Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bố cục của luận án

Bố cục của luận án

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chương 2: Đối chiếu các chiến lược cảm ơn và hồi đáp cảm ơn trong tiếng

Anh và tiếng Việt.

Chương này mơ tả và phân tích các chiến lược cảm ơn và hồi đáp cảm ơn trong tiếng

Anh và tiếng Việt, từ đó so sánh, đối chiếu những điểm tương đồng và khác biệt trong việc

sử dụng các chiến lược cảm ơn và hồi đáp cảm ơn về cấu trúc ngữ nghĩa.

Chương 3: Đối chiếu hành vi cảm ơn và hồi đáp cảm ơn trong tiếng Anh và

tiếng Việt từ góc độ giới tính và tuổi.

Chương 3 trình bày và phân tích các kết quả khảo sát phiếu Hồn thiện diễn ngơn để

tìm ra sự ảnh hưởng của nhân tố giới tính và tuổi đến việc sử dụng các chiến lược cảm ơn

và hồi đáp cảm ơn của người Mĩ nói tiếng Anh và người Việt.



Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở trên thế giới

Trên thế giới đã có một số cơng trình nghiên cứu hành vi cảm ơn và hồi đáp cảm ơn.

Các nghiên cứu này tập trung vào nghiên cứu hành vi cảm ơn và hồi đáp cảm ơn của người

bản ngữ nói tiếng Anh, hoặc là nghiên cứu hành vi cảm ơn của người phi bản ngữ nói tiếng

Anh, hoặc là nghiên cứu so sánh đối chiếu với một số ngôn ngữ khác, hay một số nghiên

cứu hành vi cảm ơn trong giao tiếp liên văn hóa. Nhưng dù theo hướng nào thì các nghiên

cứu đều tập trung vào hai nội dung lớn sẽ được chúng tôi điểm luận dưới đây.

i. Nghiên cứu việc sử dụng các chiến lược cảm ơn và hồi đáp cảm cảm ơn

Theo nội dung nghiên cứu này có cơng trình của Jung (1994) “Speech Acts of "Thank

You" and Responses to It in American English.” Tác giả nghiên cứu hành vi cảm ơn và hồi

đáp lời cảm ơn được sử dụng trong trong tiếng Anh – Mĩ. Để thu thập dữ liệu, phương pháp

chính được tác giả dùng là phương pháp dân tộc học của Hymes (1972), ngoài ra dữ liệu từ

văn bản và từ chương trình truyền hình cũng được sử dụng trong nghiên cứu.

Kết quả cho thấy, cảm ơn về cơ bản được sử dụng để bày tỏ sự cảm kích một ân huệ

và chức năng cơ bản này cũng được mở rộng thêm như: chức năng mở đầu cuộc hội thoại,

ngắt nghỉ, kết thúc cuộc thoại hay dùng để chào tạm biệt và trả lời khẳng định, những chức

năng này được ngầm ẩn trong lời cảm ơn. Như vậy, lời cảm ơn có thể mang nhiều hàm ý

trong những ngữ cảnh khác nhau.

Jung (1994) đã phân hồi đáp lời cảm ơn thành sáu loại: Chấp nhận (Acceptance);

Khước từ (Denial); Có đi có lại (Reciprocity); Bình phẩm (Comments); Cử chỉ phi ngôn từ

(Non-verbal gestures); Không đáp lại (No- response).

Mặc dù nghiên cứu đã đưa ra được một số kết quả, tuy nhiên, tác giả mới chỉ liệt kê ra

được những chức năng của cảm ơn và hồi đáp cảm ơn mà chưa đi sâu vào



phân tích và khơng đưa ra các mơ hình cảm ơn và hồi đáp cảm ơn. Dù vậy, sự phân loại hồi

đáp lời cảm ơn sẽ là những gợi ý về việc phân loại các chiến lược hồi đáp trong nghiên cứu

của chúng tôi.

Năm 1996, Aijmer tiến hành một nghiên cứu để khảo sát chức năng và các chiến lược

cảm ơn. Nghiên cứu của Aijimer dựa trên Bộ ngữ liệu hội thoại Anh ngữ London-Lund

Corpus. Tác giả đề cập cảm ơn như là một hành vi ngơn ngữ biểu cảm có “lực ngơn trung"

(illocutionary force) [70, tr.34]. Tác giả đã mã hóa được tám chiến lược cảm ơn và sáu

chiến lược hồi đáp cảm ơn. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng, dạng thức biểu đạt cảm ơn

được sử dụng thường xun nhất là thanks/thank you.

Cheng (2005) trong cơng trình “An exploratory cross-sectional study of interlanguage

pragmatic development of expressions of gratitude by Chinese learners of English” đã khảo

sát các chiến lược cảm ơn trong tiếng Anh và tiếng Trung Quốc. Dữ liệu được thu thập

bằng phiếu hồn thiện diễn ngơn (DCT) thơng qua tám tình huống. Có 152 nghiệm viên

tham gia được chia thành 5 nhóm, trong đó 3 nhóm là những người học tiếng Anh gồm:

Nhóm người học tiếng Anh thứ nhất (G1) bao gồm 14 sinh viên đang theo học kỳ đầu tiên

khóa sau đại học tại một trường đại học của Mĩ. Nhóm người học tiếng Anh thứ hai (G2)

gồm 23 sinh viên đã sống tại Mĩ được một năm. Nhóm người học tiếng Anh thứ ba (G3)

gồm 16 sinh viên đã sống tại Hoa Kỳ 4 năm trở lên. Hai nhóm còn lại là người bản ngữ

gồm: Nhóm người bản ngữ nói tiếng Trung (NSC) bao gồm 64 sinh viên cao học tại một

trường Đại học ở Đài Loan. Nhóm người bản ngữ nói tiếng Anh (NSE) gồm 35 sinh viên

cao học tại Đại học Iowa.

Các câu trả lời của các nghiệm viên được mã hóa thành tám chiến lược: Cảm ơn

(Thanking); Sự cảm kích (appreciation); Cảm xúc tích cực (Positive feelings); Xin lỗi

(Apology); Thừa nhận sự áp đặt (Recognition of imposition); Trả ân (Repayment); Các

chiến lược khác (Others); Hô ngữ (Alerters).

Tác giả sử dụng phương pháp mơ tả định lượng và phân tích T-test nhằm tìm ra sự

khác biệt về ngữ dụng học, đồng thời phân biệt hành vi cảm ơn giữa ba nhóm người học

tiếng Anh. Kết quả cho thấy, nhóm NSC và NSE có xu hướng sử dụng



các chiến lược cảm ơn khác nhau trong các tình huống khác nhau. Trong khi đó, cả ba

nhóm người học tiếng Anh đều có xu hướng sử dụng các chiến lược cảm ơn giống nhau,

ngoại trừ chiến lược Trả ân. Trong nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra mơ hình các chiến

lược cảm ơn khá đầy đủ. Tuy vậy, với số lượng 152 nghiệm viên tham gia khảo sát lại được

phân thành nhiều nhóm, dẫn đến sự chồng chéo khi phân tích dữ liệu. Hơn nữa, có những

nhóm số lượng nghiệm viên ít nên kết quả khảo sát sẽ khó đảm bảo độ tin cậy, xác thực.

Tác giả cũng chỉ mới dừng lại ở việc khảo sát các chiến lược cảm ơn mà không khảo sát

các chiến lược hồi đáp cảm ơn.

Farnia và Suleiman (2009) đã tiến hành một nghiên cứu thí điểm để khảo sát các chiến

lược bày tỏ lòng biết ơn của người Iran học tiếng Anh. Đối tượng tham gia nghiên cứu bao

gồm: học viên Iran học tiếng Anh và người bản ngữ nói tiếng Anh. Đối với nghiệm viên là

người Iran được chia làm hai nhóm: trình độ trung cấp và trình độ cao, mỗi nhóm 10 người.

Đối với người bản ngữ, gồm 10 người bản ngữ nói tiếng Farsi được lựa chọn từ những sinh

viên đại học tại Iran, và 10 người bản ngữ nói tiếng Anh là những sinh viên người Mĩ. Các

nghiệm viên được phát phiếu câu hỏi diễn ngôn DCT gồm 14 câu hỏi. Sau khi thu thập số

liệu, các câu trả lời được mã hóa dựa vào tám chiến lược cảm ơn của Cheng (2005).

Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng, người bản ngữ nói tiếng Farsi sử dụng chiến lược

cảm ơn rất khác so với người bản ngữ nói tiếng Anh. Người Iran sử dụng nhiều chiến lược

cảm ơn hơn người Mĩ. Tuy nhiên, ngoại trừ chiến lược thừa nhận sự hàm ân và cảm xúc

tích cực thì khơng có khác biệt nào đáng kể trong việc sử dụng các chiến lược cảm ơn giữa

người bản ngữ nói tiếng Anh và người bản ngữ nói tiếng Farsi. Tương tự, khơng có khác

biệt đáng kể nào trong việc sử dụng các chiến lược cảm ơn giữa hai nhóm học ngoại ngữ ở 2

trình độ là trung cấp và trình độ cao. Các kết quả này cho thấy, trình độ và sự thơng thạo

ngoại ngữ khơng ảnh hưởng đến việc sử dụng các chiến lược bày tỏ lòng biết ơn bằng tiếng

Anh của các nhóm nghiệm viên.

Mặc dù nghiên cứu cũng chỉ ra được một số kết quả có ý nghĩa, nhưng do số lượng

nghiệm viên tham gia khảo sát tương đối ít nên khơng bảo đảm tính đại diện, khơng thể áp

dụng chung cho tất cả học viên Iran khác. Vì vậy, kết quả nghiên cứu khó đảm bảo sức

thuyết phục.



Çiğdem và cộng sự (2010) thực hiện nghiên cứu các chiến lược bày tỏ lòng biết ơn của

những người nói tiếng Anh trình độ cao là người Thổ Nhĩ Kỳ và người Iran. Nghiên cứu sử

dụng phiếu câu hỏi diễn ngôn của Cheng (2005) để thực hiện khảo sát thơng qua 8 tình

huống. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy, cả người Thổ Nhĩ Kỳ và người Iran nói tiếng Anh

đều sử dụng hầu hết các chiến lược giống như tám chiến lược cảm ơn của Cheng (2005) để

thể hiện lòng biết ơn. Tuy nhiên, độ dài của câu nói thì lại có phần khác nhau, người bản ngữ

nói tiếng Anh sử dụng số lượng từ ít nhất, trong khi đó, độ dài câu nói của sinh viên Thổ Nhĩ

Kỳ nhiều hơn so với sinh viên Iran. Dựa vào các tình huống khảo sát, tác giả cho rằng, người

Thổ Nhĩ Kỳ và người Iran ưa sử dụng những lời cảm ơn trau chuốt hơn để bày lòng biết ơn.

Reza và Sima (2012) trong nghiên cứu “Cross-cultural Comparison of Gratitude

Expressions in Persian, Chinese and American English” đã so sánh các chiến lược bày tỏ

lòng biết ơn của người người Ba Tư, người Trung Quốc học tiếng Anh và người bản ngữ

nói tiếng Anh. Những người tham gia được u cầu hồn thành phiếu câu hỏi diễn ngơn

(DCT) dựa vào các tình huống của Eisenstein và Bodman (1993) và áp dụng tám chiến

lược cảm ơn của Cheng (2005). Kết quả cho thấy, mặc dù chiến lược cảm ơn dùng động từ

ngữ vi “thank” là chiến lược được ưa sử dụng nhất trong cả ba nhóm, nhưng người Ba Tư

học tiếng Anh sử dụng chiến lược thể hiện cảm giác tích cực nhiều hơn người Trung Quốc

và người bản ngữ nói tiếng Anh. Điều đó có thể là do họ muốn giữ thể diện của mình. Vì

vậy, để thể hiện lịch sự, người Ba Tư thường dịch dựa theo những cơng thức ngữ nghĩa,

theo văn hóa của họ sang ngơn ngữ đích. Do việc chuyển di văn hóa khơng phù hợp này

gây ra sự hiểu nhầm cho người bản ngữ nói tiếng Anh. Như vậy, việc xác định cảm ơn vì

điều gì và cảm ơn ai cũng có sự khác biệt giữa người bản ngữ nói tiếng Anh và người

Trung Quốc. Người bản ngữ nói tiếng Anh coi mọi người là bình đẳng và việc bày tỏ lòng

biết ơn sẽ được thể hiện như nhau trong mọi tình huống mà họ cần giúp đỡ, đề nghị và sử

dụng dịch vụ. Trong khi đó, người Trung Quốc có xu hướng cảm ơn tới những ai giúp đỡ

họ nhiều lần.

Farenkia (2012) khảo cứu các chiến lược mà người Canada nói tiếng Anh sử dụng để

đáp lại lời cảm ơn dựa vào sự phân loại hồi đáp lại lời cảm ơn của Aijmer



(1996). Kết quả cho thấy, người tham gia sử dụng năm chiến lược khác nhau, trong đó

chiến lược giảm thiểu ân huệ được sử dụng thường xuyên nhất. Chiến lược này chủ yếu

được lựa chọn trong mối quan hệ là bạn thân và khi nói với người lạ. Kết quả này cũng cho

thấy, người nói tiếng Anh Canada dường như có cùng lựa chọn với người nói Tiếng Anh

Mỹ, tiếng Anh Ailen và tiếng Anh Anh khi đáp lại lời cảm ơn. Về độ dài của câu nói để đáp

lại lời cảm ơn, kết quả cho thấy rằng những người tham gia có xu hướng sử dụng những

câu nói đơn giản khi đáp lại lời cảm ơn thay vì những câu nói phức tạp.

ii. Nghiên cứu các nhân tố chi phối hành vi cảm ơn và hồi đáp cảm ơn

Nghiên cứu của Cheng (2005) cho thấy, các biến ngữ cảnh như địa vị xã hội, mức độ

thân quen và mức độ áp đặt có ảnh hưởng đáng kể đến tần suất sử dụng các chiến lược cảm

ơn của người học tiếng Anh. Tuy vậy, hạn chế của nghiên cứu là khơng tính đến yếu tố giới

tính và tuổi tác xem hai nhân tố này có ảnh hưởng như thế nào đến việc thể hiện lòng biết

ơn.

Trong nghiên cứu “Expressing Gratitude in American English”, Eisenstein và

Bodman (1986) đã khảo sát 14 tình huống, 7 tình huống đầu tiên được thử nghiệm với 56

người Mĩ bản địa nói tiếng Anh sau đó điều chỉnh 7 tình huống còn lại và thử nghiệm với

67 người phi bản ngữ ở các lớp học tiếng Anh đến từ năm quốc gia, Trung Quốc, Hàn

Quốc, Nhật bản, Nga và Tây Ban Nha. Các tác giả cho rằng, mẫu ngôn ngữ sử dụng trong

giao tiếp giữa những người có địa vị xã hội khơng bằng nhau hoặc bằng nhau đều giống

nhau. Tuy nhiên, các tác giả cũng thấy rằng việc cảm ơn đã bị hạn chế, hoặc không được

trau chuốt trong những trường hợp những người đối thoại không cùng địa vị xã hội, trong

khi việc bày tỏ lòng biết ơn giữa những người bạn lại thể hiện lời cảm ơn khơng chỉ mang

tính khn mẫu mà còn thể hiện sự chu đáo, kỹ càng. Nghiên cứu cho thấy người bản ngữ

nói tiếng Anh thể hiện hành vi cảm ơn một cách thống nhất trong các ngữ cảnh cụ thể.

Nghiên cứu cũng cho thấy, hành vi cảm ơn là một hành vi phức hợp, có thể bao hàm

cả những cảm nghĩ tích cực và tiêu cực về phía người gia ân và người hàm ân, là một hành

vi đe dọa thể diện cho thấy người nói ghi nhận mình đã nợ người nghe một ân huệ, điều

này hạ thấp thể diện của người nói. Bản chất của lời cảm ơn,



vừa tạo nên sự thân ái giữa những người đối thoại, lại vừa có thể đe dọa thể diện của

người nói.

Tedjaatmadja và cộng sự (2011) nghiên cứu các chiến lược bày tỏ lòng biết ơn của

người bản ngữ nói tiếng Anh (người Mĩ) và người phi bản ngữ nói tiếng Anh là người

Indonesia gốc Hoa ở Subaraya. Số liệu được thu thập từ các câu hỏi trong 24 tình huống

với bốn mối quan hệ là người lạ, sếp/ cấp trên, bạn bè, các thành viên trong gia đình/ bạn

thân. Nghiên cứu đã sử dụng khung phân tích của Havekate (1984) về tám chiến lược bày

tỏ lòng biết ơn để phân tích dữ liệu. Kết quả cho thấy, cả người Mĩ và người Indonesia gốc

Hoa phần lớn đều sử dụng cách nói thẳng, trực tiếp trong việc bày tỏ lòng biết ơn, thậm chí

người Indonesia gốc Hoa sử dụng các cách thức nói thẳng và dứt khốt khi được tặng quà,

nhận lời khen, sự giúp đỡ hay nhận một ân huệ cho dù lớn hay là nhỏ với tần suất nhiều

hơn cả người Mĩ. Điều này cũng cho thấy đặc điểm sắc tộc không phải là nhân tố duy nhất

ảnh hưởng đến việc bày tỏ lòng biết ơn, thay vào đó là các nhân tố khác, cụ thể là việc tiếp

xúc ngôn ngữ (language exposure) hay thể hiện thái độ đối với cả hai nền văn hóa cũng

đóng vai trò rất quan trọng. Cách thể hiện lòng biết ơn bằng tiếng Anh của người Mĩ và

người Indonesia gốc Hoa: theo từng thời điểm đã được nghiên cứu cũng đã thay đổi do sự

chuyển di văn hóa.

Nghiên cứu về ảnh hưởng của khoảng cách xã hội và mức độ hàm ơn, Vajiheh và

Abbas (2011) đi sâu vào phân tích ảnh hưởng của hai biến xã hội (social variable) là

khoảng cách xã hội và mức độ hàm ơn nhằm tìm ra những chiến lược mà người nói tiếng

Anh bản địa và người Ba Tư học tiếng Anh sử dụng để bày tỏ lòng biết ơn trong các tình

huống khác nhau, từ đó rút ra những điểm khác biệt giữa hai nền văn hố, hai ngơn ngữ.

Nghiên cứu được thực hiện với sự tham gia của 75 sinh viên cùng độ tuổi đến từ khoa tiếng

Anh, trường Đại học Isfahan và 24 sinh viên người Mĩ. Các tác giả sử dụng phiếu hồn

thiện diễn ngơn (DCT) nhằm thu thập ngữ liệu nhằm tìm hiểu cách đáp lời cảm ơn bằng lời

nói trong các tình huống khác nhau của người tham gia. Kết quả cho thấy, người Ba Tư và

người bản ngữ nói tiếng Anh đã có những phản hồi rất đa dạng. Do ảnh hưởng bởi các yếu

tố xã hội nên sinh viên Ba Tư đã diễn đạt lời cảm ơn bằng tiếng Anh không phù hợp,

không



giống với tiếng Anh bản ngữ. Điều đó chứng tỏ người Ba Tư học tiếng Anh đã chuyển một

phần quy tắc ngữ dụng từ ngôn ngữ mẹ đẻ sang tiếng Anh, vì họ tưởng những quy tắc đó

mang tính phổ cập với tất cả các ngơn ngữ.

Ngoài ba nhân tố chi phối hành vi cảm ơn được các nhà ngơn ngữ học nghiên cứu ở

trên, thì giới tính cũng là một nhân tố quan trọng thể hiện sự khác nhau trong biệc bày tỏ

lòng biết ơn và hồi đáp cảm ơn. Nghiên cứu nhân tố này có các cơng trình của Reza và

Sima (2011) và Cui (2012). Kết quả của hai nghiên cứu đều cho thấy, đối với nhóm nguời

phi bản ngữ nói tiếng Anh thì nữ giới sử dụng các cách bày tỏ lòng biết ơn thường xuyên

hơn nam giới. Ngoài ra, trong nghiên cứu của mình, Cui (2012) còn chỉ ra rằng nữ giới nói

lời cảm ơn dài hơn so với nam giới.

Trong nghiên cứu của mình, Farashaiyan và Hua (2012) đã miêu tả và so sánh các

chiến lược bày tỏ lòng biết ơn của sinh viên người Iran học tiếng Anh và sinh viên người

Malaysia sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai trong các tình huống khác nhau. Nghiên

cứu đã sử dụng Phiếu câu hỏi diễn ngôn (DCT) để khảo sát 20 sinh viên người Iran và 20

sinh viên người Malaysia. Các nhân tố xã hội cũng được khảo sát qua hai nhóm tham gia

nghiên cứu là: địa vị xã hội, mức độ áp đặt và giới tính. Các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra

những tương đồng và khác biệt về các chiến lược bày tỏ lòng biết ơn của sinh viên người

Iran và Malaysia, điều này phản ánh sự khác biệt trong giá trị và quy tắc văn hóa của hai

nền văn hóa khơng phải là nền văn hóa phương Tây. Kết quả nghiên cứu cũng đã chứng

minh yếu tố ngữ cảnh và giới tính có ảnh hưởng đáng kể đến các chiến lược và tần suất sử

dụng các chiến lược bày tỏ lòng biết ơn. Các tác giả cho rằng, sự khác nhau về giới dẫn

đến sự khác nhau trong việc sử dụng ngôn ngữ, cả nam giới người Iran và người Malaysia

đều sử dụng nhiều chiến lược cảm hơn so với nữ giới. Tuy vậy, cũng giống như một số

cơng trình khác, số lượng nghiệm viên tham gia trong nghiên cứu này khá hạn chế, mỗi

ngôn ngữ chỉ có 20 người.

Cơng trình của Kolsoum (2015) và các cộng sự nghiên cứu về việc sử dụng các chiến

lược cảm ơn của người nói tiếng I-ran ở Ilam dựa vào giới tính và tuổi. Kết quả nghiên cứu

cho thấy, giới tính và tuổi khơng ảnh hưởng đến việc sử dụng các chiến lược cảm ơn của

người nói tiếng I-ran ở Ilam. Có thể thấy, đây là nghiên



cứu đầy đủ về cả hai nhân tố giới tính và tuổi, tuy nhiên nghiên cứu này chỉ giới hạn ở

chiến lược cảm ơn và các tác giả cũng không đưa ra được các biểu thức ngôn ngữ cảm ơn

trong mỗi chiến lược.

1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, hành vi cảm ơn đặc biệt là hồi đáp cảm ơn hiện nay chưa được nghiên

cứu sâu rộng. Có một số cơng trình nghiên cứu liên quan đến hành vi cảm ơn và hồi đáp

cảm ơn một cách thuần Việt hay nghiên cứu theo hướng đối chiếu tiếng Việt với ngôn ngữ

khác, cụ thể được chúng tôi tổng hợp theo các nội dung nghiên cứu sau đây:

i. Nghiên cứu về nghi thức lời nói

Cơng trình đầu tiên theo hướng nghiên cứu này có thể kể đến luận án Phó tiến sĩ của

Phạm Thị Thành (1995). Tác giả nghiên cứu về “Nghi thức lời nói tiếng Việt hiện đại qua

các phát ngơn: chào, cảm ơn, xin lỗi”. Tác giả phân loại các phát ngơn có hành vi cảm ơn

dựa vào nghĩa biểu hiện thành hai loại phát ngôn: Phát ngôn tường minh và phát ngôn hàm

ẩn, mỗi loại phát ngôn, tác giả đưa ra những cấu trúc cụ thể. Các phát ngôn cảm ơn được

biểu hiện một cách tường minh gồm bốn cấu trúc: cảm ơn, cảm ơn đối tượng giao tiếp ạ,

xin có lời cảm ơn đối tượng giao tiếp, chủ thể giao tiếp xin gửi đến đối tượng giao tiếp lời

cảm ơn. Các phát ngôn cảm ơn được biểu hiện một cách hàm ẩn gồm năm cấu trúc: cấu

trúc khẳng định, cấu trúc băn khoăn, cấu trúc khen: Đối tượng giao tiếp + tính chất + quá!,

cấu trúc tiếp nhận: Chủ thể giao tiếp xin đối tượng giao tiếp, Chủ thể giao tiếp sẽ không

quên ơn đối tượng giao tiếp.

Nguyễn Văn Lập (2005), trong luận án tiến sĩ đã phân loại nghi thức lời nói trong tiếng

Việt thành những hành vi như: hành vi thu hút sự chú ý, hành vi chào hỏi… và hành vi cảm

ơn được tác giả phân loại dựa theo bốn tiêu chí sau:

Đối với sự hàm ơn nhỏ: người hàm ân thường sử dụng động từ ngữ vi “cảm ơn” để

bày tỏ lòng biết ơn đối với người gia ân.

Đối với sự hàm ơn lớn: người hàm ân thường sử dụng động từ ngữ vi “đội ơn, đa tạ,

cảm tạ, biết ơn, tri ân” để bày tỏ lòng biết ơn đối với người gia ân.



Cảm ơn về lời mời, lời tặng: người hàm ân thường sử dụng động từ ngữ vi “xin” để

đáp lại ân huệ của người gia ân.

Cảm ơn để từ chối lịch sự: người hàm ân thường sử dụng động từ ngữ vi “cảm ơn”.

Luận án tiến sĩ của Huỳnh Thị Nhĩ (2010) nghiên cứu về nghi thức lời nói tiếng Anh

Mỹ hiện đại qua các phát ngôn: Chào, cảm ơn và xin lỗi. Tác giả đã chỉ ra sự tương

đồng phát ngôn cảm ơn trong tiếng Anh – Mĩ và tiếng Việt về tình huống cảm ơn, về

chiến lược cảm ơn, về cấu trúc của phát ngôn cảm ơn và chỉ ra những khác biệt trong

cấu trúc của phát ngôn cảm ơn giữa hai ngôn ngữ. Trong tiếng Việt, thường xuất hiện

những bộ phận đứng trước như: xin, cho tôi được, thành thật ... hoặc làm tăng thêm

thái độ lịch sự, thành khẩn, biết ơn của người nói khi dùng các phó từ tình thái chỉ mức

độ cao như: thật, thật là, rất, rất là. Theo tác giả, người Việt thường khơng sử dụng

phát ngơn cảm ơn chính danh một cách tường minh trong mối quan hệ thân mật, thay

vào đó sử dụng các ngữ đoạn hàm ẩn như: khách sáo q, bày vẽ làm gì, vẽ chuyện…

Trong khi đó, người Mĩ thường xuyên sử dụng các phát ngôn cảm ơn mang nghĩa tường

minh trong các tình huống hằng ngày nhằm thể hiện sự lịch sự trong văn hóa của một

cộng đồng hay của xã hội thông qua những cấu trúc phát ngôn cảm ơn ở dạng vô nhân

xưng như: Thank

you (for), Many thanks (for), That’s very kind of you, …

Ba nghiên cứu trên của các tác giả Phạm Thị Thành (1995), Nguyễn Văn Lập (2005),

Huỳnh Thị Nhĩ (2010) đều đã đưa ra những cấu trúc và đã phân tích hành vi cảm ơn khá

khái quát và cụ thể. Tuy nhiên, các tác giả không đi sâu vào nghiên cứu hành vi cảm ơn mà

chỉ đề cập đến như một phần nội dung nhỏ hay lồng ghép nghiên cứu với các nghi thức

khác. Trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Lập và Huỳnh Thị Nhĩ có nêu ra tình huống sử

dụng cấu trúc có chứa hành vi cảm ơn và hồi đáp cảm ơn nhưng khơng đi vào phân tích cụ

thể.

Lê Tuyết Nga (2010), nghiên cứu các phát ngôn cảm ơn trong tiếng Việt đối chiếu với

tiếng Đức. Tác giả cho rằng cả hai ngôn ngữ, tiếng Việt và tiếng Đức đều có một lượng

phát ngơn cảm ơn phong phú, đa dạng với nhiều cấu trúc khác nhau để biểu đạt các nghĩa

tình huống và sắc thái biểu cảm. Cũng như một số nghiên cứu nêu trên, nghiên cứu này

cũng chỉ ra được sự khác biệt rõ nhất là người Việt ưa



cách nói hàm ẩn, gián tiếp. Trong khi đó, để thể hiện tính lịch sự, người Đức thường xuyên

sử dụng lời nói cảm ơn trực tiếp.

ii. Nghiên cứu việc sử dụng các chiến lược cảm ơn và hồi đáp cảm ơn

Nghiên cứu về cảm ơn và hồi đáp cảm ơn có luận văn thạc sĩ của Ngơ Hữu Hồng

(1998), tác giả nghiên cứu về các mơ hình cảm ơn và hồi đáp cảm ơn theo hướng giao tiếp

liên văn hóa. Nghiên cứu được thực hiện với 100 người là người bản ngữ nói tiếng Anh và

người Việt thơng qua việc trả lời bảng hỏi. Kết quả cho thấy, mặc dù có sự khác nhau về

nghề nghiệp, giới tính, tình trạng hơn nhân, … hoặc có mối quan hệ thân quen hay xa lạ,

người bản ngữ nói tiếng Anh có xu hướng sử dụng cách nói cảm ơn trực tiếp nhiều hơn

cách nói gián tiếp trong hầu hết các tình huống. Người Việt lại ưa lựa chọn cách nói cảm ơn

gián tiếp trong các tình huống và các mối quan hệ. Người Việt cho rằng, lời nói cảm ơn

trực tiếp nên được sử dụng trong những trường hợp đặc biệt, quan trọng tùy thuộc vào ân

huệ, sự giúp đỡ, vai trò, mức độ thân quen,… của người đối thoại.

Trong tiếng Anh, cũng giống như mơ hình cảm ơn, hồi đáp cảm ơn cũng được quy ước

mang tính cơng thức. Kết quả nghiên cứu của Ngơ Hữu Hồng đã tổng hợp được 5 cách diễn

đạt mà tác giả coi như là những chiến lược đáp lại lời cảm ơn là: Chấp nhận lời cảm ơn bằng

cách phủ nhận hoặc từ chối ân huệ; Chấp nhận lời cảm ơn bằng cách thể hiện sự sẵn lòng; Im

lặng; Cảm ơn lại; Thay đổi chủ đề.

Mặc dù, cơng trình này cũng đã đưa ra được các biểu thức cảm ơn và các biểu thức

đáp lại lời cảm ơn, tuy nhiên đây chỉ là cơng trình nghiên cứu ở bậc thạc sĩ theo hướng liên

văn hóa, tác giả phần lớn mới chỉ đưa ra được những biểu thức mà chưa đi sâu vào phân

tích. Hơn nữa, nghiên cứu chỉ sử dụng một loại ngữ liệu là bảng hỏi nên việc nghiệm viên

trả lời sẽ thụ động, chưa bắt nguồn từ cơ sở thực tế sử dụng ngôn ngữ.

Tác giả Nguyễn Thị Lương (2010), Lương Hinh (2010), giới thiệu một cách khái quát

các hình thức cảm ơn trực tiếp, cảm ơn gián tiếp của người Việt trên phương diện ngữ

pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của các hình thức cảm ơn bằng lời.

Nghiên cứu theo hướng ngữ dụng có cơng trình của Nguyễn Thị Mến (2012), tác giả

phân loại các chức năng ngữ dụng của lời cảm ơn trong tiếng Việt thành bốn



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bố cục của luận án

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×