Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Mối quan hệ là người thân trong gia đình

b. Mối quan hệ là người thân trong gia đình

Tải bản đầy đủ - 0trang

Kết quả ở bảng 10 cho thấy:

Đối với người Mỹ: Khi được tặng quà, nhóm tuổi 1 lựa chọn CLCOTT với

tỉ lệ 100% khi nói với tất cả các thành viên trong gia đình. Nhóm tuổi 2 sử cũng

sử dụng CLCOTT với tỉ lệ 100% đối với người thân là em và vợ, chồng và khi

nói với bố, mẹ và anh, chị nhóm tuổi này cũng sử dụng CLCOTT với tỉ lệ bằng

nhau đạt 96.7%, CLCOGT đạt 3.3%. Nhóm tuổi 3 sử dụng CLCOTT với tỉ lệ

cao nhất khi nói với bố, mẹ đạt 96.4%, tỉ lệ CLCOGT đạt 3.6%. Khi nói với anh,

chị và em, nhóm tuổi này đạt tỉ lệ bằng nhau ở CLCOTT là 94.5% và CLCOGT

là 5.5%, tỉ lệ CLCOTT đạt tỉ lệ thấp nhất là khi nói với vợ, chồng.

Đối với người Việt: Hầu hết các nhóm tuổi đều ưa lược chọn các CLCOGT khi

nói với người thân trong gia đình. Tuy nhiên, giữa ba nhóm tuổi có sự lựa chọn các

CL với tỉ lệ khác nhau khi nói với từng thành viên trong gia đình, cụ thể:

Khi nói với bố, mẹ, nhóm tuổi 3 lựa chọn CLCOGT với tỉ lệ cao nhất

72.0%, tiếp đến nhóm tuổi thứ 2 đạt 67.8%, và nhóm tuổi 1 đạt tỉ lệ thấp nhất

60.0%, ngược lại với CLCOTT thì nhóm tuổi 1 chiếm tỉ lệ cao nhất đạt 40.0%.

Khi nói với anh, chị, các CL giữa các nhóm tuổi cũng có sự thay đổi về tỉ

lệ. Nhóm tuổi 2 sử dụng CLCOGT đạt tỉ lệ cao nhất 57.4%, tiếp đến là nhóm

tuổi 1 đạt 55.2%, cuối cùng là nhóm tuổi 3 đạt 42.0%.

Khi nói với em, tỉ lệ CLCOGT được cả ba nhóm lựa chọn cao hơn hai lần so

với CLCOTT, tỉ lệ giảm dần từ nhóm tuổi 1 đến nhóm tuổi 3, lần lượt là 68.0%,

64.3% và 62.0%, CLCOTT lại đạt với tỉ lệ tăng dần, 32.0%, 35.7% và 38.0%.

Khi nói với người bạn đời là vợ hay chồng, nhóm tuổi 2 sử dụng CLCOGT

đạt tỉ lệ 77.4%, cao hơn hai nhóm tuổi còn lại.

Kết quả kiểm định Chi-square cho thấy, khi đáp lại món quà được tặng từ

người thân, các nhóm tuổi người Mĩ đạt giá trị P = 0.899, cao hơn 0.05, nên

khơng có ý nghĩa thống kê. Người Việt có giá trị P = 0.000, thấp hơn 0.05 nên có

thể kết luận, nhân tố tuổi đã tác động đến việc lựa chọn các CLCO của người

Việt khi nói với người thân về món quà được tặng.



3.4.1.2. Tình huống 2: Khi nhận được lời khen mặc bộ trang phục đẹp

a. Mối quan hệ là đồng nghiệp

Bảng 11: Các chiến lược cảm ơn của 3 nhóm tuổi người Mĩ và người Việt khi

được đồng nghiệp khen mặc bộ trang phục đẹp

NHA



Giới tính

NGA

Đồng nghiệp lớn tuổi



Nhóm

tuổi 1



Đồng nghiệp bằng tuổi

Đồng nghiệp nhỏ tuổi

Đồng nghiệp lớn tuổi



Nhóm

tuổi 2



Đồng nghiệp bằng tuổi

Đồng nghiệp nhỏ tuổi



Nhóm

tuổi 3



Đồng nghiệp lớn tuổi

Đồng nghiệp bằng tuổi

Đồng nghiệp nhỏ tuổi

Tổng



Người Mĩ

Trực

Gián

tiếp

tiếp

100

0

100%

100

100%

100

100%

118

98.3%

119

99.2%

116

96.7%

215

97.7%

212

96.4%

212

96.4%

1307

99.0%



0.0%

0

0.0%

0

0.0%

2

1.7%

1

0.8%

4

3.3%

5

2.3%

8

3.6%

8

3.6%

13

1.0%



Tổng



100



Người Việt

Trực

Gián

tiếp

tiếp

80

170



100%

100

100%

100

100%

120

100%

120

100%

120

100%

220

100%

220

100%

220

100%

1320

100%



32.0%

61

24.4%

50

20.0%

70

30.4%

49

21.3%

52

22.6%

22

22.0%

20

20.0%

16

16.0%

420

24.1%



100%

250

100%

250

100%

230

100%

230

100%

230

100%

100

100%

100

100%

100

100%

1740

100%



Tổng



68.0%

189

75.6%

200

80.0%

160

69.6%

181

78.7%

178

77.4%

78

78.0%

80

80.0%

84

84.0%

1320

75.9%



250



Đối với người Mĩ: Kết quả ở bảng 11 cho thấy, nhóm tuổi 1 chỉ sử dụng CLCOTT với

tỉ lệ tuyệt đối 100%, giảm dần ở hai nhóm tuổi còn lại, tỉ lệ trung bình lần lượt là: nhóm

tuổi 2 đạt 98,1%, nhóm tuổi 3 đạt 96.8%.

Đối với người Việt: Khác với người Mĩ khi đáp lại lời khen của đồng nghiệp, người

Việt lựa chọn CLCOGT với tỉ lệ cao hơn CLCOTT, khi nói với đồng nghiệp lớn tuổi và

đồng nghiệp bằng tuổi thì CLCOGT đạt tỉ lệ tăng dần từ nhóm tuổi 1 đến nhóm tuổi 3, lần

lượt 68.0%, 69.6% và 78.0%, tỉ lệ CLCOTT lại giảm dần từ nhóm tuổi 1 đạt tỉ lệ cao

nhất 32.0%, tiếp đến nhóm tuổi 2 đạt 30.4% và nhóm tuổi 3 đạt 22.0%. Khi nói với đồng

nghiệp nhỏ tuổi thì nhóm tuổi 3 lại đạt tỉ lệ cao nhất ở CLCOGT 84.0%, tiếp đến nhóm tuổi

2 đạt 80.0% và thấp nhất ở nhóm tuổi 2 đạt 77.4%. Kết quả kiểm định Chi-square cho thấy,

khi đáp lại lời khen của đồng nghiệp,

giá trị P của người Mĩ bằng 0.5 cao hơn 0.05 nên giá trị này không có ý nghĩa thống kê.

Người Việt có giá trị P = 0.001. Như vậy, chỉ có người Việt mới chịu sự tác động của nhân

tố tuổi tới việc sử dụng CLCO.



b. Mối quan hệ là người thân trong gia đình

Bảng 12: Các chiến lược cảm ơn của 3 nhóm tuổi người Mĩ và người Việt khi

được người thân trong gia đình khen mặc bộ trang phục đẹp

Giới tính

NHA

NGA

Bố, mẹ

Nhóm

tuổi 1



Anh, chị

Em

Vợ, chồng

Bố, mẹ



Nhóm

tuổi 2



Anh, chị

Em

Vợ, chồng



Nhóm

tuổi 3



Bố, mẹ

Anh, chị

Em

Vợ, chồng

Tổng



Người Mĩ

Trực tiếp Gián tiếp

50

0

100%

0.0%

50

0

100%

0.0%

50

0

100%

0.0%

50

0

100%

0.0%

60

0

100%

0.0%

58

2

96.7%

3.3%

59

1

98.3%

1.7%

60

0

100.0%

0.0%

107

3

97.3%

2.7%

108

2

98.2%

1.8%

107

3

97.3%

2.7%

105

5

95.5%

4.5%

864

16

98.2%

1.8%



Tổng

50

100%

50

100%

50

100%

50

100%

60

100%

60

100%

60

100%

60

100%

110

100%

110

100%

110

100%

110

100%

880

100.0%



Người Việt

Trực tiếp Gián tiếp

17

108

13.6%

86.4%

10

115

8.0%

92.0%

2

123

1.6%

98.4%

13

112

10.4%

89.6%

6

109

5.2%

94.8%

7

108

6.1%

93.9%

3

112

2.6%

97.4%

27

88

23.5%

76.5%

2

48

4.0%

96.0%

3

47

6.0%

94.0%

2

48

4.0%

96.0%

7

43

14.0%

86.0%

99

1061

8.5%

91.5%



Tổng

125

100%

125

100%

125

100%

125

100%

115

100%

115

100%

115

100.0%

115

100%

50

100%

50

100%

50

100%

50

100%

1160

100%



Kết quả ở bảng 12 cho thấy:

Đối với người Mĩ: Giống như khi nói với đồng nghiệp, nhóm tuổi 1 cũng lựa chọn

CLCOTT với tỉ lệ cao nhất, đạt tuyệt đối 100% khi nói với bố, mẹ. Tỉ lệ này cũng được

nhóm tuổi 2 lựa chọn sử dụng khi nói với bố, mẹ và vợ, chồng, trong khi nhóm tuổi 3 sử

dụng với tỉ lệ thấp hơn một chút, nhưng CLCOGT lại được nhóm này sử dụng với tỉ lệ cao

nhất khi nói với vợ, chồng đạt 4.5% so sánh với các nhóm tuổi còn lại.

Đối với người Việt: CLCOGT đạt cao nhất khi nhóm tuổi 1 nói với em, đạt 98.4%,

CLCOTT đạt tỉ lệ thấp nhất 1.6%. Tỉ lệ CLCOGT được sử dụng thấp nhất thuộc về nhóm

tuổi 2 ở mối quan hệ vợ chồng đạt 76.5%, và CLCOTT đạt tỉ lệ cao nhất 23.5% khi so sánh

với tất cả các mối quan hệ ở các nhóm tuổi. Khi nói với bố mẹ, người Việt có xu hướng

chọn CLCOGT với tỉ lệ tăng dần và CLCOTT lại giảm



dần theo các nhóm. Khơng có sự chênh lệch nhiều về mức độ sử dụng CLCOGT và

CLCOTT ở mối quan hệ anh, chị giữa các nhóm tuổi.

Kết quả kiểm định Chi –Square cho thấy, đối với người Mĩ, giá trị P = 0.917, lớn hơn

0.05 nên khơng có ý nghĩa thống kê. Người Việt có P = 0.000, nhỏ hơn

0.05 nên có ý nghĩa thống kê, nên có thể kết luận rằng, độ tuổi có ảnh hưởng tới việc lựa chọn

các CLCO của người Việt.

3.4.2. Các chiến lược hồi đáp cảm ơn của người Mĩ và người Việt từ góc độ tuổi

3.4.2.1. Tình huống 1: Khi được cảm ơn về món quà sinh nhật

a. Mối quan hệ là đồng nghiệp

Bảng 13: Các chiến lược hồi đáp cảm ơn của 3 nhóm tuổi người Mĩ và người

Việt khi được đồng nghiệp cảm ơn về món quà sinh nhật

NHA

Nhóm

tuổi 1



Giới tính

NGA

Đồng

nghiệp lớn tuổi

Đồng

nghiệp bằng

tuổi

Đồng

nghiệp nhỏ tuổi

Đồng



Nhóm

tuổi 2



nghiệp lớn tuổi

Đồng

nghiệp bằng

tuổi

Đồng



Nhóm

tuổi 3



nghiệp nhỏ tuổi

Đồng

nghiệp lớn tuổi

Đồng

nghiệp

bằng tuổi

Đồng

nghiệp

nhỏ tuổi

Tổng



Người Mĩ

Trực tiếp Gián tiếp

99

1

99.0%

1.0%



Tổng



100

100%



Người Việt

Trực tiếp Gián tiếp

120

130

48.0%

52.0%



96

96.0%



4

4.0%



100

100%



111

44.4%



139

55.6%



250

100%



97

97.0%



3

3.0%



100

100%



127

50.8%



123

49.2%



250

100%



118

98.3%



2

1.7%



120

100%



125

54.3%



105

45.7%



230

100%



117

97.5%



3

2.5%



120

100%



94

40.9%



136

59.1%



230

100%



115

95.8%



5

4.2%



120

100%



122

53.0%



108

47.0%



230

100%



216

98.2%



4

1.8%



220

100%



56

56.0%



44

44.0%



100

100%



215

97.7%

213

96.8%

1286

97.4%



5

2.3%

7

3.2%

34

2.6%



220

100%

220

100%

1320

100%



37

37.0%

52

52.0%

844

48.5%



63

63.0%

48

48.0%

896

51.5%



100

100%

100

100%

1740

100%



Tổng



250

100%



Đối với người Mĩ: CLHĐCOTT được lựa chọn với tỉ lệ cao nhất ở nhóm tuổi 1

(99.0%) khi nói với đồng nghiệp lớn tuổi, nhóm tuổi 2 và 3 đạt tỉ lệ gần bằng nhau, lần lượt

là 98.3% và 98.2%, tỉ lệ CLHĐCOGT được 3 nhóm tuổi lựa chọn với tỉ lệ khơng đáng kể.

Khi nói với đồng nghiệp bằng tuổi, nhóm tuổi 1 sử dụng CLHĐCOTT với tỉ lệ (96.0%)



thấp hơn hai nhóm tuổi còn lại. Khi nói với đồng nghiệp nhỏ tuổi, nhóm tuổi 1 lại đạt tỉ lệ

sử dụng CLHĐCOTT cao nhất (97.0%), xếp thứ hai là nhóm tuổi 3 (96.8%) và thấp nhất là

nhóm tuổi 2 (95.8%).



Đối với người Việt: Khi đáp lại lời cảm ơn của đồng nghiệp lớn tuổi về món quà sinh

nhật, nhóm tuổi 1 lựa chọn CLHĐCOGT với tỉ lệ 52.0% cao hơn nhóm tuổi 2 (45.7%) và 3

(44.0%), và tỉ lệ CLHĐCOTT lại theo xu thế tăng từ nhóm tuổi 1 (48.0%) và cao nhất ở

nhóm tuổi 3 (56.0%). Với đồng nghiệp bằng tuổi, các CLHĐCO lại được sử dụng theo xu

hướng ngược lại với đồng nghiệp lớn tuổi. Khi nói với đồng nghiệp nhỏ tuổi, nhóm tuổi 2 lại

sử dụng CLHĐCOGT lới tỉ lệ ít nhất là 47.0% và CLHĐCOGT đạt tỉ lệ cao nhất là 53.0%

khi so sánh với hai nhóm còn lại.

Kết quả kiểm định Chi-square cho thấy, giá trị P của người Mĩ bằng 0.228, trong khi

đó người Việt đạt tỉ lệ P = 0.000. Điều này cho thấy, chỉ có người Việt mới bị tác động của

nhân tố tuổi tới việc sử dụng các chiến lược hồi đáp lời cảm ơn khi nói với đồng nghiệp ở

các nhóm tuổi.

b. Mối quan hệ là người thân trong gia đình

Bảng 14: Các chiến lược hồi đáp cảm ơn của 3 nhóm tuổi người Mĩ và người

Việt khi được người thân trong gia đình cảm ơn về món q sinh nhật

NHA



Nhóm

tuổi 1



Tuổi

NGA

Bố, mẹ

Anh, chị

Em

Vợ, chồng

Bố, mẹ



Nhóm

tuổi 2



Anh, chị

Em

Vợ, chồng

Bố, mẹ



Nhóm

tuổi 3



Anh, chị

Em

Vợ, chồng

Tổng



Người Mĩ

Trực tiếp Gián tiếp

49

1

98.0%

2.0%

47

3

94.0%

6.0%

48

2

96.0%

4.0%

47

3

94.0%

6.0%

57

3

95.0%

5.0%

59

1

98.3%

1.7%

58

2

96.7%

3.3%

59

1

98.3%

1.7%

107

3

97.3%

2.7%

105

5

95.5%

4.5%

103

7

93.6%

6.4%

106

4

96.4%

3.6%

845

35

96.0%

4.0%



Tổng

50

100%

50

100%

50

100%

50

100%

60

100%

60

100%

60

100%

60

100%

110

100%

110

100%

110

100%

110

100%

880

100.0%



Người Việt

Trực tiếp Gián tiếp

53

72

42.4%

57.6%

39

86

31.2%

68.8%

42

83

33.6%

66.4%

22

103

17.6%

82.4%

40

75

34.8%

65.2%

45

70

39.1%

60.9%

31

84

27.0%

73.0%

26

89

22.6%

77.4%

15

35

30.0%

70.0%

14

36

28.0%

72.0%

15

35

30.0%

70.0%

12

38

24.0%

76.0%

354

806

30.5%

69.5%



Tổng

125

100%

125

100%

125

100%

125

100%

115

100%

115

100%

115

100%

115

100%

50

100%

50

100%

50

100%

50

100%

1160

100%



Khi đáp lại lời cảm ơn về món quà của người thân, người Mĩ ưa sử dụng

CLHĐCOTT với tỉ lệ cao hơn người Việt ở tất cả các nhóm tuổi, số liệu cụ thể ở

bảng 14:

Đối với người Mĩ: Khi nói với bố, mẹ, nhóm tuổi 1 sử dụng CLHĐCOTT

với tỉ lệ đạt 98.0% cao hơn nhóm tuổi 2 và 3. CLHĐCOTT và CLHĐCOGT

được sử dụng với tỉ lệ bằng nhau lần lượt là 94.0% và 6.0% khi nhóm tuổi 1 nói

với anh, chị và vợ chồng.

Nhóm tuổi 2 lại sử dụng CLHĐCOTT (98.3%) đạt tỉ lệ cao nhất và

CLHĐCOGT (1.7%) khi nói với anh, chị và tỉ lệ này bằng khi nói với vợ, chồng.

Khi nói với em, nhóm tuổi 1 và 2 sử dụng CLHĐCOTT cao với tỉ lệ gần bằng

nhau lần lượt đạt 96.0% và 96.7%, thấp nhất ở nhóm tuổi 3 (93.6%).

Nhóm tuổi 3 sử dụng CLCOTT đạt tỉ lệ cao nhất khi nói với bố, mẹ

(97.3%), mức độ giảm dần khi nói với vợ, chồng, anh chị và em.

Đối với người Việt: Khi nói với bố, mẹ, nhóm tuổi 1 lựa chọn CLHĐCOTT

với tỉ lệ cao nhất (42.4%) và CLHĐCOGT đạt tỉ lệ thấp nhất (57.6%) khi so sánh

với các nhóm tuổi còn lại. Khi nói với anh, chị, nhóm tuổi 1 sử dụng

CLHĐCOTT đạt tỉ lệ (31.2%), CLHĐCOGT (68.8%) gần bằng với tỉ lệ khi nói

với em (33.6%) và (66.4%). Ở mối quan hệ vợ, chồng, nhóm tuổi 1 sử dụng

CLHĐCOGT với tỉ lệ cao nhất (82.4%) và CLHĐCOTT đạt tỉ lệ thấp nhất

(17.6%) so với hai nhóm tuổi còn lại. Và tỉ lệ CLHĐCOTT ở nhóm tuổi 2 và 3

khơng chênh lệch nhiều (22.6% và 24.0%), CLHĐCOGT được hai nhóm tuổi sử

dụng lần lượt (77.4% và 76.0%) cao hơn gấp ba lần so với CLHĐCOTT.

Kiểm định Chi-square cũng được thực hiện trong mối quan hệ là người thân.

Kết quả cho thấy, giá trị P của người Mĩ đạt P = 0.791, cao hơn 0.05 nên khơng có

giá trị thống kê. Người Việt có P = 0.000 nhỏ hơn 0.05 nên có thể khẳng định rằng,

khi đáp lại lời cảm ơn của người thân về món quà, người Việt đã bị ảnh hưởng bởi

nhân tố tuổi.



3.4.2.2. Tình huống 2: Khi được cảm ơn về lời khen mặc bộ trang phục đẹp

a. Mối quan hệ là đồng nghiệp

Bảng 15: Các chiến lược hồi đáp cảm ơn của 3 nhóm tuổi người Mĩ và người Việt khi

được đồng nghiệp cảm ơn về lời khen mặc bộ trang phục đẹp

NHA



Giới tính

NGA

Đồng



Nhóm

tuổi 1



nghiệp lớn tuổi

Đồng

nghiệp bằng

tuổi

Đồng

nghiệp

nhỏ tuổi

Đồng



Nhóm

tuổi 2



nghiệp lớn tuổi

Đồng

nghiệp bằng

tuổi

Đồng



Nhóm

tuổi 3



nghiệp nhỏ tuổi

Đồng

nghiệp lớn tuổi

Đồng

nghiệp bằng

tuổi

Đồng

nghiệp nhỏ tuổi

Tổng



Người Mĩ

Trực

Gián

tiếp

tiếp

66

34

66.0%



Tổng



Tổng



100



Người Việt

Trực

Gián

tiếp

tiếp

19

231



34.0%



100%



7.6%



92.4%



100%



63



37



100



14



236



250



63.0%



37.0%



100%



5.6%



94.4%



100%



64

64.0%

90



36

36.0%

30



100

100%

120



9

3.6%

35



241

96.4%

195



250

100%

230



75.0%



25.0%



100%



15.2%



84.8%



100%



88



32



120



21



209



230



73.3%



26.7%



100%



9.1%



90.9%



100%



80

66.7%



40

33.3%



120

100%



15

6.6%



214

93.4%



230

100%



166

75.5%



54

24.5%



220

100%



12

12.0%



88

88.0%



100

100%



154

70.0%



66

30.0%



220

100%



8

8.0%



92

92.0%



100

100%



156



64



220



11



89



100



70.9%



29.1%



100%



11.0%



89.0%



100%



927



393



1320



144



1595



1740



70.2%



29.8%



100%



8.3%



91.7%



100%



250



Kết quả khảo sát ở bảng 15 cho thấy:

Đối với người Mĩ: Khi nói với đồng nghiệp lớn tuổi, bằng tuổi và nhỏ tuổi, nhóm tuổi

1 sử dụng CLHĐCOTT với tỉ lệ đạt gần bằng nhau, tỉ lệ trung bình đạt 63.4% và thấp hơn

khi so sánh với hai nhóm tuổi còn lại. CLHĐCOTT đạt tỉ lệ cao nhất khi nhóm tuổi 3 nói

với đồng nghiệp lớn tuổi (75.5%) và tỉ lệ CLHĐCOGT đạt cao nhất khi nhóm tuổi 1 nói

với đồng nghiệp bằng tuổi (37.0%)



Đối với người Việt: CLHĐCOGT được người Việt sử dụng với tỉ lệ rất cao ở các

nhóm tuổi, trong đó nhóm tuổi 1 sử dụng với tỉ lệ cao nhất và theo xu hướng tăng dần khi

nói với đồng nghiệp lớn tuổi, bằng tuổi và nhỏ tuổi, lần lượt từ 92.4%,



94.4%, 96.4% khi so sánh với các nhóm tuổi khác. CLHĐCOTT được lựa chọn nhiều nhất

khi nhóm tuổi 2 nói với đồng nghiệp lớn tuổi (15.2%).

Khi đáp lại lời cảm ơn của đồng nghiệp về lời khen mặc bộ trang phục đẹp, giá trị

kiểm định Chi-square của người Mĩ có P = 0.236, giá trị này lớn hơn 0.05 nên khơng có ý

nghĩa thống kê, trong khi đó người Việt có P = 0.003. Như vậy, chỉ có người Việt mới chịu

sự tác động của nhân tố tuổi đến việc lựa chọn các CLHĐCO.

b. Mối quan hệ là người thân trong gia đình

Bảng 16: Các chiến lược hồi đáp cảm ơn của 3 nhóm tuổi người Mĩ và người Việt

khi được người thân trong gia đình cảm ơn về lời khen mặc bộ trang phục đẹp

Giới tính

NHA

NGA

Bố, mẹ

Anh, chị

Nhóm

tuổi 1



Em

Vợ, chồng

Bố, mẹ



Nhóm

tuổi 2



Anh, chị

Em

Vợ, chồng



Nhóm

tuổi 3



Bố, mẹ

Anh, chị

Em

Vợ, chồng

Tổng



Người Mĩ

Trực

Gián

tiếp

tiếp

33

17

66.0%

34.0%

39

11

78.0%

22.0%

33

17

66.0%

34.0%

34

16

68.0%

32.0%

36

24

60.0%

40.0%

30

30

50.0%

50.0%

32

28

53.3%

46.7%

32

28

53.3%

46.7%

76

34

69.1%

30.9%

77

33

70.0%

30.0%

75

35

68.2%

31.8%

71

39

64.5%

35.5%

568

312

64.5%

35.5%



Tổng



50

100%

50

100%

50

100%

50

100%

60

100%

60

100%

60

100%

60

100%

110

100%

110

100%

110

100%

110

100%

880

100.0%



Người Việt

Trực tiếp

Gián

tiếp

4

121

3.2%

96.8%

10

115

8.0%

92.0%

3

122

2.4%

97.6%

11

114

8.8%

91.2%

6

109

5.2%

94.8%

9

106

7.8%

92.2%

2

113

1.7%

98.3%

7

108

6.1%

93.9%

6

44

12.0%

88.0%

2

48

4.0%

96.0%

1

49

2.0%

98.0%

4

46

8.0%

92.0%

65

1095

5.6%

94.4%



Tổng



125

100%

125

100%

125

100%

125

100%

115

100%

115

100%

115

100%

115

100%

50

100%

50

100%

50

100%

50

100%

1160

100%



Các chiến lược hồi đáp lời cảm ơn về lời khen trang phục của các nhóm tuổi người Mĩ

và người Việt nói với người thân được thể hiện ở bảng 16 cho thấy:

Đối với người Mĩ: Xu hướng lựa chọn CLHĐCOTT vẫn được người Mĩ ưa dùng

hơn CLHĐCOGT.

Ở nhóm tuổi 1: CLHĐCOTT được sử dụng với tỉ lệ cao nhất (78.0%) khi so sánh với

các thành viên khác và so sánh với các nhóm tuổi. CLHĐCOGT đạt tỉ lệ thấp nhất (22.0%),

các thành viên khác sử dụng CLHĐCOTT với tỉ lệ không chênh lệch nhiều, trong đó, khi

nói với bố mẹ và em đạt tỉ lệ bằng nhau: CLHĐCOTT (66.0%) và CLHĐCOGT (34.0%).

Nhóm tuổi 2: CLHĐCOTT đạt tỉ lệ cao nhất khi nói với bố mẹ (60.0%), đạt tỉ lệ bằng

nhau khi nói với em và vợ, chồng (53.3%), CLHĐCOGT đạt (46.7%). Đặc biệt, cả hai

CLHĐ đều đạt tỉ lệ bằng nhau (50.0%) khi nói với anh, chị.

Nhóm tuổi 3: CLHĐCOTT được lựa chọn với tỉ lệ cao nhất khi nói với anh, chị

(70.0%), tiếp đến là khi nói với bố mẹ và em lần lượt (69.1% và 68.2%), các tỉ lệ này gấp

đôi tỉ lệ CLHĐCOGT. Khi nói với người bạn đời CLHĐCOTT đạt tỉ lệ thấp nhất (64.5%).

Đối với người Việt: Khác với người Mĩ, khi đáp lại lời cảm ơn về lời khen của người

thân, người Việt sử dụng CLHĐCOTT với tỉ lệ rất khiêm tốn, thay vào đó là CLHĐCOGT

được ưa dùng.

Nhóm tuổi 1: Sử dụng CLHĐCOGT cao nhất khi nói với em (97.6%), và thấp nhất

khi nói với vợ hoặc chồng (91.2%), CLHĐCOGT lại đạt tỉ lệ ngược lại.

Nhóm tuổi 2: Tỉ lệ CLHHĐGT cũng được sử dụng nhiều nhất khi nhóm tuổi 2 nói với em

(98.3%), và giảm dần khi nói với bố mẹ (94.8%), vợ, chồng (93.9%) và anh, chị (92.2%). Tỉ lệ

CLHĐCOTT đạt giá trị cao nhất khi nói với anh, chị (7.8%)

Nhóm tuổi 3: Như nhóm tuổi 1, và 2, nhóm tuổi 3 cũng lựa chọn CLHĐCOG đạt tỉ lệ

cao nhất khi nói với em (98.0%) và thấp nhất khi nói với bố, mẹ (88.0%), và CLHĐCOGT

lại đạt tỉ kệ cao nhất khi đáp lại bố, mẹ (12.0%).

Kiểm định Chi-square cũng được thực hiện trong mối quan hệ là người thân khi đáp

lại lời cảm ơn về lời khen trang phục đẹp. Kết quả cho thấy, giá trị P của người Mĩ ở các

nhóm tuổi đạt P = 0.784, lớn hơn 0.05 nên khơng có giá trị thống



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Mối quan hệ là người thân trong gia đình

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×