Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
c. Mối quan hệ là người thân trong gia đình

c. Mối quan hệ là người thân trong gia đình

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Các CLCO của em là nam giới và nữ giới nói với anh/chị



Biểu đồ 13: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Mĩ khi nhận được món

quà sinh nhật từ anh, chị



Biểu đồ 14: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Việt khi nhận được

món quà sinh nhật từ anh, chị



Đối với người Mĩ: Giống như khi nói lời cảm ơn với bố, mẹ, khi nói với anh, chị nam

giới cũng ưa chọn CLCOTT với tỉ lệ tuyệt đối 100%, nữ giới cũng sử dụng CLCOTT với tỉ

lệ cao là 93.7%, trong khi đó CLCOGT đạt 6.3%.

Đối với người Việt: Có sự khác nhau nhỏ giữa nam giới và nữ giới, nam giới ưa lựa

chọn CLCOTT khi nói với anh, chị với tỉ lệ 53.5%, CLCOGT đạt 46.5%, còn nữ giới lại ưa

lựa chọn CLCOGT hơn đạt 58.5%, CLCOTT đạt 41.5%.

- Các CLCO của nam giới và nữ giới nói với em



Biểu đồ 15: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Mĩ khi nhận được món

quà sinh nhật từ em



Biểu đồ 16: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Việt khi nhận được

món quà sinh nhật từ em



Đối với người Mĩ: CLCOTT vẫn được cả nam giới và nữ giới ưa lựa chọn với tỉ lệ rất

cao khi nói với em (nam: 97.9%, nữ: 96.8%) trong đó CLCOGT họ chỉ sử dụng với tỉ lệ rất

khiêm tốn (nữ: 2.1%, nam: 3.2%)

Đối với người Việt: Khác với người Mĩ, cả nam và nữ người Việt lại ưu tiên lựa chọn

CLCOGT nhiều hơn CLCOTT, trong đó nam (59.6%) thấp hơn nữ giới (69.3%). Sự lựa

chọn CLCOGT với tỉ lệ cao hơn khi nói lời cảm ơn với em cho thấy, khi nói người thân ít

tuổi hơn, cả nam giới và nữ giới cho rằng đó là bậc dưới quyền, là em nên tránh sử dụng

những lời COTT mà chỉ sử dụng những lời COGT.

- Các TCLCO của nam giới nói với vợ và nữ giới nói với chồng



Biểu đồ 17: Các chiến lược cảm ơn của nam Biểu đồ 18: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Mĩ khi nhận được món giới và nữ giới người Việt khi nhận được

quà sinh nhật từ vợ, chồng

món quà sinh nhật từ vợ, chồng



Đối với người Mĩ: Số liệu ở biểu đồ 17 cho thấy, CLCOTT vẫn được cả hai giới lựa chọn

nhiều hơn rất nhiều so với CLCOGT. Các CL được hai giới sử dụng với tỉ lệ gần bằng nhau.

Với CLCOTT, tỉ lệ sử dụng giữa hai giới đạt lần lượt là: nam (95.7%), nữ (95.2%); ở CLCOGT

nam (4.3%) và nữ (4.8%).

Đối với người Việt: Cả hai giới đều ưa lựa chọn CLCOGT nhiều hơn gấp hai lần so

với CLCOTT. Trong đó, nữ giới lại sử dụng CLCOGT nhiều hơn nam giới (nữ: 77.3%,

nam: 69.3%) được thể hiện ở biểu đồ 18.

Kết quả kiểm định Chi-square cho thấy, ở người Mĩ, chỉ số P = 0.76 lớn hơn

0.05 nên kết quả khơng có ý nghĩa thống kê hay nói cách khác là nhân tố giới khơng có tác

động tới việc lựa chọn các CLCO của người Mĩ. Trong khi chỉ số Chi-Square của người

Việt P = 0.00 nhỏ hơn 0.05 nên giá trị này có ý nghĩa về mặt thống kê



hay giới tính có ảnh hưởng tới việc lựa chọn và sử dụng các CLCO khi nói với người thân

trong gia đình của người Việt.

Như vậy, ở tình huống 1, khi đáp lại món q mà người gia ân tặng mình nhân ngày

sinh nhật, người hàm ân Mĩ và Việt đã có những sự lựa chọn CLCO khác nhau. Qua số liệu

phân tích ở trên và kết quả Chi-Square cho thấy, gần như khơng có sự khác biệt trong việc

lựa chọn các CLCO giữa nam giới và nữ giới người Mĩ, cả hai giới đều ưa lựa chọn

CLCOTT với tỉ lệ rất cao để cảm ơn tất cả các mối quan hệ, từ bạn bè, đồng nghiệp đến

người thân. Còn đối với người Việt, sự khác nhau được thể hiện qua sự lựa chọn các CLCO

mỗi giới khi nói với các mối quan hệ.

3.3.1.2. Tình huống 2: Khi nhận được lời khen mặc bộ trang phục đẹp

a. Mối quan hệ là bạn bè

- Đối với bạn bè cùng giới



Biểu đồ 19: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Mĩ khi được bạn bè

cùng giới khen mặc bộ trang phục đẹp



Biểu đồ 20: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Việt khi được bạn bè

cùng giới khen mặc bộ trang phục đẹp



Kết quả ở hai biểu đồ 19 và 20 cho thấy sự đối lập trong việc lựa chọn các CL đáp lại lời

khen ở mối quan hệ bạn bè cùng giới của người Mĩ và người Việt.

Nam giới và nữ giới người Mĩ đều lựa chọn CLCOTT với tỉ lệ rất cao để nói với bạn bè

cùng giới khi được khen, trong đó nữ (98.4%) cao hơn nam (94.7%). CLCOGT được nữ giới

lựa chọn với tỉ lệ khá khiêm tốn chỉ 1.6%, nam giới chọn 5.3%.

Ngược lại, khi đáp lại lời khen của bạn bè cùng giới, nam giới và nữ giới người Việt

đều ưa lựa chọn CLCOGT với tỉ lệ rất cao và nam cao hơn nữ (nam:



96.5%, nữ: 93.2%). Với CLCOTT thì nữ giới lại sử dụng gần gấp đơi so với nam giới (nữ:

6.8%, nam: 3.5%)

- Đối với bạn bè khác giới



Biểu đồ 21: Các chiến lược cảm ơn của nam Biểu đồ 22: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Mĩ khi được bạn bè giới và nữ giới người Việt khi được bạn bè

khác giới khen mặc bộ trang phục đẹp



khác giới khen mặc bộ trang phục đẹp



Sự đối lập về tỉ tệ sử dụng các CLCO vẫn được nam giới và nữ giới người Mĩ sử dụng

khi nói với bạn bè khác giới với tỉ lệ cũng rất cao được thể hiện ở biểu đồ 21, trong đó nam

giới lựa chọn nhiều hơn một chút so với nữ (nam: 95.7%, nữ: 93.7%), CLCOGT lại được

nữ giới ưa lựa chọn nhiều hơn nam giới (nữ: 6.3%, nam: 4.3%).

Đối với người Việt, cả hai giới vẫn ưa lựa chọn CLCOGT với tỉ lệ khá cao (nam:

88.6%, nữ: 85.8%). So với khi nói với bạn cùng giới, cả nam giới và nữ giới người Việt sử

dụng CLCOTT có xu hướng tăng lên (nam: 11.4%, nữ: 14.2%), cao hơn khi nói với bạn

khác giới.

Mặc dù số liệu ở bốn biểu đồ 19, 20, 21, 22 được phân tích ở trên cho thấy sự khác

nhau về tỉ lệ các CL đáp lại lời khen giữa các giới của người Mĩ và người Việt, chúng tôi

tiến hành kiểm nghiệm Chi – Square, kết quả cho thấy, ở người Mĩ chỉ số P = 0.5 và người

Việt P = 0.012. Như vậy, chỉ có chỉ số Chi – Square của người Việt nhỏ hơn 0.05 nên có thể

kết luận rằng, kết quả này có ý nghĩa về mặt thống kê hay nhân tố giới có tác động đến việc

lựa chọn các CL để đáp lại lời khen của bạn bè cùng giới và khác giới là người Việt.



b. Mối quan hệ là đồng nghiệp

Bảng 2: Các chiến lược cảm ơn của nam giới, nữ giới người Mĩ và người Việt

khi được đồng nghiệp lớn tuổi khen mặc bộ trang phục đẹp

Giới tính

NHA



NGA



Người Mĩ



Tổng



Người Việt



Trực



Gián



Trực



Gián



tiếp



tiếp



tiếp



tiếp



Tổng



184



4



188



56



172



228



97.9%



2.1%



100%



24.6%



75.4%



100%



183



5



188



40



188



228



tuổi



97.3%



2.7%



100%



17.5%



82.5%



100%



Đồng nghiệp nhỏ



183



5



188



26



202



228



tuổi



97.3%



2.7%



100%



11.4%



88.6%



100%



Đồn nghiệp



249



3



252



106



246



352



98.8%



1.2%



100%



30.1%



69.9%



100%



248



4



252



53



299



352



tuổi



98.4%



1.6%



100%



15.1%



84.9%



100%



Đồng nghiệp nhỏ



245



7



252



68



284



352



tuổi



97.2%



2.8%



100%



19.3%



80.7%



100%



1307



13



1320



1080



660



1740



99.0%



1.0%



100%



62.1%



37.9%



100%



Đồng nghiệp

Nam

lớn tuổi

Đồng nghiệp bằng



Nữ

lớn tuổi

Đồng nghiệp bằng



Tổng



Nhìn vào bảng 2 có thể thấy, sự tương phản trong việc lựa chọn các CL đáp lại lời

khen của đồng nghiệp người Mĩ và người Việt, cụ thể:

Đối với người Mĩ: Nổi bật là cả nam giới và nữ giới ưa sử dụng CLCOTT khi nói với

đồng nghiệp lớn tuổi, bằng tuổi và nhỏ tuổi với tỉ lệ rất cao, tỉ lệ trung bình đạt 97.8%.

Trong đó, nữ giới có xu hướng lựa chọn CLCOTT với tỉ lệ cao hơn một chút so với nam

giới khi nói với đồng nghiệp lớn tuổi (98.8%) và đồng nghiệp bằng tuổi (98.4%). Ngược

lại, CLCOGT được hai giới sử dụng với tỉ lệ khá khiêm tốn.

Đối với người Việt: Khác với người Mĩ, người Việt nhìn chung ưa sử dụng CLCOGT

hơn CLCOTT ở mối quan hệ là đồng nghiệp. Tuy nhiên, có sự chênh lệch về tỉ lệ trong

việc lựa chọn các CL giữa hai giới khi nói với đồng nghiệp ở từng độ tuổi.

Khi được đồng nghiệp lớn tuổi khen mặc bộ trang phục đẹp cả nam giới và nữ giới ưa

lựa chọn CLCOGT để đáp lại lời khen (nam: 75.4%, nữ: 69.9%). CLCOTT



được sử dụng với tỉ lệ là: nam: 24.6%, nữ: 30.1%. Có thể thấy CLCOTT được sử dụng khi

nói với đồng nghiệp lớn tuổi được nữ giới sử dụng cao hơn nam giới, và cao nhất khi so

sánh với các đồng nghiệp khác.

Khơng có sự khác biệt nhiều về tỉ lệ sử dụng CLCOTT và CLCOGT khi nam giới và

nữ giới nói với đồng nghiệp bằng tuổi, tỉ lệ các CL được sử dụng lần lượt là nam: 17.5% và

82.5%, nữ: 15.1% và 84.9%.

Ở mối quan hệ đồng nghiệp nhỏ tuổi, nữ giới người Việt có xu hướng sử dụng

CLCOTT (19.3%) tăng hơn so với nam giới (11.4%) và tỉ lệ ngược lại với CLCOGT.

Giá trị Chi – Square của người Mĩ đạt P = 0.5 và người Việt P = 0.000, chỉ có người

Việt đạt giá trị P nhỏ hơn 0.05 nên có ý nghĩa thống kê. Như vậy, có tác động của nhân tố

giới tới sự lựa chọn các CL để đáp lại lời khen ở mối quan hệ đồng nghiệp người Việt.

c. Mối quan hệ là người thân trong gia đình

- Các chiến lược cảm ơn khi đáp lại lời khen của con cái là nam giới và nữ giới

nói với bố, mẹ



Biểu đồ 23: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Mĩ khi được bố, mẹ

khen mặc bộ trang phục đẹp



Biểu đồ 24: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Việt khi được bố, mẹ

khen mặc bộ trang phục đẹp



Đối với mối quan hệ người thân trong gia đình, đều là con cái nhưng người Mĩ và

người Việt lại có những sự lựa chọn các CL với tỉ lệ khác nhau khi đáp lại lời khen của bố,

mẹ, cụ thể qua biểu đồ 23 và 24.



Đối với người Mĩ: Một điểm chung là cả nam giới và nữ giới đều ưa lựa chọn

CLCOTT với tỉ lệ rất cao nam giới đạt 98.9%, nữ giới đạt 97.6%, tỉ lệ CLCOGT nam giới

đạt 1.1%, và nữ giới đạt: 2.4%.

Đối với người Việt: Cả hai giới đều lựa chọn CLCOGT với tỉ lệ cao, trong đó tỉ lệ nam

giới chọn là 94.7% và nữ giới chọn là 89.2%, cao hơn nữ giới. Là bậc con cái tưởng như

khơng bao giờ nói lời cảm ơn với bố, mẹ khi được khen mặc trang phục đẹp nhưng số liệu ở

biểu đồ 24 cho thấy, nữ giới người Việt đã sử dụng 10.8% CLCOTT để nói lời cảm ơn đến bố

mẹ cao hơn gấp hai lần so với nam giới (5.3%).

- Các chiến lược cảm ơn khi đáp lại lời khen của em là nam giới và nữ giới nói với

anh, chị



Biểu đồ 25: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Mĩ khi được anh, chị

khen mặc bộ trang phục đẹp



Biểu đồ 26: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Việt khi được anh, chị

khen mặc bộ trang phục đẹp



Số liệu ở biểu đồ 25 và 26 cho thấy,

Đối với người Mĩ: Cũng như khi nói với người thân khác trong gia đình, nam giới và

nữ giới ưa lựa chọn CLCOTT để nói khi được anh, chị khen và CLCOGT được lựa chọn

rất ít. Mức độ chênh lệch giữa hai giới là không đáng kể, cụ thể lần lượt, nam: 97.9% và

2.1%, nữ: 96.8% và 3.2%

Đối với người Việt: Khi đáp lại lời khen của anh, chị, người Việt ưa lựa chọn

CLCOGT, trong đó nam giới đạt 95.6%, tỉ lệ này nhiều hơn nữ giới (91.5%). Ngược lại,

nữ giới lại lựa chọn CLCOTT với tỉ lệ 8.5% cao gần hai lần so với nam giới (4.4%).



- Các chiến lược cảm ơn khi đáp lại lời khen của anh, chị nói với em



Biểu đồ 27: Các chiến lược cảm ơn của nam Biểu đồ 28: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Mĩ khi được em khen giới và nữ giới người Việt khi được em khen

mặc bộ trang phục đẹp

mặc bộ trang phục đẹp



Đối với người Mĩ: Khi nói với người thân là em, nam giới và nữ giới người Mĩ vẫn

theo xu hướng sử dụng CLCOTT với tỉ cao như khi nói với người thân khác, tỉ lệ trung

bình đạt hơn 95%, CLCOGT đạt trung bình hơn 4%.

Đối với người Việt: CLCOGT đạt tỉ lệ cao nhất khi nam giới và nữ giới sử dụng để nói

với em mình (nam: 98.2%, nữ: 97.2%), CLCOTT đạt lần lượt là nam (1.8%), nữ (2.8%).

- Các chiến lược khi đáp lại lời khen của nam nói với vợ và nữ nói với chồng



Biểu đồ 29: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Mĩ khi được vợ, chồng

khen mặc bộ trang phục đẹp



Biểu đồ 30: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Việt khi được vợ,

chồng khen mặc bộ trang phục đẹp



Đối với người Mĩ: Nam giới lựa chọn CLCOTT khi nói với vợ đạt 97.9% cao bằng tỉ lệ

khi nói với anh, chị. Nữ giới sử dụng 98.4%, tỉ lệ này gần tương đương khi nói với bố, mẹ.

CLCOGT được hai giới sử dụng với tỉ lệ rất ít (nam: 2.1%, nữ: 1.6%)

Đối với người Việt: Nam giới ưa sử dụng CLCOGT hơn nữ giới, tỉ lệ lần lượt là 88%

và 79%, CLCOTT được nữ giới lựa chọn với tỉ lệ 21%, nam giới đạt 12%. CLCOTT được

hai giới lựa chọn ít hơn nhiều so với CLCOGT. Tuy nhiên, so sánh CLCOTT mà nam giới

và nữ giới đáp lại người thân khi được khen thì có thể thấy ở



mối quan hệ vợ, chồng đạt tỉ lệ cao nhất. Kết quả này cho thấy đã có sự thay đổi trong cách

đáp lại lời khen, đặc biệt là khen về trang phục. So với trước đây, khi được ai đó khen về

trang phục mặc đẹp, phần lớn mọi người sử dụng CLCOGT để đáp lại như các TCL Hỏi

lại, Phủ nhận lời khen hay Phi ngôn từ. Tuy vậy, lời khen giờ đây thường mang tính xã

giao thậm chí được mọi người sử dụng thay cho lời chào hỏi hằng ngày và nói lời “cảm ơn”

trực tiếp cũng đã được sử dụng thường xuyên hơn để đáp lại lời khen mặc trang phục đẹp.

Kết quả Chi – Square cho thấy giá trị P của người Mĩ đạt 0.393 và người Việt đạt 0.00.

Như vậy chỉ có kết quả của người Việt là nhỏ hơn 0.05 nên có giá trị ý nghĩa thống kê. Vì

vậy, có thể kết luận rằng, giới tính có ảnh hưởng đến sự chọn các CL đáp lại lời khen từ

người thân là người Việt.

3.3.2. Các chiến lược hồi đáp cảm ơn của người Mĩ và người Việt từ góc độ giới tính

Sau khi người hàm ân thể hiện lòng biết ơn thơng qua các chiến lược cảm ơn, người

gia ân đáp lại lời cảm ơn bằng việc sử dụng các chiến lược hồi đáp hay các hành vi ngôn

ngữ hồi đáp. Phần này chúng tôi muốn khảo sát xem nhân tố giới có tác động gì đến việc sử

dụng các CLHĐCO của người Mĩ và người Việt.

3.3.2.1. Tình huống 1: Khi được cảm ơn về món quà sinh nhật

a. Mối quan hệ là bạn bè

Bảng 3: Các chiến lược hồi đáp cảm ơn của nam giới, nữ giới người Mĩ và

người Việt khi được bạn bè cảm ơn về món q sinh nhật

Giới tính

NHA

NGA

Bạn

Nam





cùng giới



Bạn bè



Nữ



khác giới

Bạn bè

giới

Bạn bè

giới

Tổng



khác

cùng



Người Mĩ

Trực

Gián

tiếp

tiếp

88

6

93.6%



Tổng



94



Người Việt

Trực

Gián

tiếp

tiếp

30

84



Tổng



114



6.4%



100%



26.3%



73.7%



100%



90

95.7%



4

4.3%



94

100%



44

38.6%



70

61.4%



114

100%



121

96.0%

119

94.4%

418

95.0%



5

4.0%

7

5.6%

22

5.0%



126

100%

126

100%

440

100%



82

46.6%

45

25.6%

201

34.7%



94

53.4%

131

74.4%

379

65.3%



176

100%

176

100%

580

100%



Số liệu ở bảng 3 cho thấy, tỉ lệ các CL mà người gia ân hồi đáp lời cảm ơn của người

hàm ân về món quà sinh nhật là khác nhau. Người Mĩ ưa lựa chọn CLHĐCOTT hơn người

Việt, ngược lại người Việt lại ưa sử dụng CLHĐCOGT, cụ thể:



Đối với người Mĩ: Khi đáp lại lời cảm ơn từ bạn bè, cả nam giới và nữ giới lựa chọn

CLHĐCOTT cao hơn khi nói với bạn bè khác giới, tuy nhiên tỉ lệ không chênh lệch nhiều.

Tỉ lệ lần lượt là, nam: 95.7% và 4.3%; nữ 96.0% và 4.0%. Nói với bạn bè cùng giới tỉ lệ

đạt được là, nam: 93.6% và 6.4%; nữ: 94.4% và 5.6%.

Đối với người Việt: Nam giới và nữ giới khi nói với bạn bè cùng giới đều ưa chọn

CLHĐCOGT với tỉ lệ gần bằng nhau (nam: 73.7%, nữ: 74.4%), CLHĐCOTT được sử dụng

với tỉ lệ là nam: 26.3%, nữ: 25.6%). Khi nói với bạn bè khác giới, nam giới lại lựa chọn tỉ lệ

CLHĐCOGT nhiều hơn nữ giới (nam: 61.4%, nữ: 53.4%), CLHĐCOTT lại được nữ giới lựa

chọn với tỉ lệ cao hơn nam giới lần lượt là 46.6% và 38.6%.

Bên cạnh số liệu ở bảng 3, chúng tôi thực hiện kiểm định Kết quả Chi-Square cho

thấy, giá trị Pearson Chi-Square (P) của nam giới và nữ giới người Mĩ đạt: P = 0.1, và

người Việt đạt: P = 0.02. Như vậy, giống như kết quả sử dụng các CLCO ở mối quan hệ

bạn bè, chỉ có giá trị Chi - Square của người Việt có ý nghĩa thống kê, vì P = 0.02 nhỏ hơn

0.05 nên có thể kết luận rằng: Có sự tác động của nhân tố giới tới việc sử dụng các

CLHĐCO trong tình huống nhận quà sinh nhật ở mối quan hệ bạn bè người Việt còn với

người Mĩ thì khơng có giá trị thống kê.

b. Mối quan hệ là đồng nghiệp

Bảng 4: Các chiến lược hồi đáp cảm ơn của nam giới, nữ giới người Mĩ và

người Việt khi được đồng nghiệp cảm ơn về món quà sinh nhật

NHA



Giới tính

NGA



Tổng



188



Người Việt

Trực

Gián

tiếp

tiếp

121

107



1.1%



100%



53.1%



46.9%



100%



183



5



188



104



124



228



97.3%



2.7%



100%



45.6%



54.4%



100%



Đồng nghiệp nhỏ

tuổi



183



5



188



132



96



228



97.3%



2.7%



100%



57.9%



42.1%



100%



Đồng

nghiệp lớn tuổi

Đồng nghiệp bằng

tuổi

Đồng nghiệp nhỏ

tuổi



247

98.0%

245

97.2%

242

96.0%

1286



5

2.0%

7

2.8%

10

4.0%

34



252

100%

252

100%

252

100%

1320



180

51.1%

138

39.2%

169

48.0%

844



172

48.9%

214

60.8%

183

52.0%

896



352

100%

352

100%

352

100%

1740



97.4%



2.6%



100%



48.5%



51.5%



100%



Đồng nghiệp

Nam

lớn tuổi

Đồng nghiệp bằng

tuổi



Nữ



Tổng



Người Mĩ

Trực

Gián

tiếp

tiếp

186

2

98.9%



Tổng



228



Đối với người Mĩ: Xu hướng sử dụng CLHĐCOTT với tỉ lệ cao hơn CLHĐCOGT

vẫn được người Mĩ duy trì ở mối quan hệ đồng nghiệp, kết quả cụ thể được thể hiện ở bảng

4.

Khi nói với đồng nghiệp lớn tuổi, hai giới lựa CLHĐCOTT đạt tỉ lệ cao nhất, và gần

bằng nhau, nam: 98.9%, nữ: 98.0%, tỉ lệ CLHĐCOGT đạt tỉ lệ rất thấp, nam: 1.1%, nữ:

2.0%. Đặc biệt nam giới sử dụng các CLHĐCO với tỉ lệ bằng nhau đối với đồng nghiệp

bằng tuổi và nhỏ tuổi, CLHĐCOGT đạt 97.3% và CLHĐCOTT đạt 2.7%. Trong khi đó, nữ

giới lựa chọn CLHĐCOTT cao hơn một chút khi nói với đồng nghiệp bằng tuổi so sánh với

đồng nghiệp nhỏ tuổi.



Đối với người Việt: Kết quả ở bảng 4 cho thấy, nam giới sử dụng CLHĐCOTT nhiều

hơn nữ giới trong mối quan hệ với đồng nghiệp, tỉ lệ này ngược lại với CLHĐCOGT, cụ

thể, nam giới lựa chọn CLHĐCOTT với tỉ lệ cao nhất khi nói với đồng nghiệp nhỏ tuổi

(57.9%) và thấp nhất khi nói với đồng nghiệp bằng tuổi (45.6%). Nữ giới lại lựa chọn

CLHĐCOTT với tỉ lệ cao nhất khi nói với đồng nghiệp lớn tuổi (51.1%), và giống nam

giới thấp nhất khi nói với đồng nghiệp bằng tuổi (39.2%)

Kết quả Chi-Square cho thấy, giá trị P của nam giới và nữ giới người Mĩ

đạt: P = 0.228, và người Việt đạt: P = 0.000. Như vậy, người Việt có giá trị P nhỏ

hơn 0.05 nên có thể kết luận rằng: nhân tố giới tính có ảnh hưởng tới việc sử

dụng các CLHĐCO trong tình huống đáp lại lời cảm ơn khi nhận quà sinh nhật ở

mối quan hệ đồng nghiệp người Việt.

c. Mối quan hệ là người thân trong gia đình

Bảng 5: Các chiến lược hồi đáp cảm ơn của nam giới, nữ giới người Mĩ và

người Việt khi được người thân trong gia đình cảm ơn về món q sinh nhật

Giới tính

NHA



NGA

Bố/ mẹ



Người Mĩ

Trực



Gián



tiếp



tiếp



Người Việt

Tổng



Trực



Gián



tiếp



tiếp



Tổng



91



3



94



50



64



114



96.8%



3.2%



100%



43.9%



56.1%



100%



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

c. Mối quan hệ là người thân trong gia đình

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×