Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
iii. Nghiên cứu các nhân tố chi phối hành vi cảm ơn và hồi đáp cảm ơn

iii. Nghiên cứu các nhân tố chi phối hành vi cảm ơn và hồi đáp cảm ơn

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tóm lại, các cơng trình nghiên cứu của các tác giả trên đã góp phần làm sáng tỏ những

khái niệm, đặc điểm, chức năng và so sánh các chiến lược bày tỏ lòng biết ơn của tiếng Anh

với các ngơn ngữ khác. Đây cũng chính là những cơ sở lý thuyết cùng những kinh nghiệm

nghiên cứu thực tiễn giúp chúng tôi tham khảo và sử dụng trong nghiên cứu của mình. Tuy

nhiên, chúng tơi nhận thấy hiện tại chưa có một nghiên cứu nào ở cấp độ tiến sĩ nghiên cứu

về hành vi cảm ơn và hồi đáp cảm ơn trong tiếng Anh đối chiếu với tiếng Việt một cách tồn

diện nhằm khái qt hóa các chiến lược cảm ơn và hồi đáp cảm ơn, đồng thời chỉ ra được

những nhân tố như tuổi, giới tính chi phối việc thực hiện hành vi cảm ơn và hồi đáp cảm ơn

trong tiếng Anh và tiếng Việt. Chính vì vậy, nghiên cứu muốn tập trung làm sáng tỏ những

khoảng trống trên.

1.2. Cơ sở lí luận

1.2.1. Lý thuyết hành vi ngơn ngữ

1.2.1.1. Hành vi ngôn ngữ

Khái niệm “Speech Act” đã được nhiều nhà Việt ngữ học dịch thành những tên gọi

khác nhau như: hành vi ngơn từ, hành vi nói, hành vi nói năng, hành động ngôn từ, hành vi

ngôn ngữ, hành động bằng lời, hành động ngôn hành, hành động phát ngôn … Trong

nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn cách dịch “Speech Act” là “Hành vi ngôn ngữ”

(HVNN) theo cách dịch của tác giả Đỗ Hữu Châu (2012).

Trong cơng trình đầu tiên “How to do things with words” Austin (1962) quan niệm

rằng, con người khi giao tiếp, trong quá trình chuyển tải một ý nghĩa nào đó, khơng chỉ

thực hiện một phát ngôn đáp ứng được quy luật ngữ pháp và từ vựng để nó có một nghĩa

đầy đủ mà còn “cùng một lúc thực hiện ba hành vi” thông qua phát ngôn ấy.

i.



Hành vi tạo lời (locutionary act), tức là q trình người nói hình thành phát

ngơn dựa vào các quy luật ngữ/từ pháp, làm cho phát ngơn có nghĩa đen/trực

tiếp, hay còn được gọi là nghĩa mệnh đề (propositional meaning).



ii.



Hành vi ở lời (illocutionary act), tức là phát ngôn có một chức năng tương

tác thơng qua mệnh đề thơng tin trong một tình huống nhất định nào đó.



iii.



Hành vi mượn lời (perlocutionary) là kết quả hoặc tác động được tạo ra từ

phát ngôn trong một ngữ cảnh cụ thể.



Xét ví dụ sau:

(1). Sp1 nói với Sp2.

Giờ mình bị mệt.

Phát ngơn này có thể được hiểu:

Về hành vi tạo lời: Nghĩa mệnh đề là thông tin về trạng thái thể chất của người nói

chứ khơng bao hàm bất cứ ý nghĩa nào khác.

Về hành vi ở lời: Phát ngôn này tạo ra ít nhất là một trong những hành vi sau đây: (i)

Yêu cầu gián tiếp của người nói với người nghe rằng đừng có làm phiền; (ii) Nhờ giúp với

ý nhờ người nghe giúp, có thể là mua thuốc hay làm gì đó; (iii) Từ chối với ngụ ý người nói

khơng làm gì đó.

Về hành vi mượn lời: Khi phát ngơn đã chứa đựng ít nhất là một trong những chức

năng trên, người nói mong muốn người nghe nhận biết được là mình đang mệt để có thái

độ hay hành vi phù hợp.

Phần lớn các nhà nghiên cứu dụng học đều cho rằng trong ba hành vi nói trên thì hành

vi ở lời là hành vi quan trọng nhất và là đối tượng thường được tập trung nghiên cứu nhiều

nhất, và hành vi ở lời cũng chính là đối tượng mà chúng tôi nghiên cứu.

Wittgenstein đã thực hiện nghiên cứu bằng cách liệt kê các hành vi ngôn ngữ nhưng

ông cho rằng không thể phân loại được chúng. Dựa vào thử nghiệm của Wittgenstein,

Austin (1962) phân loại thành năm nhóm hành vi chính là:

(i) Hành xử (Exercitives): Là những hành vi đưa ra những quyết định thuận lợi

hay chống lại một chuỗi hành vi nào đó như: ra lệnh, chỉ huy, biện hộ, khuyến cáo

là các hành vi ngôn ngữ như bổ nhiệm, đặt tên, cảnh cáo…

(ii) Phán xử (Verdictives): Là những hành vi đưa ra những lời phán xét như:

xét xử, miêu tả, đánh giá, phân tích…

(iii) Cam kết (Commissives): là những hành vi ràng buộc người nói vào một

chuỗi những hành động nhất định: hứa hẹn, giao ước, thề…

(iv) Trình bày (Expositives): Là những hành vi dùng để trình bày các quan

niệm, giải thích như: khẳng định, phủ nhận, từ chối, bác bỏ …



(v) Ứng xử (Behavitives): Là những hành vi dùng để phản ứng với cách cư xử

của người khác như: cảm ơn, xin lỗi, khen, chào, phàn nàn ...



[7, tr.121]



Theo cách phân loại này, hành vi cảm ơn được Austin (1962) xếp vào nhóm hành vi

Ứng xử.

Có một số ý kiến của các nhà nghiên cứu khơng đồng tình với cách phân loại của

Austin, đặc biệt là Searle (1969) cho rằng Austin không đưa ra các tiêu chí trong cách phân

loại hành vi ngơn ngữ một cách rõ ràng. Ông cho rằng, phải phân loại các hành động ở lời

chứ không phải phân loại các động từ gọi tên chúng. Vì vậy, Searle đã đề xuất một bộ tiêu

chí gồm 12 tiêu chí để phân biệt các hành động ở lời, trong đó 3 tiêu chí đầu là quan trọng

nhất:

1) Đích tại lời (Difference in the point or purpose of a type of illocution.)

2) Hướng khép lời với hiện thực mà lời đề cập đến (Difference in the direction of fit

between words and the world.)

3) Trạng thái tâm lý được thể hiện (Difference inexpressed psychological states.)

Dựa vào ba tiêu chí quan trọng trên, Searle đã phân thành năm nhóm hành vi cơ bản:

(i) Tái hiện (Representatives): là những hành vi xác nhận cho người nói sự thật

của một sự việc như: quả quyết, xác nhận, báo cáo...

(ii) Điều khiển (Directives): là khi người nói cố gắng khiến người nghe phải

làm điều gì đó như: u cầu, ra lệnh, thỉnh cầu, cầu xin …

(iii) Cam kết (Commissives): là những hành vi buộc người nói phải thực hiện

việc gì trong tương lai như: hứa, đề nghị, đe dọa …

(iv) Biểu cảm (Expressives): là những hành vi bộc lộ trạng thái tâm lý như:

cảm ơn, xin lỗi, khen ngợi…

(v) Tuyên bố (Declaratives): là những hành vi đem lại sự tương ứng giữa nội

dung được gợi ý và sự thật như: chỉ định một chủ tọa, đề cử một thí sinh, kết hơn,

rửa tội. [7, tr.126]

Như vậy, theo bảng phân loại của Searle (1969) thì hành vi cảm ơn thuộc vào nhóm

hành vi Biểu cảm. Dựa trên hướng phân loại này, chúng tôi nhận diện và phân



loại được hành vi ngôn ngữ cảm ơn và hồi đáp cảm ơn trong tiếng Anh và tiếng Việt

trong nghiên cứu của mình.

1.2.1.2. Hành vi cảm ơn

Theo Từ điển tiếng Việt (2018), cảm ơn (có biến thể là cám ơn) là “bày tỏ sự

biết ơn đối với người giúp đỡ mình, (2). Xin cảm ơn ơng.

Là “từ dùng trong lời nói lịch sự, để bày tỏ sự cảm kích với người đã làm việc gì đó

cho mình, hoặc để nhận lời hay từ chối điều gì.”

(3). Sp1: Mời anh uống nước.

Sp2: Cảm ơn.



[48, tr. 134]



Theo Từ điển tiếng Anh Oxford (2014), thank (cảm ơn) được sử dụng khi nói

với ai đó rằng bạn biết ơn vì điều gì; Thank sb for sth (Cảm ơn ai vì điều gì), ví dụ

(4). I must write and thank Mary for the present. (Tôi phải viết và cảm ơn Mary về

món quà.); Thank sb for doing sth (cảm ơn ai đã làm điều gì.), ví dụ (5). She said

goodbye and thanked us for coming. (Cô ấy chào tạm biệt và cám ơn chúng tôi đã

đến.)

[122, tr.1673]

Theo từ điển tiếng Anh Oxford (2014), thuật ngữ "gratitude" (lòng biết ơn) được định

nghĩa là cảm giác biết ơn và muốn bày tỏ lời cảm ơn của bạn. [122, tr.705]. Thuật ngữ

gratitude và thanking được hầu hết các học giả như Eisenstein và Bodman (1986, 1993);

Aijmer (1995); Schauer and Adolph (2006) … sử dụng để thay thế cho nhau. Một số các

học giả khác cho rằng, hai từ này không giống nhau vì các biểu thức bày tỏ lòng biết ơn

bao gồm tất cả các biểu thức có thể sử dụng để thể hiện lòng biết ơn, còn thanks và thank

you là các từ vựng sử dụng cùng với các biểu thức khác để cảm ơn. Trong nghiên cứu này,

chúng tôi sử dụng thanking (cảm ơn) vì hành vi ngơn ngữ cảm ơn được cho là có chức

năng và cách sử dụng phổ biến hơn so với bày tỏ lòng biết ơn.

Khi chúng ta muốn thực hiện một hành vi sinh lý hay vật lý thì chúng ta cần phải có

những điều kiện để có thể thực hiện được hành vi đó như phải có sức khỏe, có nhu cầu thực

sự. Hành vi ở lời là hành vi xã hội nên càng cần phải có các điều kiện sử dụng cụ thể, chân

thực để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của phát ngơn. Theo Searle (1969), có bốn

điều kiện để nhận diện một hành vi ở lời:



Điều kiện nội dung mệnh đề (Propositional content condition): là điều kiện chỉ

ra bản chất của hành vi, có thể là một mệnh đề đơn giản hay một hàm mệnh đề. Có

thể là một hành động của người nói (như hứa hẹn) hay một hành động của người

nghe (lệnh, yêu cầu).

Điều kiện chuẩn bị (Preparatory condition): Bao gồm những hiểu biết của

người phát ngơn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữa

người nói và người nghe.

Ví dụ, hành vi hứa đòi hỏi người hứa hẹn có ý muốn thực hiện lời hứa và người nghe

cũng thực sự mong muốn lời hứa được thực hiện.

Điều kiện chân thành (Sincerity condition): Là điều kiện nhằm chỉ ra các trạng

thái tâm lí tương ứng của phát ngơn như hứa hẹn đòi hỏi ý định của người nói.

Điều kiện căn bản (Essential condition): Là điều kiện đưa ra kiểu trách nhiệm mà

người nói hoặc người nghe bị ràng buộc khi hành vi ở lời đó được phát ra. Trách nhiệm có

thể rơi vào hành động sẽ được thực hiện (ra lệnh, hứa hẹn) hoặc đối với tính chân thực của

nội dung (một lời xác tín buộc người nói phải chịu trách nhiệm về sự đúng đắn của điều nói

ra).

Dựa vào bốn điều kiện thực hiện hành vi ở lời của Searle (1969), chúng tôi tiến hành

nhận diện và xác định các điều kiện thực hiện hành vi cảm ơn như sau:

i. Điều kiện chuẩn bị: Là người nghe (Sp2 – Người gia ân) trước đó đã có

hành động gia ân (hành động gia ân đó có thể bằng vật chất như hành động tặng quà

hay sự trợ giúp về tinh thần, như an ủi, động viên, cho mượn sách, cho vay tiền…)

đối với Sp1 (người hàm ân).

ii. Điều kiện nội dung mệnh đề: Một sự hàm ân, một cái nợ của người nói

(Sp1), vì lí do đó mà Sp1 cảm ơn.

iii. Điều kiện chân thành: Sp1 cảm thấy mình mắc nợ và cần phải cảm ơn và

đánh giá cao về hành động của Sp2.

iv. Điều kiện căn bản: Sp1 cảm thấy trách nhiệm của mình đối với sự chân

thực trong hành vi cảm ơn của mình.

Từ những cơ sở lý thuyết trên, chúng tôi đưa ra định nghĩa hành vi cảm ơn là hành

vi mà ở đó người nói muốn thể hiện sự ghi nhận sự giúp đỡ của người nghe,



hoặc đáp lại một ân huệ (ân huệ đó có thể là bằng vật chất như một vật hoặc một món quà,

hay phi vật chất như lời chúc, thông báo, lời khen…). Hành vi cảm ơn được sử dụng không

chỉ để đáp lại sự gia ân, sự giúp đỡ, sự ủng hộ về vật chất hoặc tinh thần đã có ở trong q

khứ mà còn có ở trong tương lai.

Xét hai ví dụ sau:

(6). Tại bến xe buýt, Tiên Sa đuổi theo đánh bọn cướp và lấy lại túi cho cô bị cướp.



 Tiên Sa: Túi của cô đây ạ.

 Cô bị cướp túi: Cảm ơn cô rất nhiều. Cơ tên gì vậy?



[PhV13]



(7). Thủy Tiên đến gặp và trao đổi với ơng giám đốc.

 Ơng Giám đốc: Tôi hứa sẽ cố gắng hết sức để không phụ lòng mong đợi của

cơ Thủy Tiên.

 Thủy Tiên: Dạ. Cảm ơn chú.



[PhV16]



Ở ví dụ (6), cơ bị cướp túi cảm ơn Tiên Sa vì Tiên Sa đã lấy lại được túi từ tay bọn

cướp. Như vậy, sự gia ân mà Tiên Sa thực hiện đã xảy ra rồi. Còn ở ví dụ (7), lời ơng Giám

đốc nói là một lời hứa và sự gia ân này không phải đã xảy ở trong quá khứ, mà sẽ được

thực hiện trong tương lai.

1.2.1.3. Biểu thức ngữ vi

Trong hội thoại, khi các đối ngôn giao tiếp với nhau cũng là lúc các phát ngôn được

tạo lập để thực hiện một hành vi nào đó. Các phát ngơn ngữ vi (performative utterance) là

sản phẩm và là phương tiện của các hành vi ở lời khi hành vi này được thực hiện một cách

trực tiếp, chân thực.

Biểu thức ngữ vi (performative expression) (BTNV) “là những thể thức nói năng đặc

trưng cho hành vi ở lời, là dấu hiệu ngữ pháp, ngữ nghĩa của các hành vi ở lời.” [dẫn theo

7, tr.92]. Nhờ các biểu thức ngữ vi chúng ta nhận biết được các hành vi ở lời. Để phân biệt

được các biểu thức ngữ vi cần phải có các phương tiện chỉ dẫn. Các dấu hiệu chỉ dẫn này

được Searle (1979) gọi là những phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời (illocutionary force

indicating devices – IFIDs). Các phương tiện chỉ dẫn là các mô hình đặc trưng tương ứng

với hành vi ở lời, hay các từ ngữ chun dùng để tạo các mơ hình và là các dấu hiệu để

người nghe biết được hành vi nào đang được thực hiện, ví dụ:



(8). Khi Sp1 nói với Sp2: You look so beautiful today. (Hơm nay trông chị đẹp

lắm), trong phát ngôn này người nghe hiểu rằng thông tin mệnh đề ở đây không

phải thực sự “đẹp” hay “khơng đẹp” mà thường có khuynh hướng hiểu là Sp1 vừa

mới thực hiện một hành vi khen Sp2. Như vậy, phát ngơn trên có kết cấu đặc trưng

cho biểu thức ngữ vi của hành vi khen.

Trong cấu trúc của một biểu thức ngữ vi, động từ ngữ vi (performative verbs)

(ĐTNV) là một thành tố quan trọng, nó có thể được thể hiện trong chức năng ngữ

vi, chức năng ở lời. Động từ ngữ vi là những động từ mà khi phát âm chúng ra cùng

với biểu thức ngữ vi (có khi khơng cần biểu thức ngữ vi đi kèm) là người nói thực

hiện ln hành vi ở lời.



[dẫn theo 7, tr.97]



Không phải bao giờ một động từ ngữ vi cũng được dùng trong chức năng ngữ vi mà

nó có thể được dùng với chức năng miêu tả, hay vừa dùng trong chức năng ngữ vi vừa

dùng trong chức năng miêu tả. Austin cho rằng, động từ ngữ vi chỉ được dùng trong chức

năng ngữ vi (có hiệu lực ngữ vi) khi trong phát ngơn nó được dùng ở ngôi thứ nhất (Sp1),

thời hiện tại (hiện tại phát ngôn), thể (voice) chủ động và thức (mood) thực thi (indicative).

[7, tr.98]

Trong một biểu thức ngữ vi, dựa vào tính chất có hay khơng có động từ ngữ vi, chúng

ta có thể phân loại được hai loại biểu thức ngữ vi tường minh (explicit) và biểu thức ngữ vi

hàm ẩn (implicit). Tuy nhiên cũng có những dấu hiệu khác là các IFIDs đặc trưng cho các

biểu thức ngữ vi ứng với hành vi ở lời cũng là dấu hiệu tường minh.

Xét các ví dụ sau:

(9). Em cảm ơn anh rất nhiều về sự giúp đỡ của anh trong thời gian vừa qua.

(10). I am very grateful to you for your help.

(Tôi rất biết ơn bạn về sự giúp đỡ của bạn.)

(11). Nếu khơng có sự giúp đỡ của anh trong thời gian vừa qua thì em khơng

biết ra sao.



[HT]



Cùng là một biểu thức ngữ vi cảm ơn nhưng ở phát ngôn (9) có động từ ngữ vi “cảm

ơn” nên được gọi là biểu thức ngữ vi tường minh cảm ơn. Mặc dù phát ngơn

(10) khơng có động từ ngữ vi nhưng dựa vào từ grateful với nghĩa “biết ơn” là dấu



hiệu IFIDs đặc trưng cho biểu thức ngữ vi tường minh ứng với hành vi cảm ơn, còn ở phát

ngơn (11) khơng có động từ ngữ vi “cảm ơn” hay các từ có nghĩa cảm ơn trực tiếp nên

được gọi là biểu thức ngữ vi hàm ẩn.

1.2.1.4. Hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp

Hành vi ngơn ngữ xét trong mối quan hệ giữa mục đích diễn đạt và hình thức diễn đạt

có thể chia thành hai loại là hành vi ngôn ngữ trực tiếp (direct speech acts) và hành vi ngôn

ngữ gián tiếp (indirect speech acts).

Hành vi ngôn ngữ trực tiếp: là “hành vi ngôn ngữ được thực hiện ở những phát

ngơn có quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng và là hành vi được thực

hiện đúng với đích ở lời và điều kiện sử dụng”.



[146, tr. 54-55]



Ví dụ, một câu trần thuật được dùng để nhận định hay để khun một ai đó nên làm một

việc gì đó người nói sử dụng hành vi khun, chẳng hạn: “Tơi khun anh nên gọi điện lại

cho cô ấy”, hành vi ngôn ngữ này là hành vi ngôn ngữ trực tiếp. Như vậy, theo chúng tôi,

hành vi ngôn ngữ trực tiếp là sự nói thẳng vào vấn đề, khơng chứa hàm ý hay ẩn ý gì.

Hành vi ngơn ngữ gián tiếp: “là hành vi ngơn ngữ có quan hệ gián tiếp giữa một chức

năng và một cấu trúc.” [146, tr.55] hay Searle (1975) cho rằng “một hành vi ở lời được thực

hiện gián tiếp thông qua sự thực hiện một hành vi ở lời khác gọi là hành vi gián tiếp” [133,

tr.72]. Vì vậy, khi người nói sử dụng một hành vi ngơn ngữ gián tiếp thì người nghe phải

dựa vào cả những hiểu biết về ngơn ngữ và ngồi ngơn ngữ chung cho cả hai người để suy

ra hiệu lực ở lời của hành vi ngơn ngữ ấy.

Ví dụ, một câu trần thuật dùng để nhận định thì đó là hành động trực tiếp, nhưng câu

trần thuật được dùng để cầu khiến thì đó lại là một HVNN gián tiếp.

Searle (1979) nhấn mạnh ý nghĩa và tầm quan trọng của HVNN gián tiếp với đặc tính

mệnh đề thơng tin của phát ngôn không phải lúc nào cũng chứa động từ ngữ vi mà thường

có mối quan hệ gián tiếp với chức năng giao tiếp trong ngữ cảnh.

(12). Sp1 nói với Sp2.



 Sp1: Would you like to go shopping with me?

(Bạn có muốn đi mua sắm với mình khơng?)



 Sp2: I have an appoitment now.



(Giờ tớ lại có hẹn)

(13). Nếu khơng có bác thì vợ chồng em khơng biết xoay sở thế nào đây? [HT]

Ở ví dụ (12), Sp1 đã sử dụng mơ hình là câu hỏi dạng nghi vấn would you like to …?

nhưng đây không phải là một câu hỏi, Sp1 không chỉ mong đợi một câu trả lời mà mong

một hành động. Ngữ cảnh này được hiểu như là hành vi ngôn ngữ gián tiếp là rủ rê, gợi ý

Sp2 đi mua sắm, và việc Sp2 sử dụng câu trần thuật để đáp lại cũng gián tiếp từ chối lời rủ

rê đó. Hay phát ngơn ở ví dụ (13) người nói đã gián tiếp cảm ơn sự giúp đỡ của người

nghe, sự giúp đỡ đó có thể bằng vật chất (cho vay tiền), hay là một hành động (trông nhà).

Như vậy, hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngơn ngữ gián tiếp có mối quan hệ rất

chặt chẽ với nhau, hiệu lực ở lời gián tiếp là cái thêm vào hiệu lực ở lời trực tiếp. Muốn nhận

biết được hành vi ngơn ngữ gián tiếp thì trước hết người nghe phải nhận biết được hành vi ngôn

ngữ trực tiếp. Nhận ra được hành vi ngôn ngữ gián tiếp là kết quả của hoạt động suy ý từ

hành vi ngôn ngữ trực tiếp mà Sp1 phát ngôn.

1.2.1.5. Hành vi cảm ơn trực tiếp và hành vi cảm ơn gián tiếp

Dựa trên định nghĩa của Searle (1969) về sự phân biệt giữa các HVNN trực tiếp và

gián tiếp, hành vi cảm ơn trực tiếp và hành vi cảm ơn gián tiếp được nhận diện như sau:



Hành vi cảm ơn trực tiếp: Là hành vi cảm ơn có sự phù hợp giữa hiệu lực ở lời với hình

thức câu chữ dùng để biểu thị hành vi đó. Do vậy, để nhận diện được hành vi này chúng ta cần

dựa vào phương tiện từ vựng: Động từ ngữ vi “thank” (cảm ơn) giữ vai trò hạt nhân có chức

năng là vị ngữ trung tâm của câu, “I thank you”, có chủ ngữ ngơi thứ nhất “I/We” (có thể tỉnh

lược) và tân ngữ ngơi thứ hai “you”. Ngồi ra còn có những động từ, danh từ, tính từ có nghĩa

cảm ơn, đó là những dấu hiệu chỉ báo ở lời để cảm ơn một cách trực tiếp như:

Tiếng Anh



Tiếng Việt



Thanks



Lời cảm ơn, sự cảm



Grateful



ơn… Biết ơn



Thankful



Cảm kích



Appreciate











Hành vi cảm ơn gián tiếp: Hành vi cảm ơn gián tiếp được thực hiện thông qua một

hành vi ngơn ngữ khác, vì vậy, phải dựa các mơ hình đặc trưng tương ứng với hành vi ở lời,

các từ ngữ chuyên dùng, dựa vào ngữ cảnh và phải suy ý thì mới nhận diện được hành vi

cảm ơn gián tiếp.

(14). Sp1 nói với Sp2 khi được tặng quà sinh nhật.



 Sp1: You are so kind-hearted.

(Bạn thật tốt bụng.)



[TH1]



Trong ví dụ này, về hình thức đây là một lời khen, nhưng trong ngữ cảnh này rõ ràng là

hành vi cảm ơn được Sp2 thực hiện một cách gián tiếp thông qua hành vi khen bằng việc sử

dụng tính từ “kind-hearted”. Như vậy, hành vi khen Sp2 được Sp1 sử dụng như là một lời

cảm ơn nhằm đáp lại món q mà Sp2 đã tặng cho mình.

(15). Vân và Huy cùng nhau đi bộ trên núi nói chuyện.

 Huy: Khi nào em có chuyện gì thì cứ gọi cho điện cho anh nhé, anh luôn

sẵn sàng.

 Vân: Như thế thì phiền anh q. Anh còn có nhiều việc phải làm mà. [PhV8]

Ở ví dụ (15), khi được Huy nói ln sẵn sàng giúp cơ bất cứ khi nào cô cần,

Vân cho rằng như vậy sẽ làm phiền đến anh. Bằng việc từ chối nhận sự giúp đỡ từ Huy,

Vân ngầm thể hiện lòng biết ơn của mình một cách gián tiếp. Như vậy, để nhận diện được

hành vi cảm ơn gián tiếp phải dựa vào ngữ cảnh giao tiếp cụ thể.

1.2.2. Hành vi cảm ơn và hồi đáp cảm ơn trong lý thuyết hội thoại

Nhiệm vụ của luận án là đối chiếu hành vi cảm ơn và hồi đáp cảm ơn trong tiếng Anh

và tiếng Việt. Do vậy, việc nghiên cứu hành vi cảm ơn và hồi đáp cảm ơn phải đặt trong

cấu trúc hội thoại, nghĩa là phải có các nhân vật tham gia trong một cuộc thoại, người nói

(Sp1) thực hiện hành vi cảm ơn và người nghe (Sp2) hồi đáp lại hành vi cảm ơn của Sp1.

Tuy nhiên, lý thuyết hội thoại bao gồm nhiều vấn đề, ở đây luận án chỉ trình bày một số

vấn đề về lý thuyết hội thoại có liên quan đến việc triển khai đề tài.

1.2.2.1. Các quy tắc hội thoại

Để một cuộc hội thoại diễn ra bình thường, các đối ngôn trong cuộc thoại phải tuân

theo những quy tắc nhất định. Orecchioni chia quy tắc hội thoại thành ba



nhóm: quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời, quy tắc chi phối cấu trúc của hội thoại

và quy tắc chi phối quan hệ liên nhân trong hội thoại.



[dẫn theo 7, tr.225]



Quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời: trong khi giao tiếp các đối ngôn phải ý thức

được vai trò của mình trong cuộc hội thoại. Người nói (S) – người nghe (H) và đổi vai H

thành S, và S thành H. Khi các đối ngôn giao tiếp, khơng có quy ước nào về độ dài của mỗi

lượt lời. Tuy nhiên, để tránh chồng chéo các lượt lời hay làm gián đoạn cuộc hội thoại thì

thường các đối ngơn tự ngầm hiểu sự ln phiên lượt lời đó.

Quy tắc chi phối cấu trúc của hội thoại: Đây là nói đến cấu trúc, đến quan hệ giữa các

lượt lời với nhau. Sự liên kết giữa hai lượt lời là sự liên kết giữa hành vi dẫn nhập hay sự

kích thích (stimulus) và hành vi hồi đáp hay sự phản hồi (responding). Trong đó, có nhiều

phát ngơn trong hội thoại cần phải có sự hồi đáp riêng biệt như hành vi cảm ơn cần phải có

một hồi đáp lời cảm ơn. Tuy vậy, người tham gia trong hội thoại cũng phải sử dụng những

chiến lược giao tiếp và phương tiện biểu đạt để lựa chọn cách thức hồi đáp khác nhau hoặc

tuân theo, hoặc từ chối hay là lờ đi.

Quy tắc chi phối quan hệ liên nhân: Trong tương tác hội thoại, quan hệ cá nhân giữa

những người tham hội thoại rất quan trọng, đó là mối quan hệ ngang (quan hệ thân – sơ),

quan hệ dọc (quan hệ vị thế xã hội).

Quan hệ ngang: là mối quan hệ gần gũi, thân cận hay xa cách giữa những người tham

gia trong giao tiếp. Bằng cách sử dụng những từ xưng hơ: tơi/ tao/ mình

- anh/ chị/ mày/ bạn, đã thể hiện mối quan hệ thân – sơ, trọng – khinh giữa những người

tham gia giao tiếp.

Quan hệ dọc: là quan hệ tôn ti trong xã hội, tạo thành các vị thế trên dưới được thể

hiện qua yếu tố quyền lực, cương vị xã hội, giới, độ tuổi…

Trong hội thoại, mỗi phát ngơn đều có quan hệ trực tiếp với những phát ngơn đi trước

nó hoặc bản thân nó định hướng cho những phát ngôn tiếp theo hay hành vi ngôn ngữ A sẽ

kéo theo sự hồi đáp hành vi ngôn ngữ B, lượt lời thứ nhất có chức năng định hướng cho

lượt lời thứ hai. Trong trường hợp này, chúng tôi đề cập đến khái niệm “cặp thoại”. Theo

Nguyễn Đức Dân (1998), “Các cặp thoại không phải



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

iii. Nghiên cứu các nhân tố chi phối hành vi cảm ơn và hồi đáp cảm ơn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×