vuốt ve, nịnh bợ, họ khen ta là xuất phát mục đích mưu cầu lợi ích riêng của chính họ.

Bởi vậy, thành tích của ta chỉ có một, chúng thổi phồng lên ba, bốn hoặc nhiều hơn thế. Thậm

chí, có khi chúng còn nguỵ biện, “phù phép” những khuyết điểm, sai lầm của ta thành “thành

tích”.

+Những kẻ đó, ln lấy việc “nịnh bợ” để tiến thân, khiến cho người được khen ngày càng

tự đánh mất mình, xa rời lẽ phải…

+Những kẻ đó khơng thời đại khơng có. Sử sách đã ghi lại không biết bao nhiêu bậc vua

chúa đã bị những kẻ nịnh thần làm cho u mê, dẫn đến hãm hại trung thần, triều chính đổ nát, xã

tắc suy vong…

* Bài học:

- Lời dạy của Tuân Tử lại một lần nhắc nhở mỗi chúng ta cần sáng suốt để nhận ra đâu là

“bạn ta” khen ta thật lòng; đâu là “kẻ vuốt ve, nịnh bợ” ta.

- Không chỉ đúng với xã hội xưa, mà ngày nay và với tất cả mọi người, ở trên mọi lĩnh

vực, lời dạy của Tuân Tử như một chiếc kính “chiếu yêu” giúp chúng ta nhận ra người tốt, kẻ

xấu trong cuộc sống, trong học tập.

76



- Câu nói của Tuân Tử, cũng là một lời nhắc nhở chí tình, chí lí cho chính mỗi chúng ta

trong quan hệ ứng xử với mọi người.

- Chúng ta muốn mọi người chê ta thật lòng – như Tuân tử đã dạy- ta phải biết coi trọng

những người đó như bậc “thầy của ta”.

- Với bạn bè, đồng đội, ta phải sống với cái tâm chân thành; dám chỉ ra những khuyết

điểm của bạn mà ta nhận thấy, với thức cầu mong cho bạn mình ngày càng hoàn thiện.

- Mỗi chúng ta cần biết “chia ngọt sẻ bùi"” với bạn bè coi thành tích của bạn làm niềm vui

chung cùng chia sẻ.

B. Kiểu bài nghị luận văn học:

Bài số 1: Bài thơ " Ánh trăng" của Nguyễn Duy kết thúc bằng một hình ảnh:

" ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình".

Theo em, cái " giật mình" ấy cho ta hểu gì về nhân vật trữ tình trong bài thơ?

* Gợi ý: Học sinh cần chỉ ra được các ý cơ bản sau:

- Khổ cuối của bài thơ Ánh trăng có tính chất triết lí nhẹ nhàng mà sâu sắc. Có ý nghĩa kết đọng

hình ảnh vầng trăng và chủ đề tác phẩm:

" ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình".

- " Giật mình" là trạng thái tâm lí của con người khi bắt gặp cái gì đó xuất hiện một cách đột

ngột trước mắt, cái đó đã từng gặp hoặc chưa từng thấy.

- Trong văn cảnh này, vầng trăng là đối tượng nhà thơ đã từng gắn bó, tri kỉ. Nhưng thời gian

con người sống trong ánh điện, cuộc sống hiện đại đã lãng quên vầng trăng. Nay đột ngột gặp

lại, giật mình nhớ về vầng trăng xưa.

- Vầng trăng gợi dậy kỉ niệm – những năm tháng tuổi thơ, những năm tháng chiến đấu đã từng

sống và gắn bó với trăng, sơng, đồng, rừng, bể và nhân dân nghĩa tình.

- Cái giật mình nhắc nhở nhà thơ: " Ra sơng nhớ suối, có ngày nhớ đêm", " Uống nước nhớ

nguồn". Đó là đạo lí tri ân, thủy chung của con người.

- Cái giật mình cho ta hiểu nhân cách đáng trọng của cái tơi trữ tình biết nhìn lại chính mình.

Bài số 2: Viết đoạn văn theo cách lập luận diễn dịch nêu cảm nhận của em về khổ thơ sau.

Trong đoạn văn, sử dụng ít nhất hai phép liên kết.

Chân phải bước tới cha

Chân trái bước tới mẹ

Một bước chạm tiếng nói

Hai bước tới tiếng cười

Người đồng mình u lắm con ơi

Đan lờ cài nan hoa

Vách nhà ken câu hát

Rừng cho hoa

Con đường cho những tấm lòng.

(Trích: Nói với con - Y Phương)

* Gợi ý:

1. Yêu cầu về hình thức:

- Học sinh viết một đoạn văn nghị luận văn học (về một khổ thơ).

- Sử dụng ít nhất hai phép liên kết.

77



- Biết kết hợp giữa lí lẽ và cảm xúc, hành văn lưu lốt, khơng mắc lỗi diễn đạt.

2. Yêu cầu về kiến thức:

Học sinh chỉ ra được các ý sau:

- Giới thiệu khái quát về bài thơ: Nói với con là bài thơ đặc sắc của Y Phương,

Tác phẩm đã thể hiện tình cảm gia đình đầm ấm, ca ngợi truyền thống cần cù, sức mạnh của

quê hương và dân tộc mình.

- Vị trí: đoạn mở đầu của bài thơ Nói với con. Y Phương nói với con về cội nguồn sinh dưỡng.

Con lớn lên trong tình thương yêu của cha mẹ, sự đùm bọc của quê hương.

- Cội nguồn của mỗi con người đều bắt đầu từ khơng gian êm của gia đình. Ở đó, con cứ lớn

lên từng ngày trong tình yêu thương, trong sự nâng đón và mong chờ của cha mẹ.

+ Tác giả gợi ra một khơng khí gia đình đầm ấm, quấn qt tràn ngập tình u thương và

âm thanh tiếng nói cười của con thơ bằng nhịp 2/3, cùng cấu trúc đối xứng và nhiều từ được láy

lại:

Chân phải- chân trái; một bước - hai bước; tiếng nói - tiếng cười đã tạo ra âm điệu tươi

vui, quấn quýt. Người đọc cảm nhận được trong hình ảnh thơ một khung cảnh cụ thể với ánh

mắt trìu mến, vòng tay âu yếm của cha mẹ, bước chân chập chững của con thơ.

+ Trong khung cảnh tươi vui, đầm ấm ấy ta thấy rõ tình yêu thương của cha mẹ dành cho

con: từng bước đi, từng tiếng nói của con đều được cha mẹ chăm chút, vui mừng đón nhận.

- Trong lời tâm tình với con, người cha cho con biết: con được trưởng thành trong cuộc sống

lao động, trong thiên nhiên thơ mộng và nghĩa tình của quê hương.

Người đồng mình yêu lắm con ơi

Đan lờ cài nan hoa

Vách nhà ken câu hát

Rừng cho hoa

Con đường cho những tấm lòng.

+ Người đồng mình yêu lắm, rất cần cù trong lao động, đan lờ, cài nan hoa, ken vách. Con

lớn lên nhờ sự nuôi dưỡng từ vật chất và tình thân quê hương, của thiên nhiên thơ mộng: Rừng

cho hoa/ Con đường cho những tấm lòng. Con đường là quê hương, tấm lòng là tình u

thương, sẻ chia, đùm bọc, gắn bó của người đồng mình.Con hãy nhớ và thấy được vẻ đẹp ấy để

mà yêu thương, mà gắn bó với quê hương.

-> Người cha muốn con hiểu quê hương mình và vùng đât giàu truyền thống văn hóa, trọng

tình nghĩa.

Bài số 3: Trình bày cảm nhận của em về đoạn thơ sau.

Mọc giữa dòng sơng xanh

Một bơng hoa tìm biếc

Ơi con chim chiền chiện

Hót chi mà vang trời

Từng giọt long lanh rơi

Tơi đưa tay tơi hứng.

(Trích: Mùa xn nho nhỏ - Thanh Hải)

* Gợi ý:

1. Yêu cầu về hình thức:

- Học sinh viết một đoạn văn nghị luận văn học (về một khổ thơ).

- Sử dụng phép liên kết phù hợp

- Biết kết hợp giữa lí lẽ và cảm xúc, hành văn lưu lốt, khơng mắc lỗi diễn đạt.

2. u cầu về kiến thức:

78



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đề số 22: "Mọi tiết kiệm, suy cho cùng là tiết kiệm thời gian" - C.Mac Trình bày suy nghĩ của em bằng một đoạn văn về câu nói trên.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×