Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
ii. Nghiên cứu các nhân tố chi phối hành vi cảm ơn và hồi đáp cảm ơn

ii. Nghiên cứu các nhân tố chi phối hành vi cảm ơn và hồi đáp cảm ơn

Tải bản đầy đủ - 0trang

vừa tạo nên sự thân ái giữa những người đối thoại, lại vừa có thể đe dọa thể diện của

người nói.

Tedjaatmadja và cộng sự (2011) nghiên cứu các chiến lược bày tỏ lòng biết ơn của

người bản ngữ nói tiếng Anh (người Mĩ) và người phi bản ngữ nói tiếng Anh là người

Indonesia gốc Hoa ở Subaraya. Số liệu được thu thập từ các câu hỏi trong 24 tình huống

với bốn mối quan hệ là người lạ, sếp/ cấp trên, bạn bè, các thành viên trong gia đình/ bạn

thân. Nghiên cứu đã sử dụng khung phân tích của Havekate (1984) về tám chiến lược bày

tỏ lòng biết ơn để phân tích dữ liệu. Kết quả cho thấy, cả người Mĩ và người Indonesia gốc

Hoa phần lớn đều sử dụng cách nói thẳng, trực tiếp trong việc bày tỏ lòng biết ơn, thậm chí

người Indonesia gốc Hoa sử dụng các cách thức nói thẳng và dứt khốt khi được tặng q,

nhận lời khen, sự giúp đỡ hay nhận một ân huệ cho dù lớn hay là nhỏ với tần suất nhiều

hơn cả người Mĩ. Điều này cũng cho thấy đặc điểm sắc tộc không phải là nhân tố duy nhất

ảnh hưởng đến việc bày tỏ lòng biết ơn, thay vào đó là các nhân tố khác, cụ thể là việc tiếp

xúc ngôn ngữ (language exposure) hay thể hiện thái độ đối với cả hai nền văn hóa cũng

đóng vai trò rất quan trọng. Cách thể hiện lòng biết ơn bằng tiếng Anh của người Mĩ và

người Indonesia gốc Hoa: theo từng thời điểm đã được nghiên cứu cũng đã thay đổi do sự

chuyển di văn hóa.

Nghiên cứu về ảnh hưởng của khoảng cách xã hội và mức độ hàm ơn, Vajiheh và

Abbas (2011) đi sâu vào phân tích ảnh hưởng của hai biến xã hội (social variable) là

khoảng cách xã hội và mức độ hàm ơn nhằm tìm ra những chiến lược mà người nói tiếng

Anh bản địa và người Ba Tư học tiếng Anh sử dụng để bày tỏ lòng biết ơn trong các tình

huống khác nhau, từ đó rút ra những điểm khác biệt giữa hai nền văn hoá, hai ngôn ngữ.

Nghiên cứu được thực hiện với sự tham gia của 75 sinh viên cùng độ tuổi đến từ khoa tiếng

Anh, trường Đại học Isfahan và 24 sinh viên người Mĩ. Các tác giả sử dụng phiếu hoàn

thiện diễn ngơn (DCT) nhằm thu thập ngữ liệu nhằm tìm hiểu cách đáp lời cảm ơn bằng lời

nói trong các tình huống khác nhau của người tham gia. Kết quả cho thấy, người Ba Tư và

người bản ngữ nói tiếng Anh đã có những phản hồi rất đa dạng. Do ảnh hưởng bởi các yếu

tố xã hội nên sinh viên Ba Tư đã diễn đạt lời cảm ơn bằng tiếng Anh khơng phù hợp,

khơng



giống với tiếng Anh bản ngữ. Điều đó chứng tỏ người Ba Tư học tiếng Anh đã chuyển một

phần quy tắc ngữ dụng từ ngôn ngữ mẹ đẻ sang tiếng Anh, vì họ tưởng những quy tắc đó

mang tính phổ cập với tất cả các ngơn ngữ.

Ngồi ba nhân tố chi phối hành vi cảm ơn được các nhà ngơn ngữ học nghiên cứu ở

trên, thì giới tính cũng là một nhân tố quan trọng thể hiện sự khác nhau trong biệc bày tỏ

lòng biết ơn và hồi đáp cảm ơn. Nghiên cứu nhân tố này có các cơng trình của Reza và

Sima (2011) và Cui (2012). Kết quả của hai nghiên cứu đều cho thấy, đối với nhóm nguời

phi bản ngữ nói tiếng Anh thì nữ giới sử dụng các cách bày tỏ lòng biết ơn thường xun

hơn nam giới. Ngồi ra, trong nghiên cứu của mình, Cui (2012) còn chỉ ra rằng nữ giới nói

lời cảm ơn dài hơn so với nam giới.

Trong nghiên cứu của mình, Farashaiyan và Hua (2012) đã miêu tả và so sánh các

chiến lược bày tỏ lòng biết ơn của sinh viên người Iran học tiếng Anh và sinh viên người

Malaysia sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai trong các tình huống khác nhau. Nghiên

cứu đã sử dụng Phiếu câu hỏi diễn ngôn (DCT) để khảo sát 20 sinh viên người Iran và 20

sinh viên người Malaysia. Các nhân tố xã hội cũng được khảo sát qua hai nhóm tham gia

nghiên cứu là: địa vị xã hội, mức độ áp đặt và giới tính. Các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra

những tương đồng và khác biệt về các chiến lược bày tỏ lòng biết ơn của sinh viên người

Iran và Malaysia, điều này phản ánh sự khác biệt trong giá trị và quy tắc văn hóa của hai

nền văn hóa khơng phải là nền văn hóa phương Tây. Kết quả nghiên cứu cũng đã chứng

minh yếu tố ngữ cảnh và giới tính có ảnh hưởng đáng kể đến các chiến lược và tần suất sử

dụng các chiến lược bày tỏ lòng biết ơn. Các tác giả cho rằng, sự khác nhau về giới dẫn

đến sự khác nhau trong việc sử dụng ngôn ngữ, cả nam giới người Iran và người Malaysia

đều sử dụng nhiều chiến lược cảm hơn so với nữ giới. Tuy vậy, cũng giống như một số

cơng trình khác, số lượng nghiệm viên tham gia trong nghiên cứu này khá hạn chế, mỗi

ngơn ngữ chỉ có 20 người.

Cơng trình của Kolsoum (2015) và các cộng sự nghiên cứu về việc sử dụng các chiến

lược cảm ơn của người nói tiếng I-ran ở Ilam dựa vào giới tính và tuổi. Kết quả nghiên cứu

cho thấy, giới tính và tuổi không ảnh hưởng đến việc sử dụng các chiến lược cảm ơn của

người nói tiếng I-ran ở Ilam. Có thể thấy, đây là nghiên



cứu đầy đủ về cả hai nhân tố giới tính và tuổi, tuy nhiên nghiên cứu này chỉ giới hạn ở

chiến lược cảm ơn và các tác giả cũng không đưa ra được các biểu thức ngơn ngữ cảm ơn

trong mỗi chiến lược.

1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, hành vi cảm ơn đặc biệt là hồi đáp cảm ơn hiện nay chưa được nghiên

cứu sâu rộng. Có một số cơng trình nghiên cứu liên quan đến hành vi cảm ơn và hồi đáp

cảm ơn một cách thuần Việt hay nghiên cứu theo hướng đối chiếu tiếng Việt với ngôn ngữ

khác, cụ thể được chúng tôi tổng hợp theo các nội dung nghiên cứu sau đây:

i. Nghiên cứu về nghi thức lời nói

Cơng trình đầu tiên theo hướng nghiên cứu này có thể kể đến luận án Phó tiến sĩ của

Phạm Thị Thành (1995). Tác giả nghiên cứu về “Nghi thức lời nói tiếng Việt hiện đại qua

các phát ngơn: chào, cảm ơn, xin lỗi”. Tác giả phân loại các phát ngôn có hành vi cảm ơn

dựa vào nghĩa biểu hiện thành hai loại phát ngôn: Phát ngôn tường minh và phát ngôn hàm

ẩn, mỗi loại phát ngôn, tác giả đưa ra những cấu trúc cụ thể. Các phát ngôn cảm ơn được

biểu hiện một cách tường minh gồm bốn cấu trúc: cảm ơn, cảm ơn đối tượng giao tiếp ạ,

xin có lời cảm ơn đối tượng giao tiếp, chủ thể giao tiếp xin gửi đến đối tượng giao tiếp lời

cảm ơn. Các phát ngôn cảm ơn được biểu hiện một cách hàm ẩn gồm năm cấu trúc: cấu

trúc khẳng định, cấu trúc băn khoăn, cấu trúc khen: Đối tượng giao tiếp + tính chất + quá!,

cấu trúc tiếp nhận: Chủ thể giao tiếp xin đối tượng giao tiếp, Chủ thể giao tiếp sẽ không

quên ơn đối tượng giao tiếp.

Nguyễn Văn Lập (2005), trong luận án tiến sĩ đã phân loại nghi thức lời nói trong tiếng

Việt thành những hành vi như: hành vi thu hút sự chú ý, hành vi chào hỏi… và hành vi cảm

ơn được tác giả phân loại dựa theo bốn tiêu chí sau:

Đối với sự hàm ơn nhỏ: người hàm ân thường sử dụng động từ ngữ vi “cảm ơn” để

bày tỏ lòng biết ơn đối với người gia ân.

Đối với sự hàm ơn lớn: người hàm ân thường sử dụng động từ ngữ vi “đội ơn, đa tạ,

cảm tạ, biết ơn, tri ân” để bày tỏ lòng biết ơn đối với người gia ân.



Cảm ơn về lời mời, lời tặng: người hàm ân thường sử dụng động từ ngữ vi “xin” để

đáp lại ân huệ của người gia ân.

Cảm ơn để từ chối lịch sự: người hàm ân thường sử dụng động từ ngữ vi “cảm ơn”.

Luận án tiến sĩ của Huỳnh Thị Nhĩ (2010) nghiên cứu về nghi thức lời nói tiếng Anh

Mỹ hiện đại qua các phát ngôn: Chào, cảm ơn và xin lỗi. Tác giả đã chỉ ra sự tương

đồng phát ngôn cảm ơn trong tiếng Anh – Mĩ và tiếng Việt về tình huống cảm ơn, về

chiến lược cảm ơn, về cấu trúc của phát ngôn cảm ơn và chỉ ra những khác biệt trong

cấu trúc của phát ngôn cảm ơn giữa hai ngôn ngữ. Trong tiếng Việt, thường xuất hiện

những bộ phận đứng trước như: xin, cho tôi được, thành thật ... hoặc làm tăng thêm

thái độ lịch sự, thành khẩn, biết ơn của người nói khi dùng các phó từ tình thái chỉ mức

độ cao như: thật, thật là, rất, rất là. Theo tác giả, người Việt thường không sử dụng

phát ngơn cảm ơn chính danh một cách tường minh trong mối quan hệ thân mật, thay

vào đó sử dụng các ngữ đoạn hàm ẩn như: khách sáo quá, bày vẽ làm gì, vẽ chuyện…

Trong khi đó, người Mĩ thường xuyên sử dụng các phát ngôn cảm ơn mang nghĩa tường

minh trong các tình huống hằng ngày nhằm thể hiện sự lịch sự trong văn hóa của một

cộng đồng hay của xã hội thông qua những cấu trúc phát ngôn cảm ơn ở dạng vô nhân

xưng như: Thank

you (for), Many thanks (for), That’s very kind of you, …

Ba nghiên cứu trên của các tác giả Phạm Thị Thành (1995), Nguyễn Văn Lập (2005),

Huỳnh Thị Nhĩ (2010) đều đã đưa ra những cấu trúc và đã phân tích hành vi cảm ơn khá

khái quát và cụ thể. Tuy nhiên, các tác giả không đi sâu vào nghiên cứu hành vi cảm ơn mà

chỉ đề cập đến như một phần nội dung nhỏ hay lồng ghép nghiên cứu với các nghi thức

khác. Trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Lập và Huỳnh Thị Nhĩ có nêu ra tình huống sử

dụng cấu trúc có chứa hành vi cảm ơn và hồi đáp cảm ơn nhưng khơng đi vào phân tích cụ

thể.

Lê Tuyết Nga (2010), nghiên cứu các phát ngôn cảm ơn trong tiếng Việt đối chiếu với

tiếng Đức. Tác giả cho rằng cả hai ngơn ngữ, tiếng Việt và tiếng Đức đều có một lượng

phát ngôn cảm ơn phong phú, đa dạng với nhiều cấu trúc khác nhau để biểu đạt các nghĩa

tình huống và sắc thái biểu cảm. Cũng như một số nghiên cứu nêu trên, nghiên cứu này

cũng chỉ ra được sự khác biệt rõ nhất là người Việt ưa



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

ii. Nghiên cứu các nhân tố chi phối hành vi cảm ơn và hồi đáp cảm ơn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×