Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thực trạng về quản lý và sử dụng đất trồng lúa

Thực trạng về quản lý và sử dụng đất trồng lúa

Tải bản đầy đủ - 0trang

Năm

2010



STT Chỉ tiêu



NQ

Quốc hội Năm

duyệt đến 2015

năm 2015



Tỷ lệ

thực

hiện



lên)

Năm 2015, diện tích đất lúa là 4.030,75 nghìn ha, chiếm 12,17% diện tích

tự nhiên và chiếm 15,04% diện tích nhóm đất nơng nghiệp của cả nước; giảm

89,44 nghìn ha so với năm 2010 (trong đó: diện tích đất chun trồng lúa nước

là 3.275,38 nghìn ha, giảm 22,10 nghìn ha). Theo chỉ tiêu Quốc hội duyệt đến

năm 2015 đất trồng lúa còn 3.951 nghìn ha, cho phép giảm diện tích đất trồng

lúa 169,18 nghìn ha (đất chuyên trồng lúa nước 39,49 nghìn ha). Như vậy, việc

giảm diện tích đất trồng lúa và đất chuyên trồng lúa nước vẫn nằm trong giới

hạn Quốc hội cho phép.

Diện tích đất trồng lúa phân theo các vùng như sau:

- Vùng Trung du và miền núi phía Bắc có 526,49 nghìn ha (trong đó diện tích đất

chun trồng lúa nước là 258,31 nghìn ha), chiếm 13,06% diện tích đất trồng

lúa của cả nước. Đất trồng lúa tập trung chủ yếu tại các tỉnh Bắc Giang (69,20

nghìn ha), Điện Biên (59,54 nghìn ha), Thái Nguyên (45,69 nghìn ha), Phú Thọ

(44,41 nghìn ha), Sơn La (42,59 nghìn ha), Lạng Sơn (41,61 nghìn ha).

So với năm 2010, diện tích đất trồng lúa tồn vùng giảm 2,80 nghìn ha, đạt

98,03% chỉ tiêu Quốc hội duyệt (đất chuyên trồng lúa nước chỉ tiêu Quốc hội

duyệt tăng thêm 2,61 nghìn ha nhưng thực tế thực hiện lại giảm 0,67 nghìn ha);

trong đó có 10 tỉnh giảm với diện tích 13,34 nghìn ha (Lai Châu 3,51 nghìn ha,

Bắc Giang 2,42 nghìn ha, Thái Nguyên 2,34 nghìn ha, còn lại các tỉnh Điện Biên,

n Bái, Phú Thọ... mỗi tỉnh giảm khoảng 1 nghìn ha); 4 tỉnh tăng 10,53 nghìn ha

(Sơn La 5,32 nghìn ha, Bắc Kạn 2,91 nghìn ha, Hà Giang 2,13 nghìn ha,...).

- Vùng Đồng bằng sơng Hồng có 586,50 nghìn ha (trong đó diện tích đất chun

trồng lúa nước là 541,64 nghìn ha), chiếm 14,55% diện tích đất trồng lúa của cả

nước. Đất trồng lúa tập trung chủ yếu tại các tỉnh như: thành phố Hà Nội

(109,28 nghìn ha), Thái Bình (79,58 nghìn ha), Nam Định (75,96 nghìn ha), Hải

Dương (63,75 nghìn ha),...

So với năm 2010, đất trồng lúa giảm 33,45 nghìn ha, đạt 97,67% chỉ tiêu

Quốc hội duyệt (đất chuyên trồng lúa nước giảm 25,84 nghìn ha, đạt 99,30%).



Diện tích đất trồng lúa giảm nhiều tại thành phố Hà Nội 5,50 nghìn ha, Thái

Bình 5,08 nghìn ha, Hải Phòng 4,59 nghìn ha, Nam Định 4,11 nghìn ha, Hà

Nam 2,73 nghìn ha, Hải Dương 2,66 nghìn ha, Vĩnh Phúc 2,20 nghìn ha,...

- Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có 696,12 nghìn ha (trong đó

diện tích đất chun trồng lúa nước là 580,34 nghìn ha), chiếm 7,25% diện tích

tự nhiên của vùng và 17,27% diện tích đất trồng lúa của cả nước, tăng 0,29

nghìn ha so với năm 2010, trong đó:

+ Tiểu vùng Bắc Trung Bộ có 407,61 nghìn ha (trong đó diện tích đất

chun trồng lúa nước là 343,77 nghìn ha), chiếm 58,55% diện tích đất trồng

lúa của vùng. Đất trồng lúa tập trung chủ yếu tại các tỉnh Thanh Hóa (143,02

nghìn ha), Nghệ An (105,00 nghìn ha), Hà Tĩnh (69,62 nghìn ha),...

So với năm 2010, đất trồng lúa giảm 0,27 nghìn ha, đạt 95,41% chỉ tiêu

Quốc hội duyệt (đất chun trồng lúa nước tăng 10,96 nghìn ha), trong đó có 4 tỉnh

giảm (6,40 nghìn ha), Thanh Hóa 3,63 nghìn ha, Quảng Trị 1,81 nghìn ha,...; có 02

tỉnh tăng 6,13 nghìn ha (Hà Tĩnh 4,93 nghìn ha, Quảng Bình 1,19 nghìn ha).

+ Tiểu vùng Dun hải miền Trung có 288,51 nghìn ha (trong đó diện tích

đất chun trồng lúa nước là 236,57 nghìn ha), chiếm 41,45% diện tích đất trồng

lúa của vùng, tập trung chủ yếu tại các tỉnh Bình Thuận (53,29 nghìn ha), Bình

Định (54,00 nghìn ha), Quảng Nam (58,34 nghìn ha), Quảng Ngãi (41,91 nghìn

ha).

Đất trồng lúa so với năm 2010 tăng 0,56 nghìn ha, vượt 5,58% chỉ tiêu

Quốc hội duyệt (trong đó đất chuyên trồng lúa nước tăng 11,95 nghìn ha), trong

đó có 04 tỉnh tăng (3,98 nghìn ha), Quảng Nam 1,93 nghìn ha, Bình Thuận 0,85

nghìn ha, Bình Định 0,65 nghìn ha, Khánh Hóa 0,54 nghìn ha; có 04 tỉnh giảm

(3,42 nghìn ha), Quảng Ngãi 1,61 nghìn ha, Phú Yên 0,96 nghìn ha, Đà Nẵng

0,52 nghìn ha, Ninh Thuận 0,33 nghìn ha.

- Vùng Tây Ngun có 168,20 nghìn ha (trong đó diện tích đất chun trồng lúa

nước là 98,08 nghìn ha), chiếm 4,17% diện tích đất trồng lúa của cả nước, tập trung

chủ yếu tại các tỉnh Đắk Lắk (62,35 nghìn ha), Gia Lai (57,57 nghìn ha).

Đất trồng lúa so với năm 2010, tăng 1,32 nghìn ha, so với chỉ tiêu Quốc

hội duyệt đạt 97,09% (đất chuyên trồng lúa nước tăng 10,58 nghìn ha, đạt

99,03%), trong đó: có 2 tỉnh tăng (4,23 nghìn ha), gồm: Đắk Lắk 3,70 nghìn,

Kon Tum 0,53 nghìn ha; có 3 tỉnh giảm (2,91 nghìn ha), gồm: Gia Lai 2,18

nghìn ha, Lâm Đồng 0,44 nghìn ha, Đắk Nơng 0,28 nghìn ha.



- Vùng Đơng Nam Bộ có 145,69 nghìn ha (trong đó diện tích đất chun trồng

lúa nước là 86,27 nghìn ha), chiếm 3,61% diện tích đất trồng lúa của cả



nước, tập trung tại tỉnh Tây Ninh (74,13 nghìn ha), Đồng Nai (29,96 nghìn ha).

Đất trồng lúa so với năm 2010, giảm 35,53 nghìn ha, so với chỉ tiêu Quốc

hội duyệt vượt 9,90% (đất chuyên trồng lúa nước giảm 18,76 nghìn ha, vượt

13,67%). Đất trồng lúa giảm nhiều tại thành phố Hồ Chí Minh (10,31 nghìn ha),

Tây Ninh (9,37 nghìn ha), Đồng Nai (8,77 nghìn ha), Bình Dương (4,43 nghìn

ha),...

- Vùng Đồng bằng sơng Cửu Long có 1.907,75 nghìn ha (trong đó diện tích đất

chun trồng lúa nước là 1.710,74 nghìn ha), chiếm 47,33% diện tích đất trồng

lúa của cả nước, tập trung tại các tỉnh Kiên Giang (387,94 nghìn ha), Long An

(263,02 nghìn ha), An Giang (255,05 nghìn ha), Đồng Tháp (225,27 nghìn ha),

Sóc Trăng (147,67 nghìn ha), Cà Mau (99,57 nghìn ha), Trà Vinh (96,63 nghìn

ha)...



2.500



Vùng Trung du miền núi

phía Bắc



2.000



Vùng Đồng bằng sông

Hồng



1.500



Vùng Bắc Trung Bộ và

Duyên hải miền Trung



1.

00

0

ha 1.000



Vùng Tây Nguyên

Vùng Đông Nam Bộ

Vùng Đồng bằng sông Cửu

Long (1.000 ha x 2 lần)



500



-



Năm 2010



Biểu đồ : Xu hướng

thời kỳ 2011 - 2015



Năm 2015



biến



động



đất



trồng



lúa



theo



vùng



So với năm 2010, đất trồng lúa giảm 19,27 nghìn ha, đạt 97,84% chỉ tiêu

Quốc hội duyệt (đất chuyên trồng lúa nước giảm 10,33 nghìn ha, đạt chỉ tiêu

Quốc hội), trong đó: có 8 tỉnh giảm (39,31 nghìn ha), tập trung chủ yếu tại Cà

Mau (17,31 nghìn ha), Bến Tre (7,12 nghìn ha), Tiền Giang (5,40 nghìn ha),

Cần Thơ (3,65 nghìn ha)...và có 5 tỉnh tăng (20,04 nghìn ha), tập trung chủ yếu

tại Kiên Giang (10,57 nghìn ha), Long An (4,42 nghìn ha), Bạc Liêu (3,91 nghìn

ha), Sóc Trăng (1,08 nghìn ha),...

Trong giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất trồng lúa tăng khoảng 45 nghìn



ha từ đất trồng cây hàng năm, đất trồng tràm và đất chưa sử dụng; đồng thời đất

trồng lúa giảm 135 nghìn ha, trong đó chuyển đổi nội bộ khoảng 40 nghìn ha

sang đất trồng cây lâu năm, ni trồng thủy sản... để nâng cao hiệu quả sử dụng

đất và chuyển sang các mục đích phi nơng nghiệp (phát triển đơ thị, khu công

nghiệp, dịch vụ, hạ tầng, xây dựng nông thơn mới...) khoảng 95 nghìn ha. Như

vậy, đất trồng lúa thực giảm 89,44 nghìn ha, tập trung chủ yếu ở vùng Đồng

bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sơng Cửu Long.

Nhìn chung, diện tích đất trồng lúa trong giai đoạn 2011 - 2015 tiếp tục bị

suy giảm cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tuy nhiên tốc độ đất trồng

lúa giảm chậm hơn so với giai đoạn 2001 - 2010 và chiếm khoảng 53% diện tích

đất trồng lúa được Quốc hội cho phép giảm (đất chuyên trồng lúa nước đạt 56%).

Một số tỉnh diện tích đất chuyên trồng lúa nước chỉ tiêu duyệt tăng nhưng thực tế

thực hiện lại giảm như Thanh Hóa, Tây Ninh, Bến Tre, Đăk Nơng, Bình Dương...

Mặc dù, diện tích đất trồng lúa giảm so với năm 2010, nhưng nhờ tăng

cường công tác thủy lợi, áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, đẩy mạnh

thâm canh tăng vụ, đưa các giống mới vào sản xuất..., nên năng suất lúa vẫn tiếp

tục tăng từ 53,4 tạ/ha lên 57,6 tạ/ha (năm 2014) và sản lượng lúa tăng từ 40 triệu

tấn lên 44,97 triệu tấn (tăng 10,2%). Bình quân đạt 495 kg thóc/người/năm, tăng

35 kg/người/năm so với năm 2010 (460 kg/người/năm). Hệ số sử dụng đất đạt

1,95 lần, tăng 0,13 lần so với năm 2010 (1,82 lần). Sản xuất lúa đã đảm bảo an

ninh lương thực quốc gia, đồng thời đưa nước ta trở thành nước xuất khẩu gạo

đứng hàng đầu thế giới.

2. Thuận lợi và khó khăn trong việc quản lý và sử dụng đất trồng lúa

2.1. Thuận lợi trong việc quản lý và sử dụng đất trồng lúa

Thứ nhất, Nhà nước đặc biệt quan tâm đến việc hỗ trợ tài chính cho người

trồng lúa. Từ Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 35/2015/NĐ-CP về quản lý,

sử dụng đất trồng lúa (có hiệu lực từ ngày 1/7/2015) đến Thơng tư 18/2017/TTBNNPTNT và các văn bản liên quan khác đều quy định khá đầy đủ và rõ ràng

về các chính sách ưu đãi tài chính cho người dân trồng lúa.

Nhà nước thực hiện việc giao đất không thu tiền sử dụng đất, miễn giảm tiền

sử dụng đất, tiền thuê đất cho người trồng lúa. Trong đó, Nhà nước giao khơng

thu tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp

trong hạn mức (Điều 54 Luật Đất đai năm 2013). Riêng đối với hộ gia đình, cá



nhân là dân tộc thiểu số thì Nhà nước còn thực hiện miễn, giảm tiền SDĐ, tiền

th đất nơng nghiệp, trong đó có đất trồng lúa (Điều 110 Luật Đất đai năm

2013).

Thứ hai, Nhà nước miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với: Tất cả

các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trồng lúa được Nhà nước giao trong hạn

mức giao đất nông nghiệp để sản xuất nông nghiệp; đất được thừa kế, cho tặng,

nhận chuyển quyền sử dụng đất mà trong hạn mức cũng được Nhà nước áp

dụng chính sách này…Theo các chuyên gia kinh tế, với chính sách này, người

sử dụng đất trồng lúa được nhà nước thực hiện miễn giảm thuế phổ biến hơn sử

dụng các loại đất nông nghiệp khác

Thứ ba, theo Nghị định số 35/2015/NĐ-CP, Nhà nước sẽ hỗ trợ bằng tiền cho

người nông dân khi sử dụng và phát triển đất trồng lúa. Trong đó, khi sử dụng

đất trồng lúa, người nông dân được hỗ trợ tiền để mua giống mới, tiến bộ kỹ

thuật, công nghệ mới trong sản xuất lúa hoặc/và liên kết sản xuất, tiêu thụ sản

phẩm.

Đặc biệt, Nhà nước còn hỗ trợ mức cố định đối với tất cả các hộ gia đình, cá

nhân trên tồn quốc với mức mười triệu đồng/ha đất trồng lúa được khai hoang,

cải tạo (trừ đất trồng lúa nương được khai hoang từ đất chưa sử dụng hoặc phục

hóa từ đất bị bỏ hóa) và 5.000.000 (năm triệu) đồng/ha đất chuyên trồng lúa

nước được cải tạo từ đất trồng lúa nước một vụ hoặc đất trồng cây khác…

2.2. Những khó khăn trong việc quản lý và sử dụng đất trồng lúa

Những khó khăn của một số địa phương khi thực hiện Nghị định 35/2015/NĐCP về quản lý và sử dụng đất trồng lúa:

Theo Báo cáo số 225/BC-UBND Huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang và Báo

cáo 452/SNN-VP của Tỉnh Đồng Tháp về kết quả thực hiện Nghị định

35/2015/NĐ-CP ngày 14/5/2015 thì:

- Địa bàn điều tra rộng, diện tích sản xuất lúa của hộ còn manh mún, nhỏ

lẻ nên thời gian điều tra kéo dài.

- Một số hộ dân ở địa phương khác đến canh tác nên khó khăn trong việc điều tra.

- Một số hộ kê khai khơng đúng diện tích và việc quy đổi diện tích nên còn hụt

diện tích sản xuất lúa của hộ.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thực trạng về quản lý và sử dụng đất trồng lúa

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×