Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Mối quan hệ theo độ tuổi ở 3 nhóm tuổi khi nói với:

Mối quan hệ theo độ tuổi ở 3 nhóm tuổi khi nói với:

Tải bản đầy đủ - 0trang

với tỉ lệ rất cao và gần bằng nhau nam (97.9%), nữ (96.8%) và ngược lại thì họ lựa

chọn CLCOGT với tỉ lệ rất khiêm tốn, nam (2.1%), nữ (3.2%).

Kết quả ở biểu đồ 2 cho thấy người Việt giữa các giới có xu hướng sử dụng các

chiến lược cảm ơn với tỉ lệ khác nhau để cảm ơn bạn bè cùng giới. Nam giới nói với bạn

bè cùng giới họ ưa sử dụng CLCOTT (63.2%) nhiều hơn gần gấp hai lần CLCOGT

(36.8%). Điều này xóa đi quan điểm của nhiều người Việt cho rằng bạn bè cùng giới

đặc biệt là nam ít khi nói lời cảm ơn trực tiếp với nhau, vì họ cho rằng điều này là khách

sáo và đã là bạn bè thì khơng phải nói lời cảm ơn với nhau. Trong khi nữ giới lại lựa chọn

CLCOGT nhiều hơn CLCOTT khi nói với bạn cùng giới, tỉ lệ lần lượt là 55.1% và

44.9%.



Biểu đồ 3: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Mĩ khi nhận được món

quà sinh nhật từ bạn bè khác giới



Biểu đồ 4: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Việt khi nhận được món

quà sinh nhật từ bạn bè khác giới



Khi nói lời cảm ơn với bạn bè khác giới, người Mĩ vẫn ưa lựa chọn CLCOTT với tỉ lệ

cũng rất cao, tương đương nhau, cụ thể số liệu ở biểu đồ 3: nam (93.6%), nữ (93.7%). Trong

khi đó nam giới người Việt lựa chọn CLCOTT với tỉ lệ (50.9%) cao hơn một chút so với

CLCOGT (49.1%) và ngược lại so với nữ giới.

Bên cạnh số liệu ở các biểu đồ, chúng tôi thực nghiệm kiểm định Kết quả Chi- Square

cho thấy, giá trị Pearson Chi-Square (P) của nam giới và nữ giới người Mĩ đạt: P = 0.59, và

người Việt đạt: P = 0.04. Như vậy, giá trị P của người Việt nhỏ hơn 0.05, có ý nghĩa thống

kê, nên có thể kết luận rằng. Có sự tác động của nhân tố giới tới việc lựa chọn các chiến

lược cảm ơn trong tình huống nhận quà sinh nhật ở mối quan hệ bạn bè người Việt còn

người Mĩ thì khơng.



b. Mối quan hệ là đồng nghiệp



Biểu đồ 5: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Mĩ khi nhận được món

quà sinh nhật từ đồng nghiệp lớn tuổi



Biểu đồ 6: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Việt khi nhận được

món quà sinh nhật từ đồng nghiệp lớn tuổi



Trong quan hệ đồng nghiệp, biểu đồ 5 cho thấy, khi nói với đồng nghiệp lớn tuổi cả

nam giới và nữ giới người Mĩ đều lựa chọn CLCOTT với tỉ lệ rất cao: nam (98.4%) và nữ

(99.6%), điều này đồng nghĩa với việc CLCOGT được lựa chọn với tỉ lệ rất thấp, nam

(1.6%), nữ (0.4%).

Số liệu ở biểu đồ 6 cho thấy, nam giới và nữ giới người Việt lựa chọn CLCOTT cao

hơn CLCOGT khi nói với đồng nghiệp lớn tuổi, tuy nhiên gần như khơng có sự khác biệt

về tỉ lệ sử dụng từng CLCO giữa các giới, lần lượt là nam (78.5% và 21.5%), nữ (78.4% và

21.6%).



Biểu đồ 7: Các chiến lược cảm ơn của nam



Biểu đồ 8: Các chiến lược cảm ơn của nam



giới và nữ giới người Mĩ khi nhận được món



giới và nữ giới người Việt khi nhận được món



quà sinh nhật từ đồng nghiệp bằng tuổi



quà sinh nhật từ đồng nghiệp bằng tuổi



Biểu đồ 7 cho thấy, khi nói với đồng nghiệp bằng tuổi, nam giới người Mĩ lựa chọn

CLCOTT với tỉ lệ rất cao là 97.9%, nữ giới lựa chọn CLCOTT với tỉ lệ gần như tuyệt đối

99.6%, và tỉ lệ CLCOGT chiếm tỉ lệ rất thấp (nam: 2.1%, nữ: 0.4%). So sánh với số liệu ở

biểu đồ 8, ta thấy cả nam giới và nữ giới người Việt đều lựa chọn CLCOTT với tỉ lệ thấp

hơn người Mĩ, tuy nhiên so sánh với CLCOGT thì họ lại ưa sử dụng hơn một chút, cụ thể

nam (53.9%và 46.1%), nữ (50.9% và 49.1%).



Biểu đồ 9: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Mĩ khi nhận được món

quà sinh nhật từ đồng nghiệp nhỏ tuổi



Biểu đồ 10: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Việt khi nhận được món

quà sinh nhật từ đồng nghiệp nhỏ tuổi



Biểu đồ 9 cho thấy, cũng như khi nói với đồng nghiệp lớn tuổi, nam giới và nữ giới

người Mĩ ưa lựa chọn CLCOTT với tỉ lệ rất cao khi cảm ơn đồng nghiệp nhỏ tuổi, trong đó

nữ giới lựa chọn gần như tuyệt đối (99.2%), ngược lại CLCOGT được lựa chọn với tỉ lệ rất

khiêm tốn.

Có sự khác nhau giữa nam giới và nữ giới người Việt khi nói với đồng nghiệp nhỏ tuổi

được thể hiện ở biểu đồ 10, nam giới sử dụng CLCOTT nhiều hơn nữ giới và tỉ lệ nghịch với

CLCOGT, cụ thể nam: 60.5% và 39.5%, nữ: 52.6% và 47.4%.

Mặc dù có sự khác nhau về tỉ lệ sử dụng các CLCO của người Mĩ và người Việt khi

nói lời cảm ơn với đồng nghiệp nhưng kết quả Chi-Square cho thấy, giá trị Pearson ChiSquare của nam giới và nữ giới người Mĩ đạt: P = 0.925, và người Việt đạt: P = 0.000. Như

vậy, chỉ có giá trị P của người Việt nhỏ hơn 0.05, nên có thể kết luận rằng, nhân tố giới có

ảnh hưởng tới việc lựa chọn các CLCO trong tình huống nhận quà sinh nhật ở mối quan hệ

đồng nghiệp của người Việt.



Như vậy, ở mối quan hệ đồng nghiệp, đối với người Mĩ hầu như khơng có sự khác biệt

trong việc lựa chọn CLCO giữa nam giới và nữ giới. Còn với người Việt có sự chênh lệch

về tỉ lệ sử dụng các CLCO giữa các giới. Mặc dù vị thế giống nhau là cùng là đồng nghiệp

nhưng giới tính khác nhau nên có sự khác biệt. Với đồng nghiệp lớn tuổi thì khơng có sự

khác nhau giữa nam và nữ trong việc lựa chọn các CLCO, khi nói với đồng nghiệp bằng

tuổi thì nam giới lựa chọn CLCOTT cao hơn một chút so với nữ giới, còn ở mối quan hệ

đồng nghiệp nhỏ tuổi thì có sự chênh lệch tương đối về tỉ lệ sử dụng CLCO giữa hai giới.

c. Mối quan hệ là người thân trong gia đình

- Các CLCO của con cái là nam giới và nữ giới nói với bố mẹ



Biểu đồ 11: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Mĩ khi nhận được món

quà sinh nhật từ bố, mẹ



Biểu đồ 12: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Việt khi nhận được

món quà sinh nhật từ bố, mẹ



Số liệu ở biểu đồ 11 và 12 cho thấy sự khác nhau trong việc sử dụng các CLCO của

con cái là nam giới và nữ giới người Mĩ và người Việt đối với người thân là bố, mẹ.

Đối với người Mĩ: Cả nam giới và nữ giới lựa chọn CLCOTT với tỉ lệ cao hơn CLCOGT.

Đặc biệt khi nam giới nói với bố/mẹ hoặc anh/chị họ sử dụng CTCOTT đạt tỉ lệ tuyệt đối

100%, nữ giới cũng ưa lựa chọn với tỉ lệ rất cao (95.2%).

Đối với người Việt: Sự khác biệt được thể hiện rõ trong số liệu ở biểu đồ 12, cả nam

giới và nữ giới người Việt đều ưa sử dụng CLCOGT (nam: 61.4%, nữ: 67.6%) khi nói với

người thân là bố, mẹ với tỉ lệ cao gấp gần hai lần so với CLCOTT (nam: 38.6%, nữ:

32.4%).



- Các CLCO của em là nam giới và nữ giới nói với anh/chị



Biểu đồ 13: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Mĩ khi nhận được món

quà sinh nhật từ anh, chị



Biểu đồ 14: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Việt khi nhận được

món quà sinh nhật từ anh, chị



Đối với người Mĩ: Giống như khi nói lời cảm ơn với bố, mẹ, khi nói với anh, chị nam

giới cũng ưa chọn CLCOTT với tỉ lệ tuyệt đối 100%, nữ giới cũng sử dụng CLCOTT với tỉ

lệ cao là 93.7%, trong khi đó CLCOGT đạt 6.3%.

Đối với người Việt: Có sự khác nhau nhỏ giữa nam giới và nữ giới, nam giới ưa lựa

chọn CLCOTT khi nói với anh, chị với tỉ lệ 53.5%, CLCOGT đạt 46.5%, còn nữ giới lại ưa

lựa chọn CLCOGT hơn đạt 58.5%, CLCOTT đạt 41.5%.

- Các CLCO của nam giới và nữ giới nói với em



Biểu đồ 15: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Mĩ khi nhận được món

quà sinh nhật từ em



Biểu đồ 16: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Việt khi nhận được

món quà sinh nhật từ em



Đối với người Mĩ: CLCOTT vẫn được cả nam giới và nữ giới ưa lựa chọn với tỉ lệ rất

cao khi nói với em (nam: 97.9%, nữ: 96.8%) trong đó CLCOGT họ chỉ sử dụng với tỉ lệ rất

khiêm tốn (nữ: 2.1%, nam: 3.2%)

Đối với người Việt: Khác với người Mĩ, cả nam và nữ người Việt lại ưu tiên lựa chọn

CLCOGT nhiều hơn CLCOTT, trong đó nam (59.6%) thấp hơn nữ giới (69.3%). Sự lựa

chọn CLCOGT với tỉ lệ cao hơn khi nói lời cảm ơn với em cho thấy, khi nói người thân ít

tuổi hơn, cả nam giới và nữ giới cho rằng đó là bậc dưới quyền, là em nên tránh sử dụng

những lời COTT mà chỉ sử dụng những lời COGT.

- Các TCLCO của nam giới nói với vợ và nữ giới nói với chồng



Biểu đồ 17: Các chiến lược cảm ơn của nam Biểu đồ 18: Các chiến lược cảm ơn của nam

giới và nữ giới người Mĩ khi nhận được món giới và nữ giới người Việt khi nhận được

quà sinh nhật từ vợ, chồng

món quà sinh nhật từ vợ, chồng



Đối với người Mĩ: Số liệu ở biểu đồ 17 cho thấy, CLCOTT vẫn được cả hai giới lựa chọn

nhiều hơn rất nhiều so với CLCOGT. Các CL được hai giới sử dụng với tỉ lệ gần bằng nhau.

Với CLCOTT, tỉ lệ sử dụng giữa hai giới đạt lần lượt là: nam (95.7%), nữ (95.2%); ở CLCOGT

nam (4.3%) và nữ (4.8%).

Đối với người Việt: Cả hai giới đều ưa lựa chọn CLCOGT nhiều hơn gấp hai lần so

với CLCOTT. Trong đó, nữ giới lại sử dụng CLCOGT nhiều hơn nam giới (nữ: 77.3%,

nam: 69.3%) được thể hiện ở biểu đồ 18.

Kết quả kiểm định Chi-square cho thấy, ở người Mĩ, chỉ số P = 0.76 lớn hơn

0.05 nên kết quả khơng có ý nghĩa thống kê hay nói cách khác là nhân tố giới khơng có tác

động tới việc lựa chọn các CLCO của người Mĩ. Trong khi chỉ số Chi-Square của người

Việt P = 0.00 nhỏ hơn 0.05 nên giá trị này có ý nghĩa về mặt thống kê



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Mối quan hệ theo độ tuổi ở 3 nhóm tuổi khi nói với:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×