Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
4 KẾT LUẬN CHUNG VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA HỌC SINH ĐỐI VỚI DỊCH VỤ ĐÀO TẠO DÀNH CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI CÁC TRƯỜNG THCS HÒA NHẬP Ở HÀ NỘI

4 KẾT LUẬN CHUNG VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA HỌC SINH ĐỐI VỚI DỊCH VỤ ĐÀO TẠO DÀNH CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI CÁC TRƯỜNG THCS HÒA NHẬP Ở HÀ NỘI

Tải bản đầy đủ - 0trang

91



Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm nghiên cứu

Kết quả phân tích hồi quy biến TM theo 5 biến độc lập bằng phương pháp

Enter cho thấy biến tất cả các biến đều có hệ số Beta lớn hơn 0. Từ phương

trình trên suy ra tất cả các yếu có tác cùng chiều tới sự hài lòng của học sinh đối

với dịch vụ đào tạo dành cho trẻ khuyết tật tại các trường THCS Hòa nhập ở Hà

Nội.

 Phương trình hồi quy mẫu của mơ hình:

HL = 1,449 + (0,244*CTDT ) + (0,361*DNGV) + (0,325*DNPV) +

(0,150*CSVC) + (0,293*CTBT)

Từ phương trình trên, có thể kết luận (1) mức độ ảnh hưởng của nhân tố

“Đội ngũ Giáo viên”) lên sự hài lòng đối với dịch vụ đào tạo dành cho trẻ

khuyết tật tại các trường THCS Hòa nhập ở Hà Nội là cao nhất. (2) Mức độ ảnh

hưởng của nhân tố “Đội ngũ cán bộ phục vụ” lên sự hài lòng đối với dịch vụ

đào tạo dành cho trẻ khuyết tật tại các trường THCS Hòa nhập ở Hà Nội là

mạnh thứ hai. (3) Mức độ ảnh hưởng của nhân tố “Chương trình bổ trợ” lên sự

hài lòng đối với dịch vụ đào tạo dành cho trẻ khuyết tật tại các trường THCS

Hòa nhập ở Hà Nội là mạnh thứ ba. (4) (5) lần lượt là mức độ ảnh hưởng của

nhân tố “Chương trình dào tạo”, “Cơ sở vật chất. Đây là kết luận quan trọng

nhằm giúp nhóm nghiên cứu đưa ra những kiến nghị phù hợp trong chương 4.

3.4.2 Đánh giá chung về sụ hài lòng của học sinh đối với dịch vụ đào

tạo dành cho trẻ khuyết tật tại các trường THCS hòa nhập ở Hà Nội

Trong mỗi nhân tố tổng điểm của các câu hỏi được cộng dồn lại và chia

trung bình cho số lượng câu hỏi. Sự chênh lệch giữa điểm mong đợi và điểm

thực trạng thể hiện chất lượng của dịch vụ. Nếu các giá trị khoảng cách trong

các nhân tố < 0 chứng tỏ thực trạng dịch vụ chưa đáp ứng được mong đợi của



92



người dân và cần có những giải pháp hợp lý để khắc phục và nâng cao chất

lượng dịch vụ.

Bảng 3.14 Khoảng cách của các nhân tố

Khoảng

Mong



Nhân tố



đợi



Thực

trạng



cách (Kỳ

vọng –

Thực



Mức độ

hài lòng



trạng)

Chương trình đào

tạo

Đội ngũ giáo viên



4,4



3,3



-1,1



4,4



3,3



-0,9



Đội ngũ cán bộ



Chưa hài

lòng

Chưa hài

lòng

Chưa hài



phục vụ và hỗ trợ đào



4,4



3,4



-0,9



4,4



3,3



-1,0



4,4



3,4



-1,0



lòng



tạo

Cơ sở vật chất

Chương trình bổ

trợ



Chưa hài

lòng

Chưa hài

lòng



Nguồn: Kết quả điều tra của nhóm nghiên cứu





Khoảng cách giữa mong đợi và thực trạng của các nhân tố nằm



trong khoảng (--0,9) đến (> -1,1) điểm, ở mức trung bình.



93







Khơng có nhân tố nào trong năm nhân tố nhận được sự hài lòng từ



người thụ hưởng dịch vụ.



Biểu đồ 3.10 Khoảng cách giữa các nhân tố

Nguồn: Kết quả điều tra của nhóm nghiên cứu

“Cơ sở vật chất” và “Chương trình bổ trợ” là hai nhân tố rất đáng được

quan tâm. Để thu hẹp khoảng cách của 2 nhân tố này nhà trường và các cơ quan

chức năng cần chú ý hơn nữa về mong đợi chất lượng dịch vụ từ phía người sử

dụng. “Cơ sở vật chất” và “Chương trình bổ trợ” là hai nhân tố có khoảng cách

là (-1,0 điểm). Hai nhân tố này thể hiện rằng thực tế họ chưa được thỏa mãn, vì

vậy rất cần có sự điều chỉnh phù hợp để đáp ứng được mong đợi và yêu cầu của

học sinh, đối tượng trực tiếp thụ hưởng dịch vụ.Các cơ sở vật chất tại trường

cần được nâng cao và nâng cấp hơn nữa nhằm đáp ứng những nhu cầu đặc biệt

của các em học sinh khuyết tật. Các hoạt động bổ trợ phong phú, đa dạng phát

triển tính cách, rèn luyện kĩ năng cần thiết cho tương lai.



Biểu đồ 3.11 Khoảng cách giữa Thực trạng và Mong đợi của các nhân tố

Nguồn: Kết quả điều tra của nhóm nghiên cứu

Nhân tố “Đội ngũ giáo viên” và “Đội ngũ cán bộ phục vụ và hỗ trợ đào

tạo” là nhân tố tiềm năng nhất, có điểm khoảng cách giữa mong đợi và thực

trạng của nhân tố này là nhỏ nhất (-0,9 điểm). Trong đó, điểm mong đợi là (4,4)

và điểm thực trạng là (3,4). Thông qua nhân tố này có thể thấy mong đợi về

chất lượng dịch vụ giáo dục đào tạo dành cho trẻ em khuyết tật tại các trường

THCS Hòa nhập đã được đáp ứng nhiều nhất, so sánh với các nhân tố còn lại.

Biến trong nhân tố “Chương trình đào tạo” thể hiện mong đợi của người

sử dụng dịch vụ chưa được đáp ứng là Nội dung, số lượng mơn học, kết cấu



94



chương trình hay lượng kiến thức chương trình cung cấp. Vì vậy, các cơ sở giáo

dục cần có những giải pháp hợp lý để nâng cao chất lượng phòng học, các trang

thiết bị, giáo cụ trực quan nhằm tạo điều kiện để học sinh được học tập trong

môi trường chuẩn.

3.4.3 Nguyên nhân dẫn đến việc chưa hài lòng của học sinh đối với

dịch vụ đào tạo dành cho trẻ khuyết tật tại các trường THCS Hòa nhập ở

Hà Nội

Văn hóa - xã hội

Xã hội hiện đại ngày càng phát triển, người dân dễ dàng tiếp cận được với

những dịch vụ có chất lượng cao từ khắp nơi trên thế giới, hoặc có thể tiếp nhận

thông tin về những sản phẩm, dịch vụ này qua các phương tiện đại chúng, qua

mạng xã hội. Cuộc sống trở nên khá giả, khả năng chi trả để được thụ hưởng

dịch vụ cao hơn tăng lên, vì vậy sự đòi hỏi trong cuộc sống ngày càng cao, họ

mong đợi chất lượng giáo dục nước nhà được đổi mới, nâng cao tồn diện, nhất

là ở bậc THCS vì đây là bậc học quan trọng đối với sự phát triển của mỗi con

người. Trên thực tế, những thay đổi, cải biến của chất lượng dịch vụ giáo dục

trong nước, từ đội ngũ giáo viên đến cơ sở vật chất, chưa đáp ứng được nhu cầu

của một bộ phận không nhỏ người dân. Bên cạnh các trường công lập và dân

lập do Nhà nước đầu tư và quản lí, sự xuất hiện của ngày càng nhiều các trường

học mang tiêu chuẩn quốc tế, các cơ sở giáo dục quốc tế sẽ khiến họ phân vân

và so sánh nên những quyết định về nơi học tập ngày càng trở nên đa dạng. Đặc

biệt khi đối tượng là các học sinh khuyết tật, sự phát triển xã hội cần được toàn

diện và cụ thể. Khi đó, phát triển cũng như nâng cao lợi ích cho các đối tượng

đặc biệt của xã hội là một điều vô cùng quan trọng. Giữa vô vàn lựa chọn, phụ

huynh học sinh thường có xu hướng chọn những nơi cung cấp dịch vụ giáo dục



95



tốt hơn, đặc biệt là dành cho cac em khuyết tât, khi số lượng cơ sở giáo dục

dành cho trẻ khuyết tật có hạn, cho dù phải trả chi phí cao hơn vì họ tin tưởng

chi phí cao hơn đồng nghĩa với chất lượng đào tạo tốt hơn. Nếu xét đến phương

diện chất lượng dịch vụ cơ sở giáo dục cung cấp, các dịch vụ đào tạo dành cho

trẻ khuyết tật ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng chưa đủ “tầm” để sánh

với các cơ sở giáo dục nước ngoài.

Cơ chế chính sách

Trong khn khổcủa Dự án “Tăng cường tiếp cận và chất lượng giáo dục

hòa nhập thơng qua cơng nghệthông tin cho trẻ khuyết tật” (hợp tác giữa

Tổchức CRS và BộGiáo dục - Đào tạo), một khảo sát về:

Đánh giá những khó khăn của TKT tiếp cận với bậc học phổ thông nhằm

đưa ra các giải pháp sửdụng CNTT đểtăng cường tiếp cận tốt nhất cho TKT

trong tương lai” đã được tiến hành tại 16 trường hòa nhập tiểu học, THCS và 7

cơ sở giáo dục hoà nhập ở 4 tỉnh, thành: Thái Nguyên, Hà Nội, Quảng Bình và

Tp. HồChí Minh với mẫu là 487 người bao gồm cán bộquản lý GD, GV, HS,

HSKT và cha mẹ TKT, đại diện Hội NKT, chuyên gia CNTT… với các phương

pháp phỏng vấn nhóm, phỏng vấn sâu, phiếu hỏi bán cấu trúc, quan sát giờ

chơi, dựgiờ, thu thập sốliệu thống kê… Khảo sát được thực hiện từtháng

12/2012 đến tháng 2/2013. Sau đây là một sốphát hiện phản ánh những rào cản

chất lượng học tập của trẻkhuyết tật.

Rào cản xã hội

Sốlượng và tỷ lệ TKT đi học phổthông hiện nay ởcác địa phương chưa xác

định được đầy đủ và chính xác, điều này là bất cập so với yêu cầu về“Xây dựng

hệ thống quản lý thơng tin về trẻ em có hồn cảnh khó khăn từ trung ương đến



96



địa phương” trong Điều 6: Nội dung quản lý về giáo dục hồ nhập (Thơng tư

số39/2009/TT-BG-ĐT).

Một sốTKT còn khả năng đi học nhưng chưa tiếp cận được giáo dục tiểu

học do công tác tuyên truyền, vận động và nhận thức của cha mẹcòn hạn chế,

hồn cảnh gia đình khó khăn, nhà xa trường học hoặc bị từ chối dưới các hình

thức khác nhau. Một sốTKT đi học muộn so với tuổi do gia đình thương con,

hoặc do tiếp cận thông tin muộn. Việc TKT đi học muộn so với tuổi dù vì bất cứ

lí do gì cũng dẫn đến những hậu quả là Thơng thường khi q tuổi; bản thân

TKT và gia đình sẽ khơng muốn đi học nữa, nhà trường cũng ngại nhận.Dù có

đi học TKT lớn khơng muốn đi học với trẻnhỏhơn có thể cũng sẽ dẫn đến bỏ

học.

Tỉ lệ HSKT cấp THCS thấp hơn rất nhiều so với cấp tiểu học do gia đình

TKT bằng lòng với mục tiêu là trẻbiết đọc, biết viết sau khi học hết chương

trình tiểu học. Hơn nữa HSKT đã nhiều tuổi, có thểlao động giúp gia đình hoặc

kiếm sống - đặc biệt chương trình THCS khó hơn so với tiểu học, thêm vào đó

là thiếu sựquản lý, theo dõi chặt chẽviệc chuyển cấp của HSKT. Việc học

chuyển tiếp của HSKT còn gặp khó khăn khi HSKT học hồ nhập có khả năng

học tiếp gặp khó khăn khi chuyển lên cấp THCS, hoặc THCSvì ởcác trường hòa

nhập chưa sẵn sàng tiếp nhận lý do là: cán bộ quản lý và GV chưa được bồi

dưỡng chuyên môn, thiếu các phương tiện đặc thù nhưSGK chữnổi, GV không

biếtchữnổi hoặc giao tiếp bằng ngơn ngữ ký hiệu nhưtrong trường hồ nhập

Chưa có quy chếchuyển cấp từ THCS lên THCS cho HSKT.HSKT học

hồ nhập có khả năng học tiếp gặp khó khăn khi chuyển hòa nhập cấp THCS,

hoặc THCS vì các trường chưa đủ điều kiện để tiếp nhận .Còn một tỉlệlớn TKT

bỏhọc sau tiểu học ởcác địa phương. Vì vậy, cần có hình thức học tập phù hợp

thơng qua ứng dụng CNTT tạo cơhội cho nhóm trẻnày tiếp tục học đểhòa nhập

xã hội.

Rào cản đối với HSKT trong q trình học tập



97



Do thiếu tiêu chí và cơng cụ đánh giá TKT nên không đánh giá đúng khả

năng của HSKT gây ảnh hưởng đến xác định mục tiêu và biện pháp tác động

đến từng em. HSKT thường được xác định khảnăng dưới mức độ phát triển nên

khi dạy học GV không đặt kỳ vọng đúng mức với trẻ, hoặc GV nhầm lẫn dạng

và mức độkhó khăn dẫn đến sai lệch trong sử dụng phương tiện hỗ trợ HSKT.

Tiêu chí để xác định thế nào là TKT ở Điều 4: Dạng tật trong Nghị định

28/2012/NĐ-CP vềquy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số. Điều luật

Người khuyết tật [4] chưa phù hợp với tất cảcác dạng tật. Đồng thời, cho đến

nay vẫn chưa có hướng dẫn và cơng cụ để xác định TKT. Do vậy, các địa

phương mới chỉxác định NKT một cách chủquan theo cảm tính và những biểu

hiện bên ngoài và tập trung vào việc khảnăng tựphục vụbản thân của NKT. Một

số dạng KT nhưkhiếm thị, khiếm thính thường được xác định dựa vào kết luận

của Y tế. Việc xác định và đánh giá chức năng cho TKT trí tuệmột cách khoa

học thì vẫn chưa thực hiện được. Tiêu chí vềdạng CPTTT và cơng cụ đánh giá

dạng tật này còn chưa rõ ràng, cũng như việc xác định cơquan chun mơn nào

có thẩm quyền xác nhận TKT đang là vấn đềvà trở thành rào cản đối với thực

tiễn giáo dục TKT.

Tài liệu học tập

Cho dù phương pháp giảng dạy và đội ngũ giáo viên có đổi mới đến đâu

nhưng tài liệu học tập còn nghèo nàn và lạc hậu, thiếu tính cập nhật thì sự hài

lòng đối với chương trình đào tạo CLC sẽ còn bị ảnh hưởng. Hiện nay, học sinh

vẫn cảm thấy chưa thỏa mãn với khối lượng kiến thức học tập khổng lồ, ít được

áp dụng vào thực tiễn nên các em sẽ cảm thấy việc học những kiến thức này là

không cần thiết. Việc theo học tại chương trình CLC dường như khơng khác các

chương trình đào tạo THCS khác vì vẫn sử dụng chung một bộ sách giáo khoa.



98



CHƯƠNG 4

ĐỀ XUẤT, GỢI Ý NHẰM NÂNG CAO SỰ HÀI LÒNG KHI SỬ

DỤNG DỊCH VỤ GIÁO DỤC CÔNG DÀNH CHO TRẺ KHUYẾT TẬT



Dựa trên kết quả kiểm định các tiêu chí và phân tích phương trình hồi quy

trên mẫu điều tra trong chương 3 cùng kết luận về mức độ ảnh hưởng của các

nhân tố “Chương trình đào tạo”, “Giáo viên”, “Cán bộ phục vụ và hỗ trợ đào

tạo”, “Cơ sở vật chất”, “Các hoạt động bổ trợ” lên sự hài lòng của học sinh và

phụ huynh với Dịch vụ đào tạo công dành cho trẻ khuyết tật, nhóm nghiên cứu

đưa ra những đề xuất, gợi ý nhằm cải thiện sự hài lòng của học sinh và phụ

huynh đối với các trường THCS hoà nhập trên địa bàn Hà Nội.

4.1 PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ ĐÀO TẠO Ở HÀ

NỘI CHO ĐẾN NĂM 2020

4.1.1 Mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế - xã hội đến 2020 và

tầm nhìn đến năm 2030 của Hà Nội

Năm 2011, Chính Phủ đã phê duyệt “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

thành phố Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”, “Quy hoạch tổng

thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến

năm 2030”, “Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm

nhìn đến năm 2050”. Đây là những căn cứ pháp lý rất quan trọng để xây dựng

và phát triển thủ đơ theo hướng văn minh, hiện đại. Theo đó, Hà Nội sẽ xây

dựng và phát triển “trở thành Thành phố Xanh - Văn hiến - Văn Minh - Hiện

đại, trên nền tảng phát triển bền vững, Hà Nội trong tương lai sẽ phát triển năng

động và hiệu quả, là biểu tượng cho cả nước, đóng vai trò trung tâm hành chính

- chính trị Quốc gia, trung tâm lớn của Quốc gia về văn hoá - khoa học - giáo



99



dục - kinh tế,...”. Hà Nội cũng sẽ hình thành hệ thống các khu hành chính, chính

trị của Trung ương và thành phố, có hệ thống cơng sở hiện đại, với những kiến

trúc đặc trưng tiêu biểu của Thủ đô. Vào năm 2030, Hà Nội sẽ là một Thủ đô

văn minh, với tổ chức xã hội phù hợp với trình độ tiên tiến về kinh tế tri thức và

công nghệ thông tin, có những hệ thống cơng trình văn hóa tiêu biểu của cả

nước. Hà Nội sẽ là thủ đơ có khơng gian xanh, sạch, đẹp, hiện đại, có kiến trúc

đơ thị mang dấu ấn của một Thủ đô ngàn năm văn hiến và mang đậm bản sắc

văn hóa của dân tộc.

Hà Nội đề ra mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 20112015 là 10%/năm, thời kỳ 2016- 2020 đạt 9%/năm và khoảng 8%/năm thời kỳ

2021-2030. Đến năm 2015, GDP bình quân đầu người của Hà Nội đạt khoảng

3.300 USD, đến năm 2020 đạt 5.300 USD và năm 2030 đạt 11.000 USD (tính

theo giá thực tế). Tốc độ tăng giá trị xuất khẩu trên địa bàn bình quân là 1012%/năm thời kỳ 2011-2015 và 14-15% thời kỳ 2016-2020. Quy mô dân số Hà

Nội đến năm 2015 đạt 7,2-7,3 triệu người, năm 2020 đạt khoảng 7,9-8 triệu

người và năm 2030 đạt khoảng 9,4-9,5 triệu người. Tỷ lệ lao động qua đào tạo

khoảng 55-60% vào năm 2015 và 70-75% vào năm 2020, đưa Thủ đô trở thành

trung tâm đào tạo chất lượng cao của cả nước và có tầm cỡ khu vực. Hà Nội đặt

mục tiêu xây dựng nền văn hóa tiên tiến, giàu bản sắc dân tộc, người Hà Nội

thanh lịch, văn minh. Tỷ lệ đơ thị hóa của Hà Nội năm 2015 khoảng 46-47%,

năm 2020 đạt 54-55%…

Để đáp ứng được nhu cầu đầu tư, thành phố Hà Nội đã đề ra hệ thống các

biện pháp huy động vốn một cách tích cực, trong đó nguồn nội lực là chủ yếu,

huy động tối đa nguồn vốn từ quỹ đất, từ tài sản công thuộc sở hữu Nhà nước

để phát triển đô thị, kết cấu hạ tầng, chú trọng thu hồi vốn từ các thành phần

kinh tế ngoài quốc doanh, phát triển văn hóa xứng tầm với truyền thống, đẩy



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

4 KẾT LUẬN CHUNG VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA HỌC SINH ĐỐI VỚI DỊCH VỤ ĐÀO TẠO DÀNH CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI CÁC TRƯỜNG THCS HÒA NHẬP Ở HÀ NỘI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×