Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nhóm 1: là nhóm mà các nhân tố tác động nhất đến giao tiếp người Việt gồm: tuổi, địa vị và giới.

Nhóm 1: là nhóm mà các nhân tố tác động nhất đến giao tiếp người Việt gồm: tuổi, địa vị và giới.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trong nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội, hai thuật ngữ này được sử dụng thay thế cho

nhau như R. Lakoff (1979) sử dụng sex and gender, Todd B. Kashdan và các cộng sự

(2009), Atefeh Yoosefvand (2014), Kolsoum Yusefi (2015) sử dụng gender. Trong tiếng

Việt, các nhà ngôn ngữ học như Vũ Thị Thanh Hương (1999), Vũ Tiến Dũng (2003), Lê

Hồng Linh (2010), Nguyễn Văn Khang (2012), Nguyễn Thị Trà My (2017) sử dụng giới

tính, Lương Văn Hy, Phạm Thị Hà (2013) sử dụng giới. Với nội hàm ý nghĩa phổ quát như

trên, trong nghiên cứu này, chúng tôi thống nhất sử dụng thuật ngữ giới tính.

Căn cứ và giới tính của người gia ân (NGA) và người hàm ân (NHA), chúng tơi phân

biệt các trường hợp:

- Giới tính của NGA: Nam, nữ

- Giới tính của NHA: Nam, nữ

1.2.4.2. Tuổi

Nếu như khi nghiên cứu về sự phân tầng trong sử dụng ngôn ngữ, ngôn ngữ học xã

hội đã rất thành công đối với nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngơn ngữ và giới, trong đó có

sự tác động của nhân tố giới trong giao tiếp thì về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tuổi, cụ

thể là sự tác động của nhân tố tuổi tới việc sử dụng các chiến lược cảm ơn trong tiếng Việt

hầu như chưa được chú ý, chính vì vậy chúng tơi muốn làm rõ vấn đề này.

Trong quan hệ xã hội, quan hệ già trẻ luôn được đặt trong các bối cảnh cụ thể dưới tác

động của nhân tố xã hội chi phối. Theo tác giả Nguyễn Văn Khang (2014), có hai loại tuổi

đó là: Tuổi nhìn nhận dựa vào sự phát triển của cơ thể người (còn gọi là tuổi đời) và tuổi

nhìn nhận theo sự từng trải về nghề nghiệp, cuộc sống (gọi là tuổi nghề.)

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm tuổi theo nghĩa thứ nhất, tức là

tuổi đời, theo sự phát triển của cơ thể người.

Căn cứ vào độ tuổi của các nghiệm viên, chúng tôi phân biệt các trường hợp: Cảm ơn

– hồi đáp cảm ơn với người lớn tuổi hơn, bằng tuổi và nhỏ tuổi hơn.

1.2.5. Một số vấn đề ngơn ngữ và văn hóa liên quan đến hành vi cảm ơn và hồi

đáp cảm ơn

Giao tiếp ngơn ngữ tự thân nó khơng chỉ thuộc về phạm trù ngơn ngữ, mà còn bao

hàm phương diện rộng hơn, đó là văn hóa. Văn hóa được coi là thứ chi phối tập



quán giao tiếp. Rất nhiều nghiên cứu về sự khác nhau trong văn hóa cho rằng, con người có

văn hóa khác biệt sẽ có những phong cách nói khác nhau. Rema và Sima (2011) cho rằng,

“sự khác biệt về phong cách nói là dấu hiệu khác nhau trong giá trị văn hóa” [125, tr.117], vì

thế con người có thể giao tiếp thành cơng nếu như họ hiểu được nền văn hóa xã hội của

nhau. Cùng một nội dung hay một vấn đề, nhưng khi giao tiếp, mỗi dân tộc lại có những

cách diễn đạt khác nhau. Một số dân tộc nghiêng về sử dụng lối nói trực tiếp, trong khi số

khác ưa chuộng cách nói gián tiếp hơn. Levine và Adelman (1993) cho rằng:“Người Mĩ có

thể đánh giá những ai đến từ nền văn hóa coi trọng lối nói gián tiếp (ví dụ, chần chừ, “vòng

vo Tam Quốc”, “không đi thẳng vào vấn đề”) là thiếu quyết đoán. Tuy nhiên, nhiều người

Mỹ trong giới doanh nhân khơng biết rằng phần lớn các nền văn hóa trên thế giới đều đề cao

tính gián tiếp và xem hành vi “đi thẳng vào vấn đề” là một sự khiếm nhã.”



[118, tr.70]



Trên thực tế, nhiều nghiên cứu về tần suất sử dụng cách nói trực tiếp và gián

tiếp trong tiếng Anh và tiếng Việt đã cho kết quả rằng, trong tiếng Anh sử dụng cách

nói trực tiếp nhiều hơn trong tiếng Việt. Những cách diễn đạt như: don't beat

around the bush (đừng vòng vo Tam Quốc), let's get down to the business (nói thẳng

vào vấn đề), let’s get straight to the point (đi thẳng vào vấn đề), out with it, speak up

(nói thẳng ra) ... là luận chứng cho quan điểm này.

Về vấn đề nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ dưới góc độ văn hóa, tác giả Đỗ Hữu

Châu cho rằng: “Bên cạnh những hành vi ngôn ngữ cần yếu cho giao tiếp ở tất cả các cộng

đồng ngôn ngữ trên thế giới, vẫn tồn tại những hành vi ngơn ngữ chỉ có trong nền văn hóa

này mà khơng tồn tại trong nền văn hóa khác (ví như hành vi “lì xì”, “mừng tuổi” ngày Tết,

hành vi “phỉ thui” trước lời nói gở của người Việt Nam). Quan trọng hơn nữa là động lực

và cách thức thực hiện những hành vi ngôn ngữ phổ quát vẫn bị chi phối bởi các nhân tố

văn hóa”.



[6, tr.16]



Đối với hành vi cảm ơn và hồi đáp cảm ơn cũng vậy, trong nhiều nền văn hóa, “Thank

you” (cảm ơn) thường khơng được dùng để bày tỏ sự biết ơn đối với các thành viên trong

gia đình về lòng tốt của họ, ví dụ như người Argentina, Puerto Rico hay người Trung Quốc

cho rằng các thành viên trong gia đình giúp đỡ nhau là để tạo sự gần gũi và gắn kết các

thành viên trong gia đình, điều được coi là vai trò xã hội của họ. Vì vậy, việc bày tỏ lòng

biết ơn trong những ngữ cảnh mà họ cho là



không phù hợp có thể bị coi là giữ khoảng cách, xúc phạm hoặc thô lỗ. Trong khi, lời cảm

ơn trực tiếp vẫn luôn được sử dụng trong mọi ngữ cảnh, mọi quan hệ của đời sống xã hội

của người bản ngữ nói tiếng Anh.

Tóm lại, giữa ngơn ngữ và văn hóa có một mối quan hệ mật thiết, ngôn ngữ là

công cụ của văn hố bởi vì khơng có ngơn ngữ thì khơng một hoạt động nào có thể

diễn ra được. Văn hóa chi phối mạnh mẽ mọi hành vi của con người trong xã hội

trong đó có các hành vi ngơn ngữ mà cụ thể là hành vi cảm ơn và hồi đáp cảm ơn.

Con người có văn hóa khác biệt sẽ có những phong cách nói khác nhau. Sự khác

biệt về phong cách nói là dấu hiệu của sự khác nhau trong giá trị văn hóa, vì thế

con người có thể giao tiếp thành công nếu như họ hiểu được ý nghĩa của kiến thức

văn hóa xã hội.

1.3. Tiểu kết chương 1

Ở chương 1, chúng tơi đã hệ thống hóa các cơ sở lý thuyết về hành vi ngôn ngữ trong đó

có hành vi cảm ơn và hồi đáp cảm ơn, lý thuyết hội thoại và lý thuyết ngôn ngữ học đối chiếu,

sự phân tầng trong ngôn ngữ học xã hội và một số vấn đề ngôn ngữ và văn hóa liên quan đến

hành vi cảm ơn và hồi đáp cảm ơn.

Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ, luận án dựa vào khung lý thuyết của hai tác giả Austin

(1962) và Searle (1969), đây cũng là những lý thuyết có ứng dụng rất lớn trong lĩnh vực

ngữ dụng học. Các khái niệm về HVNN, phân loại HVNN, HVNN trực tiếp, gián tiếp,

động từ ngữ vi, biểu thức ngữ vi … làm cơ sở cho việc đưa ra khái niệm, nhận diện, phân

loại HVCO và HĐCO trong nghiên cứu.

HVCO và HĐCO là một cặp thoại khơng thể tách rời, vì vậy, cặp trao đáp này phải

được đặt trong ngữ cảnh cụ thể. Việc tạo bối cảnh tự nhiên giúp cho việc nhận diện HVCO

và HĐCO được hiệu quả hơn.

Luận án đứng trên quan điểm của dụng học xã hội coi giới tính và tuổi là hai nhân tố

có ảnh hưởng lớn đến việc sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp.

Việc nghiên cứu hành vi ngơn ngữ nói chung cũng như hành vi cảm ơn và hồi đáp

cảm ơn nói riêng khơng thể đặt ngồi mối quan hệ giữa ngơn ngữ và văn hóa của hai cộng

đồng ngơn ngữ Anh và Việt, trong đó hai quốc gia với hai nền văn hóa



với những chuẩn mực xã hội khác nhau cũng có ảnh hưởng rất lớn đến mục đích, hiệu quả

sử dụng của hành vi cảm ơn và hồi đáp cảm ơn.

Các vấn đề nêu trên là cơ sở lí thuyết để luận án triển khai các nội dung nghiên cứu ở

các chương tiếp theo.



Chương 2

ĐỐI CHIẾU CÁC CHIẾN LƯỢC CẢM ƠN VÀ HỒI ĐÁP CẢM ƠN

TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

Trong chương này, chúng tơi phân tích và trình bày các kết quả miêu tả các chiến lược

và các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng để thực hiện hành vi cảm ơn và hồi đáp cảm ơn

trong tiếng Anh và tiếng Việt. Từ 15 bộ phim Mĩ (PhM), chúng tôi nhận diện được 240 cặp

cảm ơn và hồi đáp cảm ơn trong tiếng Anh và từ 20 bộ phim Việt Nam (PhV) có 169 cặp

cảm ơn và hồi đáp cảm ơn trong tiếng Việt được nhận diện. (Chi tiết xin xem ở Phụ lục 1)

Dựa vào Lí thuyết hành vi ngơn ngữ đã được trình bày ở Chương 1, chúng tôi chia

các lời cảm ơn thành hai loại: hành vi cảm ơn trực tiếp và hành vi cảm ơn gián tiếp. Dưới

đây, chúng tơi sẽ trình bày kết quả phân tích các chiến lược cảm ơn, hồi đáp cảm ơn và các

phương tiện ngôn ngữ được sử dụng để thực hiện các chiến lược đó. Trong mỗi chiến lược

(CL) lại được phân ra thành các tiểu chiến lược (TCL). Chúng tôi sử dụng hệ thống phân

loại các chiến lược cảm ơn của Cheng (2005) và hệ thống phân loại các chiến lược hồi đáp

cảm ơn của Jung (1994). Tuy nhiên, trong q trình phân tích tư liệu, chúng tơi có thay đổi

và bổ sung thêm những tiểu chiến lược cảm ơn và hồi đáp cảm ơn cho phù hợp với tư liệu

nghiên cứu của luận án.

2.1. Đối chiếu các chiến lược cảm ơn trong tiếng Anh và tiếng Việt

2.1.1. Chiến lược cảm ơn trực tiếp trong tiếng Anh và tiếng Việt

2.1.1.1. Chiến lược cảm ơn trực tiếp trong tiếng Anh

a. Cảm ơn bằng biểu thức ngữ vi có động từ ngữ vi “thank”

Trong tiếng Anh, biểu thức ngữ vi có động từ ngữ vi “”thank” được dùng để cảm ơn.

Tuy nhiên, biểu thức cảm ơn này còn có các thành phần mở rộng là các từ ngữ đi kèm để

nêu lí do, biểu thị sự lịch sự, nhấn mạnh mức độ cảm ơn ...

i. Cảm ơn bằng biểu thức ngữ vi có đủ ba thành phần chính là người hàm ân,

ĐTNV “thank” và người gia ân

(21). Vito nói với chú, người mà chăm sóc và coi cậu như con ruột.



 Vito: You've always been good to me, ever since I came here. You looked after

me like a father. I thank you. And I won't forget it.

(Từ lúc cháu đến đây, chú lúc nào cũng tốt với cháu. Chú lo cho cháu như một

người cha. Cháu cảm ơn chú. Cháu khơng qn điều đó đâu.)



[PhM2]



Qua ví dụ trên, biểu thức ngữ vi có ba thành phần chính được mơ hình hóa

như sau:

Sp1 + thank + Sp2.

Biểu thức cảm ơn trên gồm các thành phần chính trong câu là chủ ngữ (Sp1), động từ

ngữ vi “thank” và tân ngữ (Sp2). Tuy nhiên, trong tiếng Anh, ở HVCO trực tiếp, thành

phần chủ ngữ thường được lược bỏ khi dùng biểu thức cảm ơn có động từ ngữ vi “thank”.

(22). Joe tặng hoa cho Kathleen.



 Joe: I brought you flowers.

(Tôi mua hoa cho cô này.)

 Kathleen: Thank you.

(Cảm ơn.)



[PhM15]



ii. Cảm ơn bằng biểu thức ngữ vi có ba thành phần chính và lý do

(23). Chris Gardner đi tiếp thị ở bệnh viện, anh nói chuyện với bác sĩ.







Chris Gardner: Thank you for the opportunity to discuss it with you.

(Cảm ơn ông rất nhiều vì đã dành thời gian trao đổi với tơi.)



[PhM11]



Trong ngữ cảnh này, Christ cảm ơn bác sĩ đã dành thời gian nói chuyện với anh về sản

phẩm thuốc mà cơng ty anh bán. Các phát ngơn cảm ơn có chứa nhiều thành phần mở rộng,

thường có thành phần mở rộng là nêu lí do cảm ơn. NHA đề cập đến nội dung cảm ơn một

cách rõ ràng để NGA thấy rằng, NHA đã ghi nhận và đánh giá hành vi mà NGA đã làm cho

mình.

Như vậy, qua ví dụ trên, có thể mơ hình hóa biểu thức cảm ơn như sau:

Thank + Sp2 + for …

iii. Cảm ơn bằng biểu thức ngữ vi có ĐTNV “thank” và tên Sp2.

(24). Cuộc nói chuyện giữa chàng trai và cơ gái.



 Fin: Look, I won you a prize.



(Nhìn này, anh có phần thưởng dành cho em.)



 Allie: Oh, Fin, thank you!

(Ôi, Fin, Cảm ơn anh!)



[PhM9]



Nhân dịp hẹn gặp Fin đã tặng cho Allie một món q. Allie rất ngạc nhiên và vui

mừng vì hành động và tình cảm của Fin dành cho mình. Cơ ngay lập tức nói lời cảm ơn

Fin. Bằng việc gọi tên Fin trước khi nói lời cảm ơn, Allie thể hiện sự thân mật, thân

thiết trong mối quan hệ của mình với Fin.

Tên Sp2 có thể đứng đầu hoặc cuối phát ngơn, việc NHA gọi tên NGA khi

nói lời cảm ơn đã làm tăng sự thân mật trong mối quan hệ giữa NGA và NHA.

Từ ví dụ trên, biểu thức cảm ơn được mơ hình hóa như sau:

Sp2’s name, + thank + Sp2.

Trong tiếng Anh, ngoài động từ ngữ vi “thank” được sử dụng ở dạng cảm ơn trực

tiếp còn có động từ “appreciate” cũng có nghĩa thể hiện sự cảm kích, biết ơn ai đó,

thường được sử dụng trong văn phong trang trọng.

(25). Johnny và Mike (Michael) gặp và nói chuyện với nhau về cơng việc và

ơng Roth.



 Michael: Can I do anything or send anything?

(Tơi có thể làm gì để giúp các anh đây?)

 Johnny: We appreciate your concern, Michael, and your respect….

(Chúng tôi rất cảm ơn về sự quan tâm của anh, Michael. Cả sự tôn trọng của

anh nữa.)



[PhM2]



iv. Cảm ơn bằng biểu thức ngữ vi có ĐTNV “thank” và các từ ngữ biểu thị mức độ

lịch sự

Trong tiếng Anh, biểu thức cảm ơn trực tiếp có động từ ngữ vi “thank”, kết hợp với

các với các từ ngữ như: would like to, want to thank … để làm tăng thêm mức độ lịch sự.

(26). Tại cuộc họp.



 Ngài Chủ tịch: I would like to thank United Telephone and Telegraph for

their Christmas gift. A solid gold telephone.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhóm 1: là nhóm mà các nhân tố tác động nhất đến giao tiếp người Việt gồm: tuổi, địa vị và giới.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×