Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Căn cứ đề tài:

Căn cứ đề tài:

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đề tài: Phương pháp sử dụng và khai thác tranh minh họa trong môn ngữ văn lớp 6.



- Thứ ba: Chương trình tập làm văn 6 đi sâu vào hai phương thức biểu đạt

chính là tự sự và miêu tả. Để giúp các em nắm vững được hai phương thức đó, ngữ

văn 6 đã đưa các văn bản thuộc thể loại truyện: truyện dân gian (Truyền thuyết, cổ

tích, ngụ ngơn, truyện cười) hoặc truyện ngắn hiện đại (đoạn trích) và thơ, lựa chọn

những văn bản nổi bật nhất, tiêu biểu nhất. Đối tượng phản ánh của những văn bản

ngữ văn đó là các nhân vật (trong truyện cổ tích hoặc truyện hiện đại), các phong cảnh

thiên nhiên tươi đẹp hùng vĩ của đất nước. Hình ảnh cuộc sống lao động khẩn trương,

hồ hởi của nhân dân, những biểu tượng đẹp về con người, những hiện tương, sự vật

gần gũi quen thuộc với các em...tất cả những cái đó đều dễ hiểu và dễ thể hiện bằng

hình ảnh, đường nét, màu sắc của hội họa. Lợi thế của ngữ văn 6 là nội dung gắn với

hình ảnh hoặc biểu tượng.

- Thứ tư: Cách cảm thụ của học sinh lớp 6 mang tính đơn giản, cảm tính. Các

em cảm thụ về tác phẩm, về nhân vật không phải bằng sự chiêm nghiệm, sự suy ngẫm

sâu sắc mà bằng tình cảm giản dị, trong sáng, chân thành. Các em thích các nhân vật

hiền lành,tốt bụng, tài giỏi, ghét các nhân vật độc ác, xấu xa. Trong tưởng tượng của

các em, các nhân vật tốt bao giờ cũng đẹp như Sơn Tinh, Lang Liêu, Thánh Gióng, Sọ

Dừa, Thạch Sanh... còn các nhân vật đại diện cho cái ác bao giờ cũng xấu như: Thủy

Tinh, Lý Thông, Mụ vợ ông lão đánh cá...và đã được các họa sĩ thể hiện các nhân vật

theo đúng xu hướng. Qua các tranh minh họa không chỉ giúp các em nắm vững nội

dung cơ bản của tác phẩm mà còn góp phần giáo dục tư tưởng, tình cảm cho các em.

Như vậy căn cứ vào các cơ sở trên, đề tài sẽ trình bày các giải pháp tháo gỡ một

số khó khăn đối với người dạy và học ngữ văn 6 hiện nay, như: học sinh không hứng

thú, mất tập trung trong giờ học và chất lượng học môn ngữ văn thấp; giáo viên gặp

nhiều hạn chế khi trình bày; vận dụng kiến thúc đã học vào thực tiễn.

3. Giải pháp

Văn học là một kết cấu nghệ thuật tinh tế, có sự kết hợp giữa khách quan phản

ánh và chủ quan biểu hiện của tác giả. Bằng ngôn ngữ và qua những ấn tượng, cảm

giác ngôn ngữ mang đến (hình ảnh minh họa), các văn bản có khả năng tái hiện một

cách sinh động, gợi cảm, cụ thể một hiện thực khách quan. Qua nội dung văn bản và

hình ảnh minh họa, học sinh có thể tái hiện rất sinh động các nhân vật trong tác phẩm.

Ví dụ: qua tranh ảnh, học sinh dễ dàng nhận thấy một chú Dế Mèn thanh niên,

cường tráng, tính cách có nhiều thói xấu nhưng cũng có những nét đáng u. Từ đó,

hình thành thái độ của học sinh với nhân vật Dế Mèn: phê phán Dế Mèn ở một số thói

quen như hung hăng, hống hách, sốc nổi, trân trọng Dế Mèn ở những nét tính cách

đáng u: chịu khó, u lao động, ưa độc lập, biết nhận ra lỗi lầm và biết lập cơng

chuộc tội; Hoặc qua hình ảnh cơ bé Kiều Phương đang vẽ, học sinh không chỉ biết

được những nét đáng yêu của cô bé: nghịch ngợm, ưa lục lọi và có khả năng hội họa

mà còn cảm được ý nghĩa xâu xa của tác phẩm, không phải bằng tài năng mà chính

tình cảm trong sáng và lòng nhân hậu của cơ em gái đã cảm hóa được người anh. Từ

đó, các em có thể rút ra những thái độ sống với những người xung quanh.

Người viết: Nguyễn Thị Hoài Tâm



Trang 6



Đề tài: Phương pháp sử dụng và khai thác tranh minh họa trong môn ngữ văn lớp 6.



Các văn bản trong chương trình ngữ văn 6 đều được chọn lọc rất kỹ, các tác

phẩm thường là đại diện tiêu biểu cho một sự vật, sự việc hoặc hiện tượng nổi bậc, đặc

sắc. Nó giúp học sinh nhận thức cuộc sống, đưa đến những bài học, những suy tưởng,

những cảm xúc thẩm mỹ cao đẹp, sâu lắng trong tâm hồn, tình cảm con người. Những

điều này phụ thuộc rất nhiều vào bề dày vốn sống, tri thức, kinh nghiệm sống của mỗi

cá nhân...do vậy tiếp nhận văn là một hệ thống mở và kết quả tiếp nhận văn bản ở mỗi

học sinh có thể khác nhau thậm chí có nhiều mới lạ chưa hẳn trùng hợp với dụ kiến

của giáo viên.

Dạy văn bản thực chất là giúp học sinh học hỏi và vận dụng ý nghĩa tác phẩm

vào đời sống trong mình. Chính vì thế giáo viên phải thường xuyên đổi mới phương

pháp dạy học để phát huy khả năng khám phá, cảm thụ và phân tích văn bản tích cực

của học sinh (một trong những biểu hiện của tính cá thể hóa và sáng tạo tiếp nhận văn

bản).

Căn cứ vào những đặc thù riêng của bộ môn văn, khi khai thác nội dung và

nghệ thuật của văn bản, giáo viên biết khéo léo vận dụng giáo dục trực quan thì giờ

học sẽ sinh động và đạt hiệu quả cao, học sinh có ấn tượng sâu đậm với nhân vật, với

tác phẩm. Do đó vấn đề ở đây là khai thác và sử dụng hệ thống kênh hình như thế nào

cho hợp lý và đạt hiệu quả. Xuất phát từ thực tiễn công tác, qua việc dự giờ thăm lớp

đồng nghiệp chúng ta có thể nhận thấy có khi cùng một bài dạy, cùng sử dụng một đồ

dùng dạy học song hiệu quả và chất lượng của mỗi giáo viên lại khác nhau. Điều đó

phụ thuộc vào kiến thức, khả năng sử dụng và khai thác đồ dùng dạy học hợp lý của

mỗi giáo viên. Nhiều giáo viên văn cho học sinh quan sát tranh minh họa vào cuối

buổi học và đặt câu hỏi: Bức tranh này gắn với nội dung nào trong tác phẩm? Bức

tranh miêu tả cảnh gì? thể hiện giáo viên đã có ý thức giảng dạy theo phương pháp

mới nhưng cách vận dụng chưa triệt để, sáng tạo và hợp lý. Nếu nhiều giờ dạy, giờ nào

giáo viên cũng cho học sinh quan sát tranh minh họa vào cuối buổi thì phần nội dung

kiến thức của bài qua tranh còn hời hợt, mang tình chiếu lệ, cách đưa hình ảnh vào

khai thác đó trở thành thói quen thì sẽ tạo ra sự nhàm chán đối với học sinh. Học sinh

sẽ giảm hứng thú khi học văn.

Vậy dạy một bài ngữ văn có tranh minh họa, tùy vào từng bài, người giáo viên

có thể sử dụng tranh minh họa vào các bước khác nhau trong một giờ học, một tranh

minh họa có thể được sử dụng nhiều làn trong bài giảng. Làm sao cho mỗi lần quan sát

học sinh lại khám phá, phát hiện ra cái mới mà các lần quan sát trước chưa thấy. Qua

tranh vẽ và hệ thống ngôn từ trong tác phẩm giúp học sinh nắm vững nội dung tác

phẩm, hiểu được nhân vật và phát triển tư duy ở một tâm cao mới là đưa ra những cảm

nhận của bản thân về hình ảnh minh họa đó.

Có 3 cách để đưa tranh minh họa vào bài giảng:

- Cách 1: dùng tranh minh họa để giới thiệu bài

- Cách 2: dùng tranh minh họa để khai thác, phân tích nội dung tác phẩm.

- Cách 3: dùng tranh minh họa để củng cổ luyện tập và phát triển tư duy.

Người viết: Nguyễn Thị Hoài Tâm



Trang 7



Đề tài: Phương pháp sử dụng và khai thác tranh minh họa trong môn ngữ văn lớp 6.



a. Cách 1-dùng tranh minh họa để giới thiệu bài:

Hình ảnh đưa vào giới thiệu bài phải nói khái quát nội dung tồn bộ tác phẩm,

đoạn trích, chứa đựng hình ảnh chủ đạo tư tưởng của tác phẩm. Thường là tác phẩm có

một tranh minh họa, hình ảnh minh họa có tính chất biểu tượng cho văn bản, đó là

hình ảnh tương đối gần gũi, quen thuộc với học sinh. Hình ảnh minh họa đó phải đưa

ra vấn đề chính để dẫn dắt giới thiệu bài tạo sự chú ý, tập trung của học sinh vào vấn

đề giáo viên vừa nêu, tạo sự hưng phấn, kích thích tư duy thích tìm tòi của học sinh.

Sau khi giới thiệu xong phải cất hình ảnh minh họa ngay,hướng học sinh chú ý

vào vấn đề khác. Các văn bản chương trình ngữ văn 6 có thể dùng hình ảnh để giới

thiệu vào bài như: “Con Rồng Cháu Tiên”, “Bánh Chưng Bánh Giày”, “Thánh

Gióng”, “Sơn Tinh Thủy Tinh”, “Sơng Nước Cà Mau”, “Vượt Thác”; “Lao Xao”...

Ví dụ: Khi dạy truyền thuyết “Bánh Chưng Bánh Giày” có nhiều tranh minh

họa (do công ty thiết bị cung cấp), giáo viên chọn một hình ảnh mang tính chất tập

trung nhất nội dung của toàn văn bản, cụ thể là: cảnh làm bánh chưng bánh Giày.



Dựa vào cảnh làm bánh Chưng bánh Giày, giáo viên có thể giới thiệu: đây là

hình ảnh rất quen thuộc đối với người Việt Nam mỗi khi tết đến xuân về. Đó là cảnh

làm bánh chưng hoặc bánh Giày ngày tết, tục làm bánh chưng bánh Giày ngày tết của

người Việt Nam đã xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử thời đại của vua hùng và vẫn

được nhân dân ta gìn giữ cho đến ngày nay. Phong tục đó là nét văn hóa mang tính bản

Người viết: Nguyễn Thị Hồi Tâm



Trang 8



Đề tài: Phương pháp sử dụng và khai thác tranh minh họa trong môn ngữ văn lớp 6.



sắc truyền thống của người Việt Nam, nó góp phần tạo hương vị độc đáo cho ngày tết

cổ truyền của dân tộc và đưa thêm 2 câu thơ để nhấn mạnh:

“Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ

Cây nêu,tràng pháo,bánh chưng xanh”

Vậy chúng ta hãy cùng tìm hiểu truyền thuyết: “Bánh chưng bánh Giày” để biết

vì sao có tục làm bánh chưng, bánh Giày ngày tết và ý nghĩa của phong tục đó với

người Việt Nam.

Hoặc khi dạy truyền thuyết: “Sự Tích Hồ Gươm”, giáo viên chọn một ảnh chụp

Tháp Rùa-Hồ Gươm và giới thiệu: đây là Hồ Gươm hay còn gọi là Hồ Hồn Kiếm ở

Hà Nội. Nằm giữa trung tâm thành phố, Hồ Gươm như một lẵng hoa đẹp giữa lòng thủ

đơ. Giữa hồ có một ngọn tháp được xây dựng vào thế kỷ XIX gọi là tháp Rùa-một

biểu tượng quen thuộc của người Hà Nội. Tháp Rùa-Hồ Gươm đã trở thành biểu tượng

thiêng liêng, bền vững đầy tự hào của Hà Nội bởi nó không chỉ là một cảnh quan đẹp

của thành phố mà nó còn gắn với một truyền thuyết lịch sử hào hùng oanh liệt của dân

tộc ta trong thời kỳ chống giặc Minh xâm lược. Để biết vì sao có tên gọi Hồ Gươm

chúng ta hãy cùng theo dõi tìm hiểu qua truyền thuyết “Sự tích Hồ Gươm”



Hay khi dạy về văn bản nhật dụng bài “Cầu Long Biên-chứng nhân lịch sử”



giáo viên đưa ảnh chụp cầu Long Biên và giới thiệu: đây là cầu Long Biên-nếu quan

sát về bề ngoài ta thấy đây là cây cầu sắt bình thường, đơn giản cũ kĩ so với các cây

cầu hiện đại khác như cầu Thăng Long, cầu Chương Dương cùng bắc qua sơng Hồng,

Người viết: Nguyễn Thị Hồi Tâm



Trang 9



Đề tài: Phương pháp sử dụng và khai thác tranh minh họa trong môn ngữ văn lớp 6.



nhưng lùi về hơn 100 năm về trước thì đây là cây cầu sắt đầu tiên ở Việt Nam. Hơn

một thế kỉ đã qua, cầu Long Biên đã chứng kiến biết bao sự kiện hào hùng, bi tráng

của nhân dân Hà Nội, giờ đây nó đã rút về vị trí khiêm nhường so với cây cầu hiện đại

khác cùng bắc qua sơng Hồng, nhưng nó đã trở thành một nhân chứng lịch sử. Vậy

muốn biết cầu Long Biên đã chứng kiến và ghi dấu những sự kiện hào hùng, anh dũng

đau thương nào của thủ đô Hà Nội chúng ta cùng tìm hiểu văn bản “Cầu Long Biênchứng nhân lịch sử”. Trên đây là cách sử dụng tranh minh hoạ để dẫn vào bài. Nếu

thực hiện tốt thì đây là cách dẫn dắt bài mang tính tích hợp và tích cực nhất. Nó tạo ấn



tượng, gây chú ý cho học sinh tạo hiệu quả cao cho giờ ngữ văn

b. Cách 2: sử dụng tranh minh hoạ để khai thác và phân tích văn bản.

Đây là phương pháp dạy học tích cực nhất, với phương pháp này, giáo viên đã

cụ thể hóa văn bản bằng hình ảnh. Tạo nên tác động trực tiếp, mạnh mẽ và tư duy học

sinh, từ hình ảnh học sinh có thể hình thành những nhận xét, cảm nhận, đánh giá, phát

hiện, tình cảm nhanh hơn so với cách dùng ngôn ngữ khô khan. Nhưng đây là phương

pháp khó, nó đòi hỏi tính sáng tạo kiến thức tốt, tay nghề vững vàng của giáo viên dạy.

Giáo viên cần phải linh hoạt uyển chuyển dẫn dắt học sinh theo định hướng của mình.

Ta có thể sung dụng ở các nội dung sau:

b.1. Sử dụng tranh minh hoạ để kể (tóm tắt) nội dung văn bản tự sự

Tình huống này được sử dụng cho các bài văn tự sự và truyện dân gian. Các

Người viết: Nguyễn Thị Hoài Tâm



Trang 10



Đề tài: Phương pháp sử dụng và khai thác tranh minh họa trong môn ngữ văn lớp 6.



truyện dân gian (truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngơn, truyện cười) thường có nhiều tranh

minh họa (có thể có từ 3 đến 4 tranh minh họa cho một truyện). Mỗi tranh minh họa

đánh dấu một mốc sự kiện trong cuộc đời của nhân vật chính.

Ví dụ: truyện Thạch Sanh có tranh minh họa về các sự kiện, mốc trong cuộc

phiêu lưu của nhân vật:

Mốc 1. Thạch Sanh và Lý Thông kết nghĩa anh em.

Mốc 2. Thạch Sanh chém Chằn tinh.

Mốc 3. Thạch Sanh chém Đại bàng.

Mốc 4. Thạch Sanh dùng cây đàn và liêu cơm thần để cảm hóa giặc.

Cách sử dụng: treo lần lượt các tranh theo trình tự của truyện, yêu cầu học sinh

kể lại văn bản, các hình ảnh đó sẽ dẫn dắt học sinh kể lại được nội dung câu chuyện

khơng sai sót. Khi kể lại được tác phẩm là học sinh đã nắm được nội dung của văn

bản, rèn luyện cách kể một văn bản đã học bằng lời của mình.

b.2. Sử dụng tranh minh hoạ để học sinh miêu tả theo tranh:

Cách này giúp học sinh rèn luyện khả năng quan sát,diễn đạt hình ảnh bằng

ngơn từ góp phần củng cố thêm kỹ năng miêu tả cho học sinh. Phương pháp này sử

dụng tốt đối với học sinh khá, giỏi. Khi yêu cầu học sinh miêu tả theo tranh, giáo viên

càn chú ý bức tranh đưa ra phải minh họa cho nội dung chính của văn bản, hình ảnh

trung tâm của tác phẩm.

Ví dụ: Khi dạy văn bản “Thánh Gióng”, trong sách giáo khoa có 3 tranh minh

họa:

Tranh 1. Gióng ra trận đánh giặc (Ngữ văn 6 tập 1-Trang 20)

Tranh 2. Tranh minh họa của nguyễn Tư nghiêm (Ngữ văn 6 tập 1-Trang 20)

Tranh 3. Ảnh chụp hội khỏe Phù Đổng toàn quốc lần thứ V-2000 (Ngữ văn 6

tập 1 trang 23)



Người viết: Nguyễn Thị Hoài Tâm



Trang 11



Đề tài: Phương pháp sử dụng và khai thác tranh minh họa trong môn ngữ văn lớp 6.



Tranh minh họa do công ty thiết bị giáo dục cung cấp gồm có 2 bức: Một bức vẽ

Gióng ra trận đánh giặc, một bức vẽ Gióng bay về trời. Trong các tranh minh họa thể

hiện cảnh Gióng ra trận là hình ảnh trung tâm, tập trung tồn bộ nội dung tư tưởng của

tồn văn bản. Giáo viên có thể đặt những câu hỏi có tình chất gợi ý, định hướng cho

việc phân tích và nhận xét như: Cảnh Gióng ra trận miêu tả như thế nào? Tư thế đánh

giặc của Gióng nói lên điều gì?

Học sinh có thể dựa vào các câu hỏi đó để miêu tả. câu trả lời của học sinh phải

đạt được những ý sau:

Bức tranh miêu tả cảnh Gióng ra trận rất oai phong lẫm liệt: Trang phục của

Gióng là trang phục của lính triều đình thời bấy giờ ra trận đánh giặc: Đầu đội nón,

chân quần xà cạp, ngồi trên mình ngựa, tay cầm vũ khí. Ngựa sắt phi như bay, mồm

phun ra những luồng lửa bỏng rát thiêu cháy quân thù; Gióng cưỡi ngựa phi thẳng đến

chỗ quân thù, dùng tre giáng cho chúng những đòn dũng mãnh; Hình ảnh qn xâm

lược: đứa ngồi trên lưng ngựa, đứa ngã ngựa, đứa cầm giáo mác, đứa tay không. Tất

cả đều ở tư thế kinh hồng, hoảng loạn, khơng tránh được những đòn sấm sét; Tư thế

và sức mạnh của Gióng biểu tượng cho tư thế, sức mạnh của dân tộc Việt nam....

Nếu thực hiện tốt phương pháp này, giáo viên đã bám sát nội dung bài dạy, tập

trung ở các chi tiết hình ảnh trọng tâm, thực hiện tốt hai phương châm của phương

pháp dạy-học theo phương pháp mới: tích cực hóa hoạt động của học sinh và tích hợp

giữa hai bộ mơn hội họa và văn học, tập làm văn và ngữ văn.

b.3. Sử dụng tranh minh hoạ để đánh giá, nhận xét, tổng hợp

Mục đích sử dụng phương pháp này là kết hợp giữa tranh minh họa và nội dung

văn bản đưa ra những nhận xét, đánh giá về đặc điểm, tính chất, đặc trưng của những

chi tiết, hình ảnh trong văn bản, nổi bật giá trị về nội dung tư tưởng của tác phẩm.

Phương pháp này được sử dụng nối tiếp sau khi đã thực hiện phương pháp miêu tả

theo tranh. Những câu hỏi này thường có tính chất tổng hợp cho chi tiết đưa ra miêu tả

ở các câu hỏi trước.

Ví dụ: Chúng ta đang tìm hiểu về hình ảnh Gióng ra trận, miêu tả lại những chi

tiết thể hiện tư thế, sức mạnh của Gióng khi ra trận. Do đó giáo viên có thể đặt câu

hỏi: Qua hình ảnh Gióng ra trận và những chi tiết miêu tả tư thế Gióng ra trận? Tư

thế đó được kết tinh từ những sức mạnh gì? Nó có biểu tượng ý nghĩa như thế nào?

Qua phần miêu tả ở trên, học sinh có thể rút ra tư thế Thánh Gióng ra trận như:

tư thế oai phong lẫm liệt, đường hoàng dũng mãnh; sức mạnh đã được kết tinh từ sự

ấp ủ, ni nấng của nhân dân, từ tinh thần đồn kết, sự chắt chiu tần tảo của nhân dân,

từ tinh thần yêu nước, truyền thống bất khuất chống giặc ngoại xâm của nhân dân Việt

Nam. Học sinh có thể suy ra: sức mạnh của thánh Gióng là sức mạnh tổng hợp giữa

sức mạnh của tổ tiên thần thánh (Sự ra đời thần kỳ) sức mạnh của nhân dân, sức mạnh

của thiên nhiên, văn hóa kỹ thuật. Gióng là hình tượng tiêu biểu, rực rỡ của người anh

hùng đánh giặc giữ nước, là biểu tượng của lòng yêu nước, khả năng và sức mạnh quật

Người viết: Nguyễn Thị Hoài Tâm



Trang 12



Đề tài: Phương pháp sử dụng và khai thác tranh minh họa trong môn ngữ văn lớp 6.



khởi của dân tộc ta trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm.

Như vậy: khi đưa ra những nhận xét đánh giá, học sinh dễ dàng nêu được giá trị

nội dung tư tưởng tác phẩm, giá trị của hình ảnh biểu tượng, giúp các em cảm nhận vẻ

đẹp của hình ảnh nhân vật. Hình thành nên tình cảm yêu mến, ngưỡng mộ, tự hào về

nhân vật và u thích bộ mơn văn.

c. Cách 3-sử dụng tranh minh hoạ để củng cố, luyện tập phát triển tư duy

Yêu cầu của phương pháp này là để củng cố, luyện tập sau khi đã hồn thành

bước phân tích văn bản, góp phần luyện tập vẫn có sự nâng cao phát triển tư duy. Đối

với cách này, những câu hỏi nhằm mục đích cho học sinh đối chiếu so sánh với những

cái đã biết để củng cố và rút ra những nhận xét mới để phát triển tư duy ở bậc cao hơn.

Ví dụ: sau khi học xong truyền thuyết “Sự tích Hồ Gươm” học sinh đã nắm

vững nội dung ý nghĩa cơ bản của truyện, như: ca ngợi tình chất chính nghĩa, tính chất

nhân dân và chiến thắng vẻ vang của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh xâm

lược do Lê Lợi lãnh đạo ở đầu thế kỷ XV; tác phẩm cũng nhằm giải thích tên gọi Hồ

Hồn Kiến, đồng thời thể hiện khát vọng hòa bình của dân tộc.

Giáo viên có thể gợi mở những câu hỏi sau: Qua hình ảnh minh họa, em hãy

cho biết Lê Lợi nhận được gươm thần như thế nào? Câu hỏi này đối với học sinh

khơng khó, bởi trong phần phân tích văn bản giáo viên đã đưa ra, đặt câu hỏi này lại ở

phần luyện tập có tính chất củng cố kiến thức, hướng sự tập trung của học sinh về vấn

đề nêu ra trong câu hỏi để pháp triển cao hơn. Với câu hỏi trên, dựa vào tranh minh

họa học sinh có thể dễ dàng trả lời: Lê Lợi nhận được gươm thần rất kỳ lạ, lưỡi gươm

ở dưới sông, chuôi gươm ở trên cây trong rừng, cả hai ở hai địa điểm khác nhau, thời

điểm khác nhau nhưng khớp lại thấy vừa như in.

Căn cứ vào những điều học sinh đã trả lời đặt tiếp câu hỏi: vì sao tác giả dân

gian khơng để Lê Lợi trực tiếp cả chuôi gươm và lưỡi gươm một lúc? Câu hỏi này khó

vì nếu chỉ dựa vào các chi tiết trong văn bản không thể đáp ứng được, học sinh phải

suy nghĩ dựa trên cơ sở đã biết. Học sinh đã biết ý nghĩa của việc Long Quân cho

mượn gươm, chi tiết lưỡi gươm dưới nước, chuôi gươm trên rừng đã nói lên ý nghĩa

khả năng cứu nước ở khắp nơi, từ miền sông nước đến vùng rừng núi, miền ngược,

miền xuôi cùng đánh giặc. Các bộ phận của gươm rời nhau nhưng khi khớp lại thì vừa

như in, điều đó nói lên nguyện vọng của dân tộc là nhất trí, nghĩa qn trên dưới một

lòng. Thanh gươm Lê lợi nhận được là thanh gươm thống nhất và hội tụ tư tưởng, tình

cảm, sức mạnh của tồn dân trên mọi miền đất nước.

Câu hỏi tiếp theo để học sinh hiểu sâu sắc về ý nghĩa của tác phẩm: Ý nghĩa của

việc nhận gươm ở Thanh Hóa và trả gươm ở Hồ gươm-Thăng Long? Nếu Lê Lợi trả

gươm ở Thanh Hóa thì ý nghĩa của truyền thuyết sẽ khác đi thế nào? Giáo viên có thể

gợi ý cho học sinh về hai địa danh gắn với các thời kỳ kháng chiến và việc mượn-trả

gươm ở hai địa danh khác nhau mang ý nghĩa cấp thiết. Điều đó thể hiện tư tưởng hòa

bình của dân tộc, nếu Lê Lợi trả gươm ở Thanh Hóa Thì ý nghĩa của truyện sẽ bị giới

Người viết: Nguyễn Thị Hoài Tâm



Trang 13



Đề tài: Phương pháp sử dụng và khai thác tranh minh họa trong môn ngữ văn lớp 6.



hạn. Bởi nó khơng nói hết được thắng lợi to lớn của cuộc khởi nghĩa, ý nguyện xây

dựng và phát triển đất nước. Việc trả gươm, phải diễn ra ở Hồ Tả Vọng của kinh thành

Thăng Long-thủ đô của cả nước mới thể hiện hết ý nghĩa đó và tinh thần cảnh giác của

nhân dân.

Hoặc phần luyện tập của văn bản cũng có thể áp dụng phương pháp này. Giáo

viên có thể dùng tranh minh họa trong “Ơng lão đánh cá và con cá vàng” về cảnh mụ

vợ ông lão đánh cá đang ngồi trước các máng lợn sứt mẻ để đặt câu hỏi: Bức tranh

minh họa cảnh kết thúc tác phẩm cho chúng ta suy nghĩ gì về hình phạt cá vàng dành

cho mụ vợ?. Ở phần trước học sinh đã biết mụ vợ bị trừng phạt vì lòng tham và sự bội

bạc của mình với chồng và ân nhân. Các em có thể đưa ra cách đánh giá về kết thúc

này. Đó là sự trừng phạt nặng hay nhẹ? Học sinh có thể tìm được câu trả lời qua suy

luận từ nội dung đã biết, như: đây là sự trừng phạt đích đáng đối với nhân vật này. Cá

vàng khơng chỉ lấy lại những cái gì nó đã cho mà còn lấy nhiều hơn thế. Mở đ ầu câu

chuyện mụ vợ sống trong cảnh nghèo khó mà chưa hề nếm trải sung sướng, giàu sang,

còn ở kết thúc câu chuyện, sau khi mụ vợ đã được sống qua tột đỉnh giàu sang danh

vọng mà phải trở lại cảnh nghèo khó ban đầu, điều đó chẳng dễ chút nào.



Như vậy ở phần luyện tập không chỉ củng cố mà học sinh còn phát triển tư duy

làm sâu sắc thêm cho kiến thức đã tiếp thu được ở phần phân tích.

4. Kết quả thực hiện đề tài: Nhờ vận dụng đề tài, các tiết dạy trở lên phong

phú, sinh động, vừa kết hợp dạy theo tranh minh họa với phương pháp dạy học đã giúp

cho học sinh hoạt động tư duy liên tục, nắm bắt được khái niệm thể loại, thông tin về

tác giả và nghệ thuật tác phẩm.

Kết quả học tập môn Ngữ văn lớp 6 qua các học kì I trong năm học 2015-2016:

Năm học



Tổng học sinh



Người viết: Nguyễn Thị Hoài Tâm



Học lực học sinh



Ghi

Trang 14



Đề tài: Phương pháp sử dụng và khai thác tranh minh họa trong mơn ngữ văn lớp 6.



lớp 6 được

đánh giá



Giỏi



Khá



Trung

bình



Yếu



chú



2014-2015

2015-2016

So sánh

tăng giảm



Người viết: Nguyễn Thị Hoài Tâm



Trang 15



Đề tài: Phương pháp sử dụng và khai thác tranh minh họa trong mơn ngữ văn lớp 6.



PHẦN III-KẾT LUẬN

Qua q trình áp dụng đề tài vào việc dạy-học ngữ văn 6 đã đem đến những kết

quả hết sức lạc quan. Đề tài này có thể phổ biến rộng rãi và áp dụng cho tất cả giáo

viên đang dạy ngữ văn, khi vận dụng đề tài này, người giáo viên đã tận dụng lợi thế để

tiến hành đổi mới phương pháp dạy-học văn theo đúng đặc trưng môn học.

Kinh nghiệm được rút ra: trong mọi tình huống người giáo viên ln là người

đạo diễn, dẫn dắt khơng sa đà để rơi vào tình huống bị học sinh dẫn dắt; nếu người

giáo viên không chuẩn bị bài soạn chu đáo, một kiến thức vững vàng, một khả năng

linh hoạt xử lý mọi tình huống thì sẽ khơng thành cơng trong việc sử dụng đề tài này.

Phải kiên trì, bền bỉ, biết rút ra bài học từ những thất bại và phải yêu nghề, mến trẻ thì

mới có thể tạo cho chúng ta nghị lực, niềm tin để thành công.

PHẦN IV- KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT

Để thực hiện triệt để đồ dùng dạy học vào việc đổi mới phương pháp dạy học

văn cần phải có sự quan tâm chỉ đạo sát sao của cấp trên, sự quyết tâm của đội ngũ

giáo viên, sự ủng hộ của học sinh. Mỗi giáo viên, nhà trường phải tự trang bị cho mình

thiết bị dạy học, bổ sung làm mới đồ dùng dạy học, sách giáo khoa và sách tham khảo.

Mỗi giáo viên cần phải tìm cho mình một phương pháp dạy phù hợp với năng

lực, trình độ của mình vừa phù hợp với xu hướng đổi mới hiện nay. Nên tăng cường

các buổi dự giờ thăm lớp ở những trường điển hình để giáo viên học tập, tự bồi dưỡng

chun mơn cho mình.

Măng Cành, ngày....tháng.....năm 2016

Người Viết



Nguyễn Thị Hồi Tâm



Người viết: Nguyễn Thị Hoài Tâm



Trang 16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Căn cứ đề tài:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×