Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
THỰC TIỄN SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ BITCOIN VÀ CÁC LOẠI TIỀN ẢO KHÁC Ở VIỆT NAM VÀ CÁC KHUYẾN NGHỊ VỀ CHÍNH SÁCH

THỰC TIỄN SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ BITCOIN VÀ CÁC LOẠI TIỀN ẢO KHÁC Ở VIỆT NAM VÀ CÁC KHUYẾN NGHỊ VỀ CHÍNH SÁCH

Tải bản đầy đủ - 0trang

64



Ngồi ra VTC Intecom có quyền quản lý và giám sát hoàn toàn đối với mọi hoạt

động của hệ thống tài khoản.

Tuy nhiên trong quá trình vận hành hệ thống, đã có khơng ít lần người dùng

gặp tình trạng bị mất tài khoản hay Vcoin trong tài khoản do bị tin tặc tấn cơng. Tình

trạng này hết sức phổ biến ở những người tham gia dịch vụ trò chơi trực tuyến. Điều

này làm hạn chế niềm tin của người dùng và mức độ, phạm vi sử dụng đối với Vcoin.

Bên cạnh Vcoin còn có nhiều hệ thống tiền ảo tương tự như ZingXu (Công

ty Cổ phần VNG) hay Bạc (Công ty Cổ phần FPT)… Phạm vi lưu hành của các

đồng tiền này cũng rất hạn chế, chủ yếu được sử dụng trong các trò chơi trực tuyến

và một số dịch vụ nội dung số, đồng thời chịu sự quản lý của đơn vị phát hành.

b) Ví điện tử NgânLượng.vn:

NgânLượng.vn là Ví điện tử và Cổng Thanh tốn Trực tuyến chun dùng

cho Thương mại Điện tử điều hành bởi Công ty Cổ phần Ngân Lượng. Dưới sự hỗ

trợ của công ty mẹ là tập đoàn PeaceSoft-Group, NgânLượng.vn được thiết kế và

xây dựng từ tháng 10/2008, thử nghiệm tháng 2/2009 và chính thức ra mắt phiên

bản đầu tiên vào tháng 4/2009.

NgânLượng.vn hoạt động theo mơ hình ví điện tử, theo đó người dùng đăng

ký tài khoản loại cá nhân hoặc doanh nghiệp với 3 chức năng chính là: Nạp tiền,

Rút tiền và Thanh tốn; tất cả đều hồn tồn trực tuyến thơng qua thẻ nội địa hoặc

quốc tế, tài khoản ngân hàng hoặc các hình thức tiện dụng khác. Nguồn vốn đầu tư

từ các tập đoàn hàng đầu thế giới như IDG (Mỹ), SoftBank (Nhật) và eBay (Mỹ)

giúp NgânLượng.vn có khả năng đảm bảo tài chính cho tồn bộ các giao dịch TTTT

tại VN (Xem hình 5,6,7 – Phụ lục).

Ví điện tử và cổng thanh toán hoạt động như một ngân hàng điện tử trên

Internet nên chịu sự điều chỉnh của "Luật ngân hàng và các tổ chức tín dụng" để

ngăn ngừa các doanh nghiệp huy động vốn bất hợp pháp thông qua việc giữ khoản

tiền thanh toán giữa người mua và người bán rồi mất khả năng thanh khoản gây

thiệt hại cho xã hội. Ngày 02/11/2010, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có Quyết

định số 2608/QĐ-NHNN cho phép Cơng ty Cổ phần giải pháp phần mềm Hồ Bình



65



(Cơng ty PeaceSoft) thực hiện thí điểm cung ứng dịch vụ trung gian thanh tốn Ví

điện tử.

NgânLượng.vn đã xây dựng hệ thống liên thông trực tiếp với hầu hết các

ngân hàng và tổ chức tài chính bao gồm Vietcombank, Techcombank, Vietinbank,

Đơng Á, VIB, SHB, Visa/Master, VinaPhone, MobiFone… nhanh chóng trở thành

cơng cụ TTTT phổ biến nhất được chấp nhận tại hàng nghìn website trong đó có các

thương hiệu hàng đầu như ChợĐiệnTử.vn, Nguyễn Kim, Viettel, VTC, FPT… Đây

còn là cơng cụ thanh tốn duy nhất để nhập hàng về VN thông qua eBay.vn

Số tiền chuyển cho NgânLượng.vn là số tiền được sử dụng để thực hiện các

giao dịch nạp/ thanh tốn thơng qua website NgânLượng.vn. Số tiền này sẽ được

NgânLượng.vn tạm giữ và chuyển sang thành số Ngân Lượng tương ứng để thực

hiện các giao dịch nạp/ thanh toán của khách hàng, trong đó 1 VND tương ứng với

1 Ngân Lượng.

Nhằm mục đích bảo vệ an toàn cho khách hàng khỏi các rủi ro và nguy cơ

lừa đảo trên Internet, NgânLượng.vn sử dụng phương thức thanh tốn tạm giữ là

chủ đạo, theo đó các khoản thanh toán bị treo khỏi tài khoản người mua, người bán

chỉ nhận tiền khi người mua đã nhận hàng và phê chuẩn giao dịch hoặc sau tối đa 7

ngày. Tuy nhiên người mua cũng có thể tự nguyện thanh tốn ngay cho những

người bán có chứng chỉ “Người bán đảm bảo” và được NgânLượng.vn đứng ra bồi

thường trong trường hợp bị lừa đảo gây thiệt hại tài chính. Bên cạnh đó, Quy định

về Thủ tục tiếp nhận, Trình tự xử lý khiếu nại và Bảo hiểm giao dịch được xây dựng

chặt chẽ cùng các công nghệ giám sát tự động giúp đảm bảo công bằng cho cả

người mua và người bán trong trường hợp phát sinh tranh chấp.

Theo Thời báo Ngân hàng, số website bán hàng tích hợp thanh toán trực

tuyến tăng hơn 30 lần trong giai đoạn 2009-2013, trong đó riêng NgânLượng.vn

chiếm khoảng 55% thị phần với hơn 5.000 website bán hàng hoá vật chất hoặc nội

dung số có phát sinh giao dịch hàng tháng. Sự ra đời của NgânLượng.vn chính là

một nhân tố trực tiếp kích thích sự phát triển lành mạnh của thị trường: các cổng

thanh toán đứng trước sức ép cạnh tranh đã từng bước cắt giảm tiến tới loại bỏ

nhiều khoản phí; nhiều ngân hàng thương mại và doanh nghiệp khác sau đó cũng



66



phát triển các dịch vụ trung gian thanh toán và ví điện tử dựa trên sự học hỏi hoặc

sao chép mơ hình của NgânLượng.vn như VNG với 123pay, FPT với Senpay,

VCCorp với Sohapay, VTC với VTCPay, Vật Giá với Bảo Kim… làm bức tranh của

ngành thương mại điện tử và thanh tốn trực tuyến tại Việt Nam trở nên sơi động,

được các chuyên gia trong khu vực đánh giá là một trong những nền thanh toán điện

tử phát triển nhanh và hiện đại nhất Đông Nam Á.

Theo báo cáo của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, tính đến ngày 31-12-2012,

đã có 20 ngân hàng triển khai dịch vụ ví điện tử. Ngoài ra từ năm 2008 đến tháng

5/2013, Ngân hàng Nhà nước đã chấp thuận cho 9 tổ chức không phải là ngân hàng

(gọi chung là trung gian thanh toán) được thực hiện thí điểm cung ứng dịch vụ Ví

điện tử thông qua kênh Internet và điện thoại di động. Số liệu của Vụ Thanh toán,

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng cho thấy ước khoảng trên 500.000 ví điện tử

đã được người dùng sử dụng tính đến tháng 3/2012.

Nhìn chung, “dịch vụ Ví điện tử là dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài

khoản điện tử định danh do các tổ chức cung ứng dịch vụ tạo lập trên một vật mang

tin (như chip điện tử, sim điện thoại di động, máy chủ…), cho phép lưu trữ một giá

trị tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền mặt tương đương và được sử dụng để

thanh toán thay thế cho tiền mặt.” Về cơ bản giá trị tiền tệ trong ví điện tử vẫn là giá

trị của một đồng tiền thật được quản lý bởi ngân hàng Trung ương, cụ thể ở đây là

tiền đồng Việt Nam.

c) Bitcoin tại Việt Nam



Cộng đồng Bitcoin tại Việt Nam

Theo số liệu khơng chính thức thì những người tham gia vào cộng đồng

Bitcoin ở Việt Nam có khoảng hơn 1000 người, thuộc nhiều tầng lớp và nghề

nghiệp khác nhau. Hoạt động chính của cộng đồng Bitcoin ở Việt Nam gồm:

- Khai thác: Tuy nhiên số lượng người tham gia vào hoạt động này ngày



càng giảm vì độ khó ngày càng tăng của việc “khai thác”

- Đầu tư: hoạt động này tương đối hạn chế vì cộng đồng khơng chủ động



đánh giá và tiên lượng được về giá của Bitcoin trên thế giới.

- Giao dịch: đây là hoạt động có mức độ quan tâm nhiều nhất ở Việt Nam,



67



tuy nhiên vẫn chỉ mang tính chất trải nghiệm và hiếu kì.

Nhìn chung cộng đồng Bitcoin ở Việt Nam mới chỉ là một cộng đồng rất nhỏ

so với thế giới với các hoạt động chủ yếu mang tính cá nhân, quy mơ nhỏ.

Tuy nhiên, thị trường của Bitcoin được sự dự đoán sẽ phát triển mạnh trong

tương lai với sự tham gia không chỉ cá nhân mà cả các doanh nghiệp. Cụ thể, tính

đến thời điểm này, ở Việt Nam đã có trang web đầu tiên chính thức chấp nhận thanh

tốn bằng Bitcoin là lamchame.com. Đây là một trang web lớn và có uy tín ở Việt

Nam. Bên cạnh đó cũng đã có một quán café ( Yolo), siêu thị bán hàng online

( sieuthithucphamhuuco.com) đồng ý xử dụng Bitcoin, cũng như đã xuất hiện các

hình thức cho vay bằng đồng tiền này (tại Công ty cổ phần chính xác An Khánh).

4.1.2. Thực trạng khn khổ pháp lý quản lý tiền ảo ở Việt Nam

Mặc dù hoạt động thanh toán điện tử diễn ra gần 10 năm nhưng đến nay vẫn

thiếu hành lang pháp lý để quản lý các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh

tốn. Ngày 22/11/2012 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 101/2012/NĐ-CP về

thanh tốn khơng dùng tiền mặt, trong đó có Điều 15 và Điều 16 quy định về các dịch

vụ trung gian thanh toán và điều kiện cung ứng, cũng như quy định về quy trình thủ

tục, hồ sơ, cấp giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán. Tuy

nhiên, đến nay những quy định này vẫn chưa được áp dụng thực tế vì còn chờ Thông

tư hướng dẫn về hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh tốn ra đời.

Do chưa có Thơng tư hướng dẫn nên trong số hơn 20 doanh nghiệp đang

cung cấp dịch vụ chi có 9 doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp phép thử

nghiệm trong 6 tháng (hiện một số doanh nghiệp đã hết thời hạn thử nghiệm khá

lâu). Số còn lại chờ Thơng tư được ban hành để xin giấy phép. Có thể nói đa số các

cổng thanh toán điện tử đang hoạt động tự phát và chưa bị quản lý bởi Ngân hàng

Nhà nước.

Ngày 17/02/2014, Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông cáo

báo chí về Bitcoin và các loại tiền ảo khác. Theo đó, phía Ngân hàng nhà nước Việt

Nam đã nêu ra các rủi ro khi sử dụng Bitcoin như:

Thứ nhất: Các hoạt động liên quan đến thanh toán tiền ảo có độ ẩn danh cao nên

dễ bị lợi dụng để thực hiện một số hoạt động phi pháp, đặc biệt là liên quan đến rửa tiền.



68



Theo Luật phòng chống rửa tiền của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số

51/2001/QH10: Rửa tiền là hành vi của tổ chức, cá nhân nhằm hợp pháp hóa nguồn

gốc của tài sản do phạm tội mà có; trong đó tài sản được định nghĩa là bao gồm vật,

tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự, có thể tồn

tại dưới hình thức vật chất hoặc phi vật chất; động sản hoặc bất động sản; hữu hình

hoặc vơ hình; các chứng từ hoặc công cụ pháp lý chứng minh quyền sở hữu hoặc lợi

ích đối với tài sản đó.

Vì chưa có hệ thống pháp lý rõ ràng về tiền ảo, nhiều người nhận định

Bitcoin được là một loại tài sản ảo- tài sản vơ hình có giá trị lớn. Về định nghĩa giao

dịch đáng ngờ trong bộ luật được chỉ rõ là giao dịch có dấu hiệu bất thường hoặc có

cơ sở hợp lý để nghi ngờ tài sản trong giao dịch có nguồn gốc từ hoạt động tội phạm

hoặc liên quan tới rửa tiền. Giao dịch có giá trị lớn là giao dịch bằng tiền mặt, bằng

vàng hoặc ngoại tệ tiền mặt có tổng giá trị bằng hoặc vượt mức do cơ quan quản lý

nhà nước có thẩm quyền quy định, được thực hiện một hoặc nhiều lần trong một

ngày. Hai loại giao dịch này đều có thể dễ dàng thực hiện với tính ẩn danh cao của

Bitcoin nên nguy cơ Bitcoin có thể trở thành cơng cụ cho tội phạm như: rửa tiền,

buôn bán ma túy, trốn thuế, giao dịch, thanh toán tài sản phi pháp là hồn tồn có

khả năng.

Ngồi ra, Điều 7 Chương 1 của Luật phòng chống rửa tiền có nêu các hành

vi bị cấm bao gồm

1. Tổ chức, tham gia hoặc tạo điều kiện thực hiện hành vi rửa tiền.

2. Thiết lập hoặc duy trì tài khoản vơ danh hoặc tài khoản sử dụng tên giả.

3. Thiết lập và duy trì quan hệ kinh doanh với ngân hàng được thành lập tại

một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nhưng khơng có sự hiện diện hữu hình tại quốc gia

hoặc vùng lãnh thổ đó và không chịu sự quản lý, giám sát của cơ quan quản lý có

thẩm quyền.

4. Cung cấp trái phép dịch vụ nhận tiền mặt, séc, công cụ tiền tệ khác hoặc

công cụ lưu trữ giá trị và thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng tại một địa điểm

khác.



69



Xét trên các yêu tố này, việc tiêu dùng thanh toán bằng tiền ảo Bitcoin rất dễ

tiếp tay cho hoạt động rửa tiền phi pháp khi tài khoản Bitcoin có tên miền riêng

nhưng là chỉ tồn tại dưới dạng dãy mã số ẩn danh, khả năng thanh tốn phi lãnh thổ

khơng hạn chế và không chịu sự quản lý của bất cứ quốc gia hay cơ quan thẩm

quyền nào.

Thứ hai: Bitcoin là tiền ảo được lưu giữ dưới dạng kỹ thuật số nên nguy cơ bị

tấn công, đánh cắp, thay đổi dữ liệu hoặc bị ngừng giao dịch là rất lớn

Thứ ba: do giá trị đồng Bitcoin biến động mạnh và phức tạp trong thời gian

ngắn nên hoạt động đầu tư vào Bitcoin ẩn chứa nhiều nguy cơ về bong bóng, tiềm

ẩn gây thiệt hại cho người đầu tư.

Thứ tư, Bitcoin không bị chi phối và kiểm soát giao dịch bởi cơ quan quản

lý nhà nước nào, do đó, người sở hữu Bitcoin sẽ chịu tồn bộ rủi ro vì khơng có cơ

chế bảo vệ quyền lợi.

Do đó, về việc sử dụng Bitcoin như là một loại tiền tệ hoặc phương tiện

thanh tốn, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có ý kiến như sau:

” Theo các quy định của pháp luật hiện hành về tiền tệ và ngân hàng,

Bitcoin (và các loại tiền ảo tương tự khác) không phải là tiền tệ và khơng phải là

phương tiện thanh tốn hợp pháp tại Việt Nam. Do vậy, việc sử dụng Bitcoin (và

các loại tiền ảo tương tự khác) làm phương tiện thanh toán không được pháp luật

thừa nhận và bảo vệ. Các tổ chức tín dụng khơng được phép sử dụng Bitcoin (và

các loại tiền ảo tương tự khác) như một loại tiền tệ hoặc phương tiện thanh toán

khi cung ứng dịch vụ cho khách hàng.

Việc sở hữu, mua bán, sử dụng Bitcoin (và các loại tiền ảo tương tự khác)

như là một loại tài sản tiềm ẩn rất nhiều rủi ro cho người dân và không được pháp

luật bảo vệ. Do vậy, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khuyến cáo các tổ chức, cá

nhân không nên đầu tư, nắm giữ, thực hiện các giao dịch liên quan đến Bitcoin và

các loại tiền ảo tương tự khác.

Chính phủ Việt Nam khẳng định khơng thừa nhận, không cho phép giao dịch

bằng tiền Bitcoin, không chịu trách nhiệm giải quyết các tranh chấp phát sinh liên



70



quan đến hoạt động giao dịch đồng Bitcoin. Đồng thời, NHNN sẽ khẩn trương

nghiên cứu, trình Chính phủ ban hành các quy định để quản lý các hoạt động liên

quan đến tiền điện tử

4.2. KHUYẾN NGHỊ VỀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG BITCOIN

Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

4.2.1. Các điều kiện về thị trường – kinh tế - xã hội ở Việt Nam

4.2.1.1. Độ mở cửa thị trường

Việt Nam bắt đầu có những nới lỏng kiểm soát chủ chuyển nguồn vốn quốc

tế từ những năm đầu tiên của thập kỉ 1990, duy trì mức độ kiểm soát chặt chẽ cho

đến năm 2007. Những năm 2007-2008 đánh dấu bước ngoặt lớn đối với quá trình

hội nhập thương mại và tài chính thế giới khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO.

Bắt đầu từ giai đoạn này thì nền kinh tế Việt Nam cũng mở cửa theo, các biện pháp

kiểm soát vốn được nới lỏng. Mặc dù vậy, chỉ số KAOPEN là 0.4 ( so với mức cao

nhất là 1) chỉ ra rằng thị trường Việt Nam vẫn chưa mở của hoàn toàn. Tuy nhiên,

nếu xét theo các nước trong khu vực lân cận thì Việt Nam, dù có chỉ số KAOPEN

thấp hơn nhiều nước ( như Indonesia, Philipin, Thailand…) nhưng xu hướng thay

đổi của chỉ số này lại đi ngược lại so với các quốc gia trong Asian (Xem Biểu đồ 9

- Phụ lục).

Theo Báo cáo kinh tế vĩ mô của Ủy ban kinh tế ( 2013), trước năm 2000, ở

Việt Nam thì trường còn tương đối khép kín, độ mở của tại khoản vốn còn thấp và

nhà nước vẫn giữ tính độc lập của chính sách tiền tệ. Từ năm 2000-2007, các biện

pháp kiểm soát bắt đầu được nới lỏng. Tuy nhiên, khi Việt Nam gia nhập WTO vào

năm 2007 hội nhập tài chính sâu hơn, đối diện với các dòng vốn quốc tế lớn, các

biện pháp can thiệp của nhà nước trở nên kém hiệu quả, kiềm chế sự pháp triển kinh

tế nên thị trường ở Việt Nam được mở của mạnh mẽ hơn và chính sách tiền tệ của

trở nên ít phụ thuộc. Thực tế cho thấy thì chính nhờ sự mở của này mà nền kinh tế

nước ta đã có những bước phát triền nhày vọt, GDP tăng khoảng 3 lần từ năm 20072013 (Xem Biểu đồ 10 – Phụ lục).

Ngoài ra tình hình xuất nhập khẩu ở Việt Nam cũng có nhiều biến động. kim



71



ngạch xuất khẩu và nhập khẩu ở Việt Nam đều tăng khoảng 3 lần trong 7 năm trở

lại đây, đạt đến mức 61.5 tỉ USD với kim ngạch xuất khẩu và 62.5 tỉ USD với kim

ngạch nhập khẩu trong năm 2013 (Xem Biểu đồ 11 – Phụ lục).

Vì vậy, trong xu thế hội nhập chung, nền kinh tế Việt Nam đang dần được mở

rộng và trở nên tự do. Với kim ngạch xuất nhập khẩu cao trong những năm gần đây,

thanh toán quốc tế ngày càng trở nên quan trọng. Bên cạnh đó, các nước quan hệ hợp

tác làm ăn và đầu tư mạnh ở Việt Nam như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc…đều là các

quốc gia có nền tài chính mở và đã chấp nhận đồng Bitcoin. Trong khi Mỹ là nới có

thị trường Bitcoin phát triển nhất còn Nhật Bản là nơi có sàn giao dịch Bitcoin lớn

nhất trên thế giới, trao đổi kinh tế, thương mại giữa Việt Nam với các nước láng

giềng chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng bởi xuất hiện của các loại tiền ảo như Bitcoin.

4.2.1.2. Độ rủi ro thị trường

Theo mơ hình của Damodaran (2014), Việt Nam có độ rủi ro thị trường

tương đối cao: 8,25%. Nguyên nhân chủ yếu là do xếp hạng tín dụng của Moody’s

đối với Việt Nam chỉ ở mức B2. Đây là hạn chế nói chung của tồn bộ thị trường tài

chính ở Việt Nam chứ không phải đối với riêng việc sử dụng Bitcoin. Cũng như mọi

hình thức đầu tư khác, người dùng Bitcoin sẽ phải hiểu rõ và cân nhắc kĩ tỷ lệ này

trong quá trình tham gia vào thị trường.

Trong khi phạm vi chấp nhận Bitcoin trên thế giới ngày càng mở rộng, đối

với Việt Nam, các điều kiện tiền đề khác cho việc sử dụng Bitcoin cũng đang có xu

hướng hồn thiện và phát triển. Ngoài ra, việc cải thiện mức xếp hạng tín dụng vẫn

ln là mục tiêu dài hạn của thị trường tài chính Việt Nam. Do đó, để phát triển thị

trường tài chính bắt kịp với xu thế của thế giới, Việt Nam vẫn nên xem xét việc

công nhận Bitcoin trong tương lai.

4.2.1.3. Cơ sở hạ tầng ở Việt Nam

a) Hạ tầng thanh tốn

Tỷ trọng thanh tốn khơng dùng tiền mặt

Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt so

với tổng phương tiện thanh toán đã giảm dần qua các năm (từ 31,6% năm 1991

xuống còn 11,8% vào tháng 9/2012). Đây là một tiền đề quan trọng cho việc phát



72



triển các dịch vụ thanh toán điện tử tại Việt Nam (Xem Biểu đồ 12 – Phụ lục).

Các hình thức thanh tốn trực tuyến

Theo khảo sát của cục TMĐT và CNTT năm 2013, hình thức thanh tốn

chủ yếu được sử dụng trên mạng internet được người dân sử dụng nhiều nhất vẫn

là thanh tốn tiền mặt (74%). Tuy nhiên các hình thức thanh toán khác bắt đầu

được người dung quan tâm đến như Ví điện tử bắt đầu xuất hiện và có tiềm năng

phát triển rất lớn trong tương lai. Xu hướng này cho thấy người dung bắt đầu có

sự quan tâm đến những hình thức thanh tốn trực tuyến đơn giản thuận tiện hơn.

Sự xuất hiện của Bitcoin cũng các sàn giao dịch bắt đầu có hoạt động nhất định

của người dung trên internet dự báo về một loại hình thanh tốn thuận tiện,

khơng mất phí giao dịch, nhanh gọn và có tính bảo mật cao (như đã phân tích ở

các phần trước) sẽ đáp ứng được nhu cầu của người dùng ngày càng có thói quen

sử dụng internet để trao đổi dịch vụ, hàng hóa (Xem biểu đồ 13,14 – Phụ lục).

Hạ tầng công nghệ thông tin

Tài nguyên Internet

Internet ở Việt Nam được hình thành và phát triển từ năm 1997, từ đó đến

nay, Việt Nam ln được thế giới đánh giá là một trong những quốc gia có số người

sử dụng internet tăng nhanh nhất hằng năm (Xem Biểu đồ 15 – Phụ lục).

Theo Báo cáo tài nguyên internet Việt Nam 2013, trong 16 năm phát triển

của internet Việt Nam, tài nguyên internet - tham số định danh phục vụ cho hoạt

động internet (tên miền.vn, địa chỉ IP, số hiệu mạng) đã tăng trưởng mạnh mẽ, tạo

điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của internet Việt Nam. Trong lĩnh vực đăng ký

sử dụng tài nguyên internet, những năm gần đây, Việt Nam gia tăng đáng kể các tổ

chức có mạng lưới kết nối đa hướng, đăng ký sử dụng số hiệu mạng ASN và vùng

địa chỉ độc lập. Điều này thể hiện sự đa dạng, phát triển trong mạng lưới hạ tầng

thông tin với sự trưởng thành trong mạng lưới người sử dụng, khơng hồn tồn lệ

thuộc vào mạng của các nhà cung cấp. Dịch vụ internet Việt Nam ngày càng đa

dạng, phong phú. Các loại hình dịch vụ kết nối tốc độ cao có mức độ tăng trưởng

nhanh chóng. Những năm gần đây, dịch vụ truy cập internet qua hạ tầng di động 3G

thể hiện sự tăng trưởng vượt bậc do sự tiện lợi trong sử dụng.



73



Trung bình, người dùng trong nước truy cập internet 26,2 giờ mỗi tháng, chỉ

kém Thái Lan là 27,2 tiếng và vượt xa các nước khác trong khu vực Đông Nam Á

như Singapore, Malaysia… Bên cạnh đó, cũng có tới 90% trong tổng số người sử

dụng internet tại Việt Nam từng vào mạng bằng thiết bị di động và 50% truy cập

internet qua điện thoại ít nhất một lần mỗi ngày. Năm 2013 Việt Nam chính thức trở

thành thành viên thứ 143 của Tổ chức hỗ trợ tên miền cấp cao mã quốc gia (ccNSO)

thuộc Tổ chức quản lý tên miền và địa chỉ internet quốc tế (ICANN) vào ngày

20/11/2013.

Thị trường dịch vụ di động và viễn thông

Sự tăng trưởng của thị trường di động được thúc đẩy mạnh mẽ bởi các công

ty viễn thông, khi đầu tư rất nhiều tiền để xây dựng cơ sở hạ tầng và giữ được mức

giá thấp cho người sử dụng. Điều này giúp cho Việt Nam chúng ta trở thành nước

có dịch vụ di động và 3G đang tin cậy nhất khu vực Đông Nam Á (Xem Biểu đồ 16

– Phụ lục).

- Tính đến tháng 12/2012, có khoảng 121,7 triệu thuê bao di động (cao hơn

30 triệu so với 92,5 triệu dân)

- 30% người sử dụng điện thoại đang sở hữu điện thoại thông minh

- Khu vực đơ thị có đến 60% người đang sử dụng 3G

- 6% người sử dụng mạng xã hội kiểm tra tài khoản bằng điện thoại mỗi

ngày - so với 52,1% lượng người sử dụng máy tính để kiểm tra.

Hạ tầng viễn thơng dự kiến đến năm 2015 sẽ phủ sóng di động băng rộng đến

70% cư dân trong cả nước,triển khai xây dựng cáp quang đến hộ gia đình tại tất cả các

khu đô thị mới; 20%-30% số hộ gia đình có máy tính và internet băng thơng rộng. Việt

Nam đặt mục tiêu đến năm 2015 trở thành một trong 20 quốc gia cung cấp dịch vụ gia

công phần mềm và nội dung số hấp dẫn nhất thế giới. Các nhà chuyên môn cho rằng,

tương lai của nền kinh tế internet Việt Nam là đạt 17%-20% GDP vào năm 2015 và từ

20%-30% vào năm 2020.

Vì vậy, nhìn chung so với các nước đã chấp nhận Bitcoin và có thị trường



74



Bitcoin phát triển thì ở Việt Nam, có thể thấy điều kiện hiện có là chưa đủ. Độ mở

cửa thị trường còn thấp, rủi ro thị trường cao, tâm lý người tiêu dùng chưa quen với

hình thức thanh tốn điện tử. Tuy nhiên, các yếu tố này đều đang có xu hướng thay

đổi phù hợp với điều kiện để chấp nhận Bitcoin, đặc biệt khi cơ sở hạ tầng và công

nghệ thông tin ở Việt Nam đang phát triển đáng kể . Do đó, đứng trước thời đại tồn

cầu hóa kinh tế, chúng ta cần tận dụng những thách thức, khó khăn để biến nó thành

cơ hội, đưa đất nước phát triển vượt bậc.

4.2.2. Quan điểm đối với việc chấp nhận và sử dụng Bitcoin ở Việt Nam

Dù chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam, Bitcoin đã nhanh chóng nhận được sự chú

ý của nhiều người cũng như các doanh nghiệp. Việc xác định hình thái của Bitcoin

để có khn khổ pháp lý rõ ràng và quản lý hiệu quả hơn là vô cùng quan trọng.

Ngày 13/1, một lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước cho rằng, Bitcoin là đồng tiền không

hợp pháp tại Việt Nam, do đó khơng được chấp nhận trên tồn lãnh thổ Việt Nam.

Chính phủ Việt Nam vừa qua cũng đã có thơng cáo cần thiết về việc sử dụng tiền ảo

trong hệ thống thanh tốn chính thống của nhà nước. Ngồi thơng cáo trên, hiện

chưa có văn bản pháp quy nào quy định về việc thanh toán thơng qua hình thức tiền

ảo, các quy định về giao dịch thương mại điện tử hay thanh tốn khơng dùng tiền

mặt gần đây cũng không hoặc chưa đề cập đến. Điều này đồng nghĩa với việc Nhà

nước chưa công nhận giao dịch bằng tiền ảo trên mạng Internet nên khi có tranh

chấp thì có thể xem đây là giao dịch vô hiệu. Tuy nhiên, trong tương lai không xa,

khi Bitcoin được sử dụng rộng rãi trên thế giới, việc không thừa nhận đồng tiền này

có thể gây trở ngại trong việc phát triển kinh tế và hội nhập ở nước ta. Thay vì

khơng chấp nhận, đề xuất các biện pháp quản lý Bitcoin sẽ giúp chúng ta hạn chế

được những bất cập và phát huy lợi ích của đồng tiền này.

Trong khi có nhiều ý kiến cho rằng “Bitcoin là loại hình tiền tệ ảo”, quan

điểm này có thể gây nhầm lẫn và khó khăn trong cơng tác quản lý vì vì nhưng đặc

điểm riêng biệt của loại tiền này như sau:

- Khơng có cơ quan phát hành

- Khơng có giới hạn địa lý

- Có số lượng hữu hạn



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

THỰC TIỄN SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ BITCOIN VÀ CÁC LOẠI TIỀN ẢO KHÁC Ở VIỆT NAM VÀ CÁC KHUYẾN NGHỊ VỀ CHÍNH SÁCH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×