Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sp1: Có món quà tặng em này.

Sp1: Có món quà tặng em này.

Tải bản đầy đủ - 0trang

thành quan hệ giao tiếp có thể thân mật, gẫn gũi hay khách sáo quan cách, nhiệt tình hay hờ

hững…

Hồn cảnh giao tiếp: bao gồm hoàn cảnh giao tiếp rộng (tồn bộ những nhân tố xã

hội, địa lí, chính trị, kinh tế văn hóa, phong tục…tạo nên bối cảnh văn hóa của một đơn vị

ngơn ngữ) và hồn cảnh giao tiếp hẹp (nơi chốn, thời gian phát sinh câu nói cùng với

những sự việc, hiện tượng xảy ra xung quanh).

Ngữ huống: Là những thay đổi theo diễn biến của cuộc giao tiếp, có thể là thay đổi

đối tượng giao tiếp, kéo theo trạng thái tâm lí, trạng thái hiểu biết, ý đồ, chủ đề giao tiếp

thay đổi.

Để người nói tạo lập được những phát ngôn phù hợp và người nghe lĩnh hội đầy đủ,

thấu đáo ý nghĩa phát ngơn thì mỗi một nhân tố (ngữ cảnh) trên đóng một vai trò nhất định

trong q trình giao tiếp. Nó chính là môi trường sản sinh ra các phát ngôn giao tiếp, nó chi

phối cả nội dung và hình thức của phát ngôn.

Việc dùng từ trong một phát ngôn phải phù hợp về ngữ nghĩa và ngữ pháp với các từ

ngữ khác được dùng trong phát ngơn đó, phải phù hợp với quan hệ giữa người nói và

người nghe (về vị thế, về quan hệ thân sơ, trạng thái tâm lí…), phải phù hợp với cách

thức giao tiếp và tình huống giao tiếp cụ thể.

Như cùng một nội dung là cảm ơn người gia ân vì đã mời người nói ăn tối, nhưng nếu

đối tượng giao tiếp với người nói là bạn bè, có vị thế bình đẳng, ngang hàng, quan hệ thân

mật thì người nói có thể nói: “Mình/Tao/Tớ cảm ơn nhé.” thậm chí có thể nói trống khơng:

“cảm ơn.”, nhưng nếu người giao tiếp với người nói là người bề trên (trên về tuổi tác hoặc

địa vị ...) thì người nói lại phải thể hiện sự lễ phép, tơn trọng của mình: "Em (Cháu) cảm

ơn anh/chị (bác/cơ).” hay có thể sử dụng thêm những lời nói chêm xen, rào đón làm cho

cuộc giao tiếp tự nhiên hơn.

Muốn lĩnh hội chính xác, thấu đáo một phát ngơn nào đó người nghe cần căn cứ vào

ngữ cảnh. Phải đặt phát ngơn đó vào ngữ cảnh mà nó được sử dụng, gắn với từng tình

huống và diễn biến cụ thể để có thể phân tích, lí giải thấu đáo, hiểu cặn kẽ từng chi tiết về

nội dung và hình thức. Chẳng hạn cùng một câu nói: “Lần sau khơng phải mua nữa nhé.”

có thể mang nhiều hàm ý khác nhau, đó có thể là lời nhắc nhở, dặn dò của người nói với

người nghe đừng có mua, tốn kém hay có thể là



người nói đang bực tức nên tuyên bố với người nghe như vậy. Tuy nhiên, phát ngơn này

cũng có thể hiểu là một lời cảm ơn gián tiếp.

Do vậy, chính ngữ cảnh đã giúp ta hiểu được hàm ý của câu nói, tức cái ý nghĩa đích

thực mà người nói muốn truyền tải. Hành vi cảm ơn và hồi đáp cảm ơn cũng phải được đặt

vào ngữ cảnh để nhận diện.

1.2.2.5. Chiến lược cảm ơn và hồi đáp cảm ơn

Theo Từ điển tiếng Anh Oxford (2014), “Stratergy is a plan that is intended

to achieve a particular purpose” chiến lược là một kế hoạch được thực hiện nhằm

đạt được một mục đích cụ thể.



[122, tr.1596]



Theo Schneider (2005), “Mỗi hành vi có thể được thực hiện theo những cách khác

nhau trong bất kỳ ngơn ngữ nào được gọi là chiến lược. Vì vậy, chiến lược thực hiện là các

mơ hình cấu trúc và các phương tiện từ vựng và ngữ nghĩa có sẵn mà người nói lựa chọn để

thực hiện một hành vi cụ thể.”



[131, tr.101]



Một chiến lược được miêu tả như là một cách thức mà một hành vi ngôn ngữ cụ thể

được thực hiện bằng các phương tiện ngôn ngữ khác nhau. Đối với hành vi cảm ơn, ngoài

hành vi cảm ơn trực tiếp, người hàm ân có thể sử dụng nhiều hành vi ngôn ngữ khác nhau

như: khen ngợi, hứa hẹn trả nợ, hoặc thể hiện sự không cần thiết phải biết ơn ... để cảm ơn

người gia ân, đây là cảm hành vi cảm ơn gián tiếp. Người hàm ân cũng mong đợi người gia

ân đáp lại lòng biết ơn của mình và hành vi cảm ơn sẽ rất hiệu quả nếu người nhận lời cảm

ơn chấp nhận hoặc thừa nhận lòng biết ơn. Như vậy, để cảm ơn hay đáp lại lời cảm ơn thì

người hàm ân hay người gia ân phải xác định và lựa chọn các chiến lược cảm ơn và hồi đáp

cảm ơn, thông qua việc sử dụng phương tiện ngôn ngữ là các biểu thức ngữ vi hay các mơ

hình để thực hiện các chiến lược đó nhằm đạt được mục đích cảm ơn hay hồi đáp cảm ơn.

Trên thế giới, một số tác giả nghiên cứu về hành vi cảm ơn và đưa ra hệ thống các

chiến lược cảm ơn như: Eisentein &Bodman (1986, 1993), Aijmer (1996), Cheng (2005),

Schauer & Adolph (2006), Chang (2008) … và một số cơng trình nghiên cứu về hồi đáp

cảm ơn như của Coulmas (1981), Jung (1994), Aijmer (1996), Schneider (2005),

Dumitrescu (2006) … Trong nghiên cứu của mình, chúng



tơi dựa vào khung phân tích các chiến lược cảm ơn của Cheng (2005) và các chiến lược hồi

đáp cảm ơn của Jung (1994).

1.2.3. Một số vấn đề về ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu ngôn ngữ

Theo tác giả Lê Quang Thiêm (2005), trong ngôn ngữ học hiện đại, “so sánh đối chiếu

là phương pháp lấy đối tượng là hai hay nhiều ngôn ngữ để làm sáng tỏ những nét tương

đồng và dị biệt theo nguyên tắc đồng đại [63, tr.137]. Để thực hiện việc đối chiếu, cần có

tiêu chí và quy trình đối chiếu sau:

(i). Tiêu chí đối chiếu

Theo tác giả Bùi Mạnh Hùng (2008), trong đối chiếu ngôn ngữ, chỉ những đối tượng

tương đương với nhau mới có thể so sánh với nhau. Qua so sánh, đối chiếu, ta xác định

được những điểm giống nhau và khác nhau giữa các đơn vị hay cấu trúc ngôn ngữ tương

đương. Hành vi cảm ơn và hồi đáp cảm ơn trong tiếng Anh và tiếng Việt cũng có cách nói

tương đương, hay trong tiếng Anh có cách nói cảm ơn và hồi đáp cảm ơn mà trong tiếng

Việt không có, và ngược lại. Ví dụ, khi đáp lại ân huệ của người lớn tuổi, người trên quyền

hoặc trong những tình huống giao tiếp thân mật, thay vì dùng lời “cảm ơn”, người Việt

thường dùng những cách nói khác như: “Cháu xin bác”; “Chị chu đáo quá ạ”…

(ii). Các kiểu đối chiếu

Đối chiếu định tính: Là kiểu đối chiếu nhằm tìm ra những đặc điểm (những điểm

giống nhau và khác nhau) giữa các yếu tố ngôn ngữ tương đương của hai ngôn ngữ. Luận

án của chúng tôi sử dụng phương pháp đối chiếu này ở chương 2 nhằm tìm ra những tương

đồng và dị biệt của các chiến lược cảm ơn và hồi đáp cảm ơn thông qua các mô hình và các

từ ngữ được sử dụng trong tiếng Anh và tiếng Việt.

Đối chiếu định lượng: Là kiểu đối chiếu nhằm xác định những khác biệt về số lượng các

yếu tố ngơn ngữ xét theo một tiêu chí đối chiếu nào đó. Chúng tơi cũng sử dụng phương pháp

đối chiếu này trong chương 3 xét theo tiêu chí đối chiếu là nhân tố giới tính và tuổi nhằm

khảo sát xem sự khác biệt về tần suất sử dụng các chiến lược cảm ơn (CLCO) và chiến lược

hồi đáp cảm ơn (CLHĐCO) giữa các giới và các nhóm tuổi được sử dụng trong hai ngơn ngữ.



(iii). Quy trình đối chiếu

Dựa vào quy trình đối chiếu theo 3 bước của Bùi Mạnh Hùng (2008), quy trình đối

chiếu của luận án được thực hiện như sau:

Bước 1: Luận án sử dụng nguyên tắc miêu tả các chiến lược cảm ơn và hồi đáp cảm

ơn trong tiếng Anh và tiếng Việt.

Bước 2: Xác định các yếu tố tương đương để đối chiếu là các chiến lược cảm ơn và

chiến lược hồi đáp cảm ơn trong tiếng Anh và tiếng Việt.

Bước 3: Thực hiện đối chiếu các chiến lược cảm ơn và hồi đáp cảm ơn nhằm tìm ra

những điểm tương đồng và khác biệt trong hai ngôn ngữ. Đây là bước quan trọng nhất

trong q trình nghiên cứu đối chiếu.

Dựa vào mục đích và nhiệm vụ cụ thể, người nghiên cứu có thể lựa chọn cách đối

chiếu phù hợp đó là: Đối chiếu hai hay nhiều chiều và đối chiếu một chiều. Đối chiếu một

chiều là cách tiếp cận theo luật tương quan (Tertium comparationis), khơng có ngơn ngữ

nguồn và ngơn ngữ đích. Đối chiếu hai hay nhiều chiều là xem xét các hiện tượng được đối

chiếu của hai hay nhiều ngôn ngữ.

Luận án của chúng tôi đi theo hướng đối chiếu hai chiều, nhằm tìm ra những điểm

tương đồng và dị biệt về các chiến lược cảm ơn và hồi đáp cảm ơn trong hai ngôn ngữ Anh

– Việt.

1.2.4. Phân tầng xã hội và phân tầng ngôn ngữ học xã hội

Phân tầng là một hiện tượng xã hội loài người, được thể hiện rất đa dạng ở các quốc

gia khác nhau và những nền văn hóa khác. Tầng xã hội là tổng thể của mọi cá nhân trong

cùng một hoàn cảnh xã hội. Họ giống nhau hoặc bằng nhau về tài sản hay thu nhập, trình

độ học vấn hay văn hóa, về địa vị hay uy tín xã hội, khả năng thăng tiến trong thang bậc xã

hội.

Phân tầng xã hội là sự phân chia nhỏ xã hội, là sự phân chia xã hội thành các tầng xã

hội khác nhau về địa vị kinh tế, nghề nghiệp, học vấn, phong cách sinh hoạt, thị hiếu nghệ

thuật,…

Ngôn ngữ học xã hội sử dụng khái niệm phân tầng xã hội vào nghiên cứu việc sử

dụng ngôn ngữ. Ngơn ngữ có vai trò là tấm gương phản chiếu xã hội, là thước đo bản sắc,

là chỉ tố về sự ứng xử văn hóa của cộng đồng giao tiếp và của mỗi cá nhân.



Vì thế, ngơn ngữ sử dụng trong giao tiếp chịu sự chi phối của phân tầng xã hội.

Nói cách khác, trong xã hội nếu có sự phân chia con người thành các tầng lớp

khác nhau thì trong cách sử dụng ngơn ngữ giữa các nhóm người thuộc các tầng

xã hội riêng biệt đó cũng có những nét đặc trưng khác nhau [32, tr.71]. Như vậy có

thể thấy, giao tiếp của con người chịu tác động của các nhân tố xã hội, các nhân tố

đó là các nhân tố mà mỗi cá nhân đã có từ khi sinh ra như tuổi, giới, tôn giáo, vùng

miền… và các nhân tố tự có do sự phấn đấu hay năng lực của bản thân để có được

như học vấn, nghề nghiệp, địa vị, quyền lực… Các nhân tố này cho dù xét riêng rẽ

hay tổng hợp các nhân tố lại thì cũng đều được đặt trên trục tọa độ để xem xét, đó

là, sự biến đổi khơng gian và thời gian.

Có rất nhiều nhân tố tác động đến giao tiếp. Theo Nguyễn Văn Khang (2014),



các nhân tố đó được phân thành 3 nhóm các nhân tố từ mạnh đến yếu:

Nhóm 1: là nhóm mà các nhân tố tác động nhất đến giao tiếp người Việt gồm: tuổi, địa

vị và giới.

Nhóm 2: là nhóm mà các nhân tố tác động vừa phải đến giao tiếp người Việt gồm: nghề

nghiệp, vùng miền, học vấn.

Nhóm 3: là nhóm mà các nhân tố tác động ít đến giao tiếp người Việt gồm nhân tố thu nhập

và tôn giáo.



[32, tr. 77]



Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu về hai trong những nhân

tố ảnh hưởng nhất đến giao tiếp là giới tính và tuổi, đối chiếu sự ảnh hưởng của hai nhân

tố giữa người Mĩ nói tiếng Anh và người Việt.

1.2.4.1. Giới và giới tính

Có nhiều quan niệm về thuật ngữ giới tính và giới. Theo Hồng Phê (2018), trong

tiếng Việt, giới trong tiếng Việt được hiểu là “những lớp người trong xã hội được phân theo

một đặc điểm rất chung nào đó như về nghề nghiệp, địa vị xã hội.” , giới tính là “những đặc

điểm chung phân biệt nam và nữ, giống đực và giống cái, nói tổng quát.” [48, tr.510-511].

Ngồi ra giới tính còn có cách gọi: nam giới/ giới nam, nữ giới/giới nữ. Trong tiếng Anh, từ

sex tương đương với giới tính và gender là giới. Như vậy, giới được hiểu là thuật ngữ được

hiểu theo xã hội còn giới tính là thuật ngữ được hiểu xét về mặt sinh học.



Trong nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội, hai thuật ngữ này được sử dụng thay thế cho

nhau như R. Lakoff (1979) sử dụng sex and gender, Todd B. Kashdan và các cộng sự

(2009), Atefeh Yoosefvand (2014), Kolsoum Yusefi (2015) sử dụng gender. Trong tiếng

Việt, các nhà ngôn ngữ học như Vũ Thị Thanh Hương (1999), Vũ Tiến Dũng (2003), Lê

Hồng Linh (2010), Nguyễn Văn Khang (2012), Nguyễn Thị Trà My (2017) sử dụng giới

tính, Lương Văn Hy, Phạm Thị Hà (2013) sử dụng giới. Với nội hàm ý nghĩa phổ quát như

trên, trong nghiên cứu này, chúng tơi thống nhất sử dụng thuật ngữ giới tính.

Căn cứ và giới tính của người gia ân (NGA) và người hàm ân (NHA), chúng tôi phân

biệt các trường hợp:

- Giới tính của NGA: Nam, nữ

- Giới tính của NHA: Nam, nữ

1.2.4.2. Tuổi

Nếu như khi nghiên cứu về sự phân tầng trong sử dụng ngôn ngữ, ngôn ngữ học xã

hội đã rất thành công đối với nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngơn ngữ và giới, trong đó có

sự tác động của nhân tố giới trong giao tiếp thì về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tuổi, cụ

thể là sự tác động của nhân tố tuổi tới việc sử dụng các chiến lược cảm ơn trong tiếng Việt

hầu như chưa được chú ý, chính vì vậy chúng tơi muốn làm rõ vấn đề này.

Trong quan hệ xã hội, quan hệ già trẻ luôn được đặt trong các bối cảnh cụ thể dưới tác

động của nhân tố xã hội chi phối. Theo tác giả Nguyễn Văn Khang (2014), có hai loại tuổi

đó là: Tuổi nhìn nhận dựa vào sự phát triển của cơ thể người (còn gọi là tuổi đời) và tuổi

nhìn nhận theo sự từng trải về nghề nghiệp, cuộc sống (gọi là tuổi nghề.)

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm tuổi theo nghĩa thứ nhất, tức là

tuổi đời, theo sự phát triển của cơ thể người.

Căn cứ vào độ tuổi của các nghiệm viên, chúng tôi phân biệt các trường hợp: Cảm ơn

– hồi đáp cảm ơn với người lớn tuổi hơn, bằng tuổi và nhỏ tuổi hơn.

1.2.5. Một số vấn đề ngôn ngữ và văn hóa liên quan đến hành vi cảm ơn và hồi

đáp cảm ơn

Giao tiếp ngơn ngữ tự thân nó khơng chỉ thuộc về phạm trù ngơn ngữ, mà còn bao

hàm phương diện rộng hơn, đó là văn hóa. Văn hóa được coi là thứ chi phối tập



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sp1: Có món quà tặng em này.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×