Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Các chiến lược khi đáp lại lời khen của nam nói với vợ và nữ nói với chồng

- Các chiến lược khi đáp lại lời khen của nam nói với vợ và nữ nói với chồng

Tải bản đầy đủ - 0trang

mối quan hệ vợ, chồng đạt tỉ lệ cao nhất. Kết quả này cho thấy đã có sự thay đổi trong cách

đáp lại lời khen, đặc biệt là khen về trang phục. So với trước đây, khi được ai đó khen về

trang phục mặc đẹp, phần lớn mọi người sử dụng CLCOGT để đáp lại như các TCL Hỏi

lại, Phủ nhận lời khen hay Phi ngôn từ. Tuy vậy, lời khen giờ đây thường mang tính xã

giao thậm chí được mọi người sử dụng thay cho lời chào hỏi hằng ngày và nói lời “cảm ơn”

trực tiếp cũng đã được sử dụng thường xuyên hơn để đáp lại lời khen mặc trang phục đẹp.

Kết quả Chi – Square cho thấy giá trị P của người Mĩ đạt 0.393 và người Việt đạt 0.00.

Như vậy chỉ có kết quả của người Việt là nhỏ hơn 0.05 nên có giá trị ý nghĩa thống kê. Vì

vậy, có thể kết luận rằng, giới tính có ảnh hưởng đến sự chọn các CL đáp lại lời khen từ

người thân là người Việt.

3.3.2. Các chiến lược hồi đáp cảm ơn của người Mĩ và người Việt từ góc độ giới tính

Sau khi người hàm ân thể hiện lòng biết ơn thơng qua các chiến lược cảm ơn, người

gia ân đáp lại lời cảm ơn bằng việc sử dụng các chiến lược hồi đáp hay các hành vi ngôn

ngữ hồi đáp. Phần này chúng tôi muốn khảo sát xem nhân tố giới có tác động gì đến việc sử

dụng các CLHĐCO của người Mĩ và người Việt.

3.3.2.1. Tình huống 1: Khi được cảm ơn về món quà sinh nhật

a. Mối quan hệ là bạn bè

Bảng 3: Các chiến lược hồi đáp cảm ơn của nam giới, nữ giới người Mĩ và

người Việt khi được bạn bè cảm ơn về món q sinh nhật

Giới tính

NHA

NGA

Bạn

Nam





cùng giới



Bạn bè



Nữ



khác giới

Bạn bè

giới

Bạn bè

giới

Tổng



khác

cùng



Người Mĩ

Trực

Gián

tiếp

tiếp

88

6

93.6%



Tổng



94



Người Việt

Trực

Gián

tiếp

tiếp

30

84



Tổng



114



6.4%



100%



26.3%



73.7%



100%



90

95.7%



4

4.3%



94

100%



44

38.6%



70

61.4%



114

100%



121

96.0%

119

94.4%

418

95.0%



5

4.0%

7

5.6%

22

5.0%



126

100%

126

100%

440

100%



82

46.6%

45

25.6%

201

34.7%



94

53.4%

131

74.4%

379

65.3%



176

100%

176

100%

580

100%



Số liệu ở bảng 3 cho thấy, tỉ lệ các CL mà người gia ân hồi đáp lời cảm ơn của người

hàm ân về món quà sinh nhật là khác nhau. Người Mĩ ưa lựa chọn CLHĐCOTT hơn người

Việt, ngược lại người Việt lại ưa sử dụng CLHĐCOGT, cụ thể:



Đối với người Mĩ: Khi đáp lại lời cảm ơn từ bạn bè, cả nam giới và nữ giới lựa chọn

CLHĐCOTT cao hơn khi nói với bạn bè khác giới, tuy nhiên tỉ lệ không chênh lệch nhiều.

Tỉ lệ lần lượt là, nam: 95.7% và 4.3%; nữ 96.0% và 4.0%. Nói với bạn bè cùng giới tỉ lệ

đạt được là, nam: 93.6% và 6.4%; nữ: 94.4% và 5.6%.

Đối với người Việt: Nam giới và nữ giới khi nói với bạn bè cùng giới đều ưa chọn

CLHĐCOGT với tỉ lệ gần bằng nhau (nam: 73.7%, nữ: 74.4%), CLHĐCOTT được sử dụng

với tỉ lệ là nam: 26.3%, nữ: 25.6%). Khi nói với bạn bè khác giới, nam giới lại lựa chọn tỉ lệ

CLHĐCOGT nhiều hơn nữ giới (nam: 61.4%, nữ: 53.4%), CLHĐCOTT lại được nữ giới lựa

chọn với tỉ lệ cao hơn nam giới lần lượt là 46.6% và 38.6%.

Bên cạnh số liệu ở bảng 3, chúng tôi thực hiện kiểm định Kết quả Chi-Square cho

thấy, giá trị Pearson Chi-Square (P) của nam giới và nữ giới người Mĩ đạt: P = 0.1, và

người Việt đạt: P = 0.02. Như vậy, giống như kết quả sử dụng các CLCO ở mối quan hệ

bạn bè, chỉ có giá trị Chi - Square của người Việt có ý nghĩa thống kê, vì P = 0.02 nhỏ hơn

0.05 nên có thể kết luận rằng: Có sự tác động của nhân tố giới tới việc sử dụng các

CLHĐCO trong tình huống nhận quà sinh nhật ở mối quan hệ bạn bè người Việt còn với

người Mĩ thì khơng có giá trị thống kê.

b. Mối quan hệ là đồng nghiệp

Bảng 4: Các chiến lược hồi đáp cảm ơn của nam giới, nữ giới người Mĩ và

người Việt khi được đồng nghiệp cảm ơn về món q sinh nhật

NHA



Giới tính

NGA



Tổng



188



Người Việt

Trực

Gián

tiếp

tiếp

121

107



1.1%



100%



53.1%



46.9%



100%



183



5



188



104



124



228



97.3%



2.7%



100%



45.6%



54.4%



100%



Đồng nghiệp nhỏ

tuổi



183



5



188



132



96



228



97.3%



2.7%



100%



57.9%



42.1%



100%



Đồng

nghiệp lớn tuổi

Đồng nghiệp bằng

tuổi

Đồng nghiệp nhỏ

tuổi



247

98.0%

245

97.2%

242

96.0%

1286



5

2.0%

7

2.8%

10

4.0%

34



252

100%

252

100%

252

100%

1320



180

51.1%

138

39.2%

169

48.0%

844



172

48.9%

214

60.8%

183

52.0%

896



352

100%

352

100%

352

100%

1740



97.4%



2.6%



100%



48.5%



51.5%



100%



Đồng nghiệp

Nam

lớn tuổi

Đồng nghiệp bằng

tuổi



Nữ



Tổng



Người Mĩ

Trực

Gián

tiếp

tiếp

186

2

98.9%



Tổng



228



Đối với người Mĩ: Xu hướng sử dụng CLHĐCOTT với tỉ lệ cao hơn CLHĐCOGT

vẫn được người Mĩ duy trì ở mối quan hệ đồng nghiệp, kết quả cụ thể được thể hiện ở bảng

4.

Khi nói với đồng nghiệp lớn tuổi, hai giới lựa CLHĐCOTT đạt tỉ lệ cao nhất, và gần

bằng nhau, nam: 98.9%, nữ: 98.0%, tỉ lệ CLHĐCOGT đạt tỉ lệ rất thấp, nam: 1.1%, nữ:

2.0%. Đặc biệt nam giới sử dụng các CLHĐCO với tỉ lệ bằng nhau đối với đồng nghiệp

bằng tuổi và nhỏ tuổi, CLHĐCOGT đạt 97.3% và CLHĐCOTT đạt 2.7%. Trong khi đó, nữ

giới lựa chọn CLHĐCOTT cao hơn một chút khi nói với đồng nghiệp bằng tuổi so sánh với

đồng nghiệp nhỏ tuổi.



Đối với người Việt: Kết quả ở bảng 4 cho thấy, nam giới sử dụng CLHĐCOTT nhiều

hơn nữ giới trong mối quan hệ với đồng nghiệp, tỉ lệ này ngược lại với CLHĐCOGT, cụ

thể, nam giới lựa chọn CLHĐCOTT với tỉ lệ cao nhất khi nói với đồng nghiệp nhỏ tuổi

(57.9%) và thấp nhất khi nói với đồng nghiệp bằng tuổi (45.6%). Nữ giới lại lựa chọn

CLHĐCOTT với tỉ lệ cao nhất khi nói với đồng nghiệp lớn tuổi (51.1%), và giống nam

giới thấp nhất khi nói với đồng nghiệp bằng tuổi (39.2%)

Kết quả Chi-Square cho thấy, giá trị P của nam giới và nữ giới người Mĩ

đạt: P = 0.228, và người Việt đạt: P = 0.000. Như vậy, người Việt có giá trị P nhỏ

hơn 0.05 nên có thể kết luận rằng: nhân tố giới tính có ảnh hưởng tới việc sử

dụng các CLHĐCO trong tình huống đáp lại lời cảm ơn khi nhận quà sinh nhật ở

mối quan hệ đồng nghiệp người Việt.

c. Mối quan hệ là người thân trong gia đình

Bảng 5: Các chiến lược hồi đáp cảm ơn của nam giới, nữ giới người Mĩ và

người Việt khi được người thân trong gia đình cảm ơn về món quà sinh nhật

Giới tính

NHA



NGA

Bố/ mẹ



Người Mĩ

Trực



Gián



tiếp



tiếp



Người Việt

Tổng



Trực



Gián



tiếp



tiếp



Tổng



91



3



94



50



64



114



96.8%



3.2%



100%



43.9%



56.1%



100%



Anh/ Chị

Nam



Em

Vợ

Bố/ mẹ

Anh/ Chị



Nữ



Em

Chồng



Tổng



90



4



94



45



69



114



95.7%



4.3%



100%



39.5%



60.5%



100%



89



5



94



43



71



114



94.7%



5.3%



100%



37.7%



62.3%



100%



90



4



94



29



85



114



95.7%



4.3%



100%



25.4%



74.6%



100%



122



4



126



58



118



176



96.8%



3.2%



100%



33.0%



67.0%



100%



121



5



126



53



123



176



96.0%



4.0%



100%



30.1%



69.9%



100%



120



6



126



45



131



176



95.2%



4.8%



100%



25.6%



74.4%



100%



122



4



126



31



145



176



96.8%



3.2%



100%



17.6%



82.4%



100%



845



35



880



354



806



1160



96.0%



4.0%



100%



30.5%



69.5%



100%



Đối với người Mĩ: Có thể thấy số liệu ở bảng 5, khơng có sự chênh lệch

nhiều trong việc lựa chọn các CLHĐCO giữa hai giới khi đáp lại lời cảm ơn với

các thành viên trong gia đình. Cả hai giới đều ưa lựa chọn CLHĐCOTT với tỉ lệ

trung bình đạt 96% và CLHĐCOGT đạt trung bình chỉ khoảng 4%.

Đối với người Việt: Nhìn chung, người Việt ưa sử dụng CLHĐCOGT hơn

CLHĐCOTT, trong đó nữ giới lại sử dụng CLHĐCOGT với tần suất nhiều hơn

nam giới. Tỉ lệ các CLHĐCO cũng được tăng hay giảm dần khi nói với từng

thành viên, cụ thể, nam giới lựa chọn CLHĐCOGT theo mức tăng dần, thấp nhất

là bố mẹ (56.1%), lần lượt đến anh, chị (60.5%), em (62.3%), vợ (74.6%). Tỉ lệ

CLHĐCOTT lại ngược lại cao nhất là bố, mẹ (43.9%) và thấp nhất là vợ

(25.4%). Nữ giới cũng lựa chọn CLHĐCOGT theo tỉ lệ tăng dần nhưng cao hơn

khá nhiều so với nam giới.

Trong mối quan hệ với người thân, kết quả Chi-Square cho thấy, giá trị Pearson

Chi-Square (P) của nam giới và nữ giới người Mĩ đạt: P =0.7, và người Việt đạt: P =



0.00. Như vậy, giá trị Chi -Square của người Việt P = 0.00 nhỏ hơn 0.05 có ý nghĩa

thống kê hay nhân tố giới có ảnh hưởng tới việc sử dụng các CLHĐCO của người

Việt khi nói với người thân trong gia đình.

3.3.2.2.Tình huống 2: Khi được cảm ơn về lời khen mặc bộ trang phục đẹp

a. Mối quan hệ là bạn bè

Bảng 6: Các chiến lược hồi đáp cảm ơn của nam giới, nữ giới người Mĩ và

người Việt khi được bạn bè cảm ơn về lời khen mặc bộ trang phục đẹp

Giới tính

NHA

NGA



Nam



Nữ



Bạn bè cùng

giới

Bạn bè khác

giới

Bạn bè khác

giới

Bạn bè cùng

giới

Tổng



Trực

tiếp

54

57.4%

62

66.0%

77

61.1%

69

54.8%

262

59.5%



Người Mĩ

Gián

Tổng

tiếp

40

94

42.6%

100%

32

94

34.0%

49

38.9%

57

45.2%

178

40.5%



100%

126

100%

126

100%

440

100%



Trực

tiếp

36

31.6%

18

15.8%

23

13.1%

17

9.7%

94

16.2%



Người Việt

Gián

Tổng

tiếp

78

114

68.4%

100%

96

114

84.2%

153

86.9%

159

90.3%

486

83.8%



100%

176

100%

176

100%

580

100%



Đối với người Mĩ: Khi đáp lại lời cảm ơn của bạn bè cùng giới về lời khen mặc trang

phục đẹp, khơng có chênh lệch nhiều về tỉ lệ lựa chọn CLHĐCOTT và CLHĐCOGT giữa nam

giới và nữ giới, nam: 57.4% và 42.6%, nữ: 54.8% và 45.2%. Với bạn bè khác giới, nam giới và

nữ giới lựa chọn CLHĐCOTT với tỉ lệ cao gần gấp hai lần so với CLHĐCOGT, nam: 66.0%

và 34.0%, nữ: 61.1% và 38.9%.

Đối với người Việt: CLHĐCO được sử dụng với tỉ lệ vượt trội khi nói với bạn bè là

CLHĐCOGT, cụ thể: khi nói với bạn cùng giới, nam giới sử dụng CLHĐCOGT cao hơn

hai lần so với CLHĐCOTT (68.4% và 31.6%), còn nữ giới sử dụng cao gấp chín lần

(90.3% và 9.7%). Khi nói với bạn bè khác giới, tỉ lệ CLHĐCOGT cao hơn CLHĐCOTT,

cụ thể: nam giới đạt 84.2% và 15.8%, nữ giới đạt: 90.3% và 9.7%.

Giá trị Chi- Square của người Mĩ, P = 0.1; người Việt, P = 0.007 cho thấy chỉ có người

Việt đạt giá trị nhỏ hơn 0.05 nên có thể kết luận giá trị này có ý nghĩa về mặt thống kê.



b. Mối quan hệ là đồng nghiệp

Bảng 7: Các chiến lược hồi đáp cảm ơn của nam giới, nữ giới người Mĩ và

người Việt khi được đồng nghiệp cảm ơn về lời khen mặc bộ trang phục đẹp

NHA



Giới tính

NGA

Đồng nghiệp lớn tuổi



Nam

Đồng nghiệp bằng tuổi

Đồng nghiệp nhỏ tuổi

Đồng nghiệp lớn tuổi

Nữ

Đồng nghiệp bằng tuổi

Đồng nghiệp nhỏ tuổi



Tổng



Trực

tiếp

137



Người Mĩ

Gián

Tổng

tiếp

51

188



Người Việt

Trực

Gián

Tổng

tiếp

tiếp

28

200

228



72.9%



27.1%



100%



12.3%



87.7%



100%



130



58



188



23



205



228



69.1%



30.9%



100%



10.1%



89.9%



100%



130



58



188



20



208



228



69.1%



30.9%



100%



8.8%



91.2%



100%



185

73.4%

175

69.4%

170

67.5%

927

70.2%



67

26.6%

77

30.6%

82

32.5%

393

29.8%



252

100%

252

100%

252

100%

1320

100%



38

10.8%

20

5.7%

16

4.5%

145

8.3%



314

89.2%

332

94.3%

336

95.5%

1595

91.7%



352

100%

352

198

352

100%

1740

100%



Đối với người Mĩ: Số liệu ở bảng 7 cho thấy, cả nam giới và nữ giới có xu hướng sử

dụng CLHĐCOTT để đáp lại lời cảm ơn của đồng nghiệp về lời khen mặc bộ trang phục

đẹp với tỉ lệ cao hơn CLHĐCOGT, trong đó, khi nói với đồng nghiệp lớn tuổi, tỉ lệ

CLHĐCOTT được nữ giới giới lựa chọn cao hơn một chút so với nam giới, và tỉ lệ nghịch

với CLHĐCOGT (nam: 72.9% và 27.1%, nữ: 73.4% và 26.6%). Tỉ lệ các CLHĐCO đạt

bằng nhau khi nam giới đáp lại đồng nghiệp bằng tuổi và nhỏ tuổi, CLHĐCOTT: 69.1%,

CLHĐCOGT: 30.9%. so sánh với nữ giới thì CLHĐCOTT đạt tỉ lệ gần bằng nhau khi nói

với đồng nghiệp bằng tuổi nhưng lại cao hơn khi nói với đồng nghiệp nhỏ tuổi.

Đối với người Việt: Cả nam giới và nữ giới có xu hướng sử dụng CLHĐCOGT đạt tỉ

lệ cao hơn rất nhiều so với CLHĐCOTT, CLHĐCOGT đạt tỉ lệ trung bình là nam: 89.6%,

nữ: 93%, kết quả cho thấy, nữ giới sử dụng CLGT nhiều hơn nam giới. CLHĐCOTT đạt tỉ

lệ trung bình nam: 10.4%, nữ: 7%. Cả hai giới đều sử dụng



CLHĐCOGT với tỉ lệ tăng dần khi nói với đồng nghiệp lớn tuổi, đồng nghiệp bằng tuổi và

đồng nghiệp nhỏ tuổi.

Kết quả kiểm định Chi-Square cho thấy, giá trị P = 0.236 (người Mĩ) và P =

0.004 (người Việt), vì vậy chỉ có giá trị P của người Việt có ý nghĩa thống kê và có sự ảnh

hưởng về giới tính tới việc lựa chọn các CLHĐCO trong mối quan hệ đồng nghiệp của

người Việt.

c. Mối quan hệ là người thân trong gia đình

Bảng 8: Các chiến lược hồi đáp cảm ơn của nam giới, nữ giới người Mĩ và

người Việt khi được người thân trong gia đình cảm ơn về lời khen mặc bộ

trang phục đẹp

NHA



Giới tính

NGA

Bố/ mẹ

Anh/ Chị



Nam



Em

Vợ

Bố/ mẹ

Anh/ Chị



Nữ



Em

Chồng

Tổng



Trực

tiếp

63



Người Mĩ

Gián

Tổng

tiếp

31

94



Trực

tiếp

6



Người Việt

Gián

Tổng

tiếp

108

114



67.0%



33.0%



100%



5.3%



94.7%



100%



66



28



94



6



108



114



70.2%



29.8%



100%



5.3%



94.7%



100%



61

64.9%

53



33

35.1%

41



94

100%

94



3

2.6%

11



111

97.4%

103



114

100%

114



56.4%



43.6%



100%



9.6%



90.4%



100%



82

65.1%

80

63.5%

79

62.7%

84

66.7%

568

64.5%



44

34.9%

46

36.5%

47

37.3%

42

33.3%

312

35.5%



126

100%

126

100%

126

100%

126

100%

880

100%



10

5.7%

11

6.3%

3

1.7%

11

6.3%

65

5.6%



166

94.3%

165

93.8%

173

98.3%

165

93.8%

1095

94.4%



176

100%

176

100%

176

100%

176

100%

1160

100%



Đối với người Mĩ: Số liệu ở bảng 8 cho thấy, cả nam giới và nữ giới đều lựa chọn

CLHĐCOTT với tỉ lệ cao hơn CLHĐCOTT, trong đó nổi trội là nam giới khi đáp lại lời

cảm ơn của anh, chị ở CLHĐCOTT đạt 70.2%, thấp nhất là khi nói với vợ đạt 56.4%, và tỉ

lệ này tỉ lệ nghịch với CLHĐCOGT. Các CLHĐCOTT được nữ



giới sử dụng với tỉ lệ tương đối bằng nhau, đạt trung bình khoảng 64.5%, CLHĐGT đạt

trung bình khoảng 35.6%

Đối với người Việt: Khác với người Mĩ, CLHĐCOGT lại được cả nam giới và nữ giới

người Việt lựa chọn với tỉ lệ rất cao, và tỉ lệ này tỉ lệ nghịch với CLHĐCOTT.

CLHĐCOGT đạt tỉ lệ cao nhất khi nam giới và nữ giới khi đáp lại lời cảm ơn của em (nam:

97.4%, nữ: 98.3%). Đặc biệt là khi nói với bố mẹ và anh chị, CLHĐCOGT được nam giới

lựa chọn đạt tỉ lệ bằng nhau là 94.7%, CLHĐCOTT đạt 5.3%, nữ giới cũng đạt tỉ lệ gần

bẳng nhau, trung bình đạt 94.05%. CLHĐCOGT đạt thấp nhất là khi nói với vợ hoặc

chồng, nam đạt 90.4%, nữ đạt 93.8%, điều này có nghĩa rằng nam giới sử dụng

CLHĐCOTT với tỉ lệ 9.6% cao hơn nữ giới 6.3% khi đáp lại lại lời cảm ơn của người bạn

đời, và tỉ lệ này thậm chí còn cao nhất trong các CLHĐCOTT được hai giới nói với người

thân

Giá trị kiểm định Chi- Square ở mối quan hệ người thân của người Mĩ đạt P = 0.784

cao hơn 0.05, nguời Việt đạt P = 0.015 nhỏ hơn 0.05. Vì vậy có thể kết luận rằng, giới tính

có ảnh hưởng tới việc lựa chọn các CLHĐCO của người Việt.

3.3.3. Những điểm tương đồng và khác biệt về các chiến lược cảm ơn và hồi đáp

cảm ơn của người Mĩ và người Việt từ góc độ giới

3.3.3.1. Những điểm tương đồng

Kết quả từ hai tình huống trên cho thấy, cả nam giới và nữ giới người Mĩ và người

Việt đều sử dụng chiến lược cảm ơn trực tiếp và chiến lược cảm ơn gián tiếp ở cả hai tình

huống là được tặng quà sinh nhật và được khen khi mặc trang phục đẹp và hồi đáp lời cảm

ơn về món quà sinh nhật và lời cảm ơn khi được khen.

Trong đó, đối với TH khi được tặng quà, ở mối quan hệ bạn bè cùng giới, cả nam giới

người Mĩ và người Việt đều có xu hướng lựa chọn CLCOTT với tỉ lệ cao hơn CLCOGT so

với nữ giới. Đối với quan hệ đồng nghiệp, cả nam và nữ lớn tuổi, bằng tuổi hay nhỏ tuổi,

người Mĩ và người Việt đều lựa chọn CLCOTT với tỉ lệ cao hơn so với CLCOGT. Trong mối

quan hệ với người thân trong gia đình thì nam người Mĩ và người Việt đều sử dụng CLCOTT

cao hơn CLCOGT khi nói với anh, chị.

Đối với CLHĐCO, khi được cảm ơn về món quà, đồng nghiệp nam lớn tuổi và nhỏ

tuổi người Mĩ và người Việt đều lựa chọn CLHĐCOTT với tỉ lệ cao hơn



CLHĐCOGT. Trong khi đó nữ đồng nghiệp lớn tuổi lại chọn CLHĐCOTT cao hơn

CLHĐCOGT.

3.3.3.2. Những điểm khác biệt

Sự khác biệt lớn nhất là cả nam giới và nữ giới người Mĩ đều có xu hướng

chọn CLCOTT với tỉ lệ rất cao ở tất cả các mối quan hệ, thậm chí gần đạt tỉ lệ tuyệt

đối. Sự lựa chọn này có thể là do văn hóa của người phương Tây ưa lối nói trực

tiếp, xã hội đề cao chủ nghĩa cá nhân, cái tôi nên lời cảm ơn trực tiếp là phát ngơn

mang tính khn mẫu có sẵn và được sử dụng hầu hết trong các ngữ cảnh.

CLCOTT được người Mĩ ưa dùng thông qua việc sử dụng hành vi cảm ơn trực tiếp,

ví dụ: Thanks; thanks so much!; thank you so much!... , hay TCL Đa chiến lược,

gồm TCL Cảm ơn và Thể hiện sự không cần thiết của ân huệ, hay Khen ví dụ: Oh,

you shouldn't have done that. Thanks.; Thank you so much, it's really kind of you.

TCLCOGT được người Mĩ ưa sử dụng là Khen người gia ân (NGA) hay ân huệ

(món q), ví dụ: That's so nice of you, I am so happy.

Trong khi đó, người Việt có xu hướng lựa chọn CLCOGT nhiều hơn người Mĩ, đặc

biệt ở tình huống được khen mặc trang phục đẹp. Ở tình huống được tặng quà sinh nhật,

CLCOGT cũng được lựa chọn với tỉ lệ cao khi hai giới nói với người thân trong gia đình.

Tuy vậy, khi xét về từng CLCO thì cũng có sự khác nhau trong việc lựa chọn các CL

giữa các giới người Việt, như trong tình huống tặng quà, ở tất cả các mối quan hệ, nam giới

đều lựa chọn CLCOTT để bày tỏ lòng biết ơn với tỉ lệ cao hơn nữ giới. Điều này cho thấy,

khi được bạn bè tặng quà, nam giới người Việt thường ưa lối nói ngắn gọn trong khi đó nữ

giới ưa lối nói dài dòng, vòng vo hơn. Theo nghiên cứu của Vũ Thị Thanh Hương (1999),

khi nói đến trực tiếp và gián tiếp thì gián tiếp lịch sự hơn trực tiếp vì vậy nữ giới dùng gián

tiếp nhiều hơn nam giới và trong xã hội phụ hệ, nữ giới là người thấp quyền hơn nên khi

người thấp quyền hơn nói với người trên quyền thì thường lịch sự hơn nam giới. Theo quan

niệm truyền thống của nền văn hóa Việt, sự ảnh hưởng này đã tác động đến cách sử dụng

các chiến lược cảm ơn của mỗi giới trong giao tiếp.



Mặc dù vậy, theo quan sát và con số thực tế ở trên thì người Việt đã có sự thay đổi trong

việc sử dụng lời nói cảm ơn, với tỉ lệ có xu hướng nhiều hơn trước đây, so sánh với các

nghiên cứu đi trước như của Ngơ Hữu Hồng (1998) hay của Vũ Thị Thanh Hương (1999).

Đặc biệt, việc sử dụng lời cảm ơn trực tiếp để đáp lại khi được khen mặc trang phục đẹp cũng

đã được sử dụng thường xuyên hơn và là một sự mới mẻ trong cách tiếp cận của người Việt.

Đối với CLCOGT, một điểm chung là cả nam giới và nữ giới đều lựa chọn TCL

Xin khi nhận món quà đặc biệt là từ đồng nghiệp hay người thân lớn tuổi hơn như bố,

mẹ và anh, chị. Sự khác biệt giữa hai giới được thể hiện khi ở nam giới ưa lựa chọn

cách nói với nghĩa bác bỏ, phủ nhận sự hàm ân với ý cho rằng NGA không nhất thiết

phải dành cho NHA ân huệ như vậy và đáng ra NGA không cần phải mất thời gian, sức

lực hay tiền bạc để làm điều đó hay nhằm phủ nhận lời nói của NGA. Ví dụ: Bạn bày

vẽ q!; Sao cầu kì thế? (TH1); Em thấy khơng được đẹp lắm.(TH2), hay sử dụng TCL

Phi ngôn từ, như: Mỉm cười, gật đầu (TH2). TCL Lảng tránh cũng được nam giới ưa

sử dụng, ví dụ: nam giới đã sử dụng chiến lược Lảng tránh nhiều hơn nữ giới, ví dụ:

Sao không cho vợ đến? (TH1); Lâu lắm mới gặp anh; hay Hơm nay trời nóng chị nhỉ.

(TH2)...

Ngược lại, nữ giới ưa sử dụng TCL mang nghĩa khẳng định như: Thừa nhận

sự áp đặt nhằm thể hiện rõ sự cần thiết của ân huệ hơn vì muốn hiện lòng biết ơn

một cách ẩn ý bằng cách thừa nhận gánh nặng và việc áp đặt do ân huệ được hỏi

hoặc yêu cầu, và cố gắng đề cao vai trò của người gia ân để người gia ân cảm thấy

hành vi mà mình đã làm cho người hàm ân có ý nghĩa và quan trọng như thế nào. Ví

dụ: Ui, đúng là cái em đang cần đấy. (TH1) hay khi được khen, người gia ân khẳng

định lại lời khen đó là đúng bằng những lời nói như Cũng được em nhỉ; Ừ. Hay

TCL Hỏi: Sao biết mình thích món q này vậy?; Mua quà to thế này tốn nhiều

tiền không? (TH1), Thật không chị? (TH2), TCL Đa chiến lược cũng được nữ

giới người Việt ưa sử dụng, ví dụ: Ơi, chị u thật là chu đáo, món quà này rất

tuyệt. Em cảm ơn ạ.

Khi phản hồi lời cảm ơn về món quà hay lời khen, số liệu phân tích ở hai tình huống

cho thấy, khơng có sự khác biệt gì giữa hai giới khi người Mĩ nói tiếng Anh sử dụng tỉ lệ

CLHĐCOTT để đáp lại lời cảm ơn với bạn bè, đồng nghiệp và người



thân vẫn chiếm tỉ lệ cao so với CLHĐCOGT. Các TCL được nam giới và nữ giới

người Mĩ ưa sử dụng trong CLHĐCOTT là Phủ nhận lời cảm ơn, Chấp nhận lời

cảm ơn, ví dụ: No problem; You're welcome; Mmhmm. / Yep. (TH1, TH2); I'm so

glad you like it. (TH1)

Với CLHĐCOGT, cả hai giới người Mĩ ưa sử dụng TCL Khen lại để khẳng định

thêm một lần nữa trong cảnh huống khen, ví dụ: Really, you look great; I mean that you

look great, ngoài ra nam giới cũng chọn sử dụng TCL Lảng tránh (TH2).

Đối với người Việt, sự khác nhau về giới đã tạo nên sự khác nhau trong cách

lựa chọn các CLHĐCO ở người Việt. Đối với CLHĐCOTT, nam giới người Việt ưa

lựa chọn các TCL Phủ nhận lời cảm ơn trong cả hai tình huống, ví dụ: Khơng có gì

đâu; Khơng đáng bao nhiêu đâu anh; Chuyện nhỏ mà; Không phải cảm ơn đâu mà;

Không phải lăn tăn gì cả … để giảm đi mức đe dọa thể diện của NHA.

3.4. Đối chiếu hành vi cảm ơn và hồi đáp cảm ơn trong tiếng Anh và tiếng Việt

từ góc độ tuổi

Trong văn hóa phương Tây, đặc biệt là văn hóa của những người bản địa nói tiếng

Anh, cụ thể là người Mĩ, khi gặp nhau hay trong giao tiếp hay chào hỏi, việc hỏi tuổi người

khác lại điều tối kị và được cho là không lịch sự khi hỏi về vấn đề riêng tư của người đối

diện, nhưng trong văn hóa người Việt lại khác. Theo Trần Ngọc Thêm (2011), “người Việt

có thói quen ưa tìm hiểu, quan sát, đánh giá, … Tuổi tác, quê quán, trình độ học vấn, địa vị

xã hội, tình trạng gia đình” [62, tr.156]. Thói quen ưa tìm hiểu của người Việt như việc hỏi

tuổi người khác, mục đích khơng phải là tò mò hay có ý gì mà dựa vào số tuổi để điều

chỉnh mối quan hệ giao tiếp theo tuổi qua các cách sử dụng ngôn từ nhất là cách dùng và

việc điều chỉnh cách dùng từ xưng hơ, cách sử dụng các yếu tố tình thái trong các phát

ngôn phản ánh ảnh hưởng của yếu tố tuổi trong giao tiếp, điều này dường như là không xảy

ra đối với văn hóa phương Tây.

Để tìm hiểu nhân tố tuổi có ảnh hưởng đến việc sử dụng các CLCO và HĐCO của

người Mĩ và người Việt hay không, chúng tôi thực hiện khảo sát và thu được kết quả sau:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Các chiến lược khi đáp lại lời khen của nam nói với vợ và nữ nói với chồng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×