Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ DỊCH VỤ ĐÀO TẠO DÀNH CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI HÀ NỘI

1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ DỊCH VỤ ĐÀO TẠO DÀNH CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI HÀ NỘI

Tải bản đầy đủ - 0trang

48



của Hà Nội chiếm 12,73% của cả quốc gia và khoảng 41% so với tồn

vùng Đồng bằng sơng Hồng. Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh

tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2014, Hà Nội xếp ở vị trí thứ 26/63 tỉnh thành.

Đáng chú ý, trong bối cảnh khó khăn chung, Hà Nội đã phấn đấu hồn thành

nhiệm vụ thu ngân sách năm 2013, đạt 161.179 tỷ đồng, tăng hơn 10% so với

năm 2012. Về văn hóa - du lịch, Hà Nội là một trong những thành phố có tiềm

năng nhất về phát triển du lịch với những di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh

có giá trị. Về y tế, thủ đơ cũng có một hệ thống bệnh viện, phòng khám tư nhân

đang dần phát triển bên cạnh đội ngũ y bác sĩ có chun mơn cao đến từ các

bệnh viện đầu ngành. Về giáo dục, vẫn là trung tâm giáo dục lớn nhất Việt Nam

với nhiều trường công lập nổi tiếng về truyền thống lâu đời và chất lượng giảng

dạy. Là thành phố thủ đô và có vị trí ở khu vực trung tâm của miền Bắc, mạng

lưới giao thông ở Hà Nội tương đối thuận tiện, bao gồm cả đường

không, đường bộ, đường thủy và đường sắt. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng và kĩ thuật

đơ thị còn thấp kém, lượng phương tiện tham gia giao thông quá lớn và ý thức

của người dân còn chưa tốt.

*Văn hóa, phong tục và sinh hoạt

Từ trước đến nay, Hà Nội luôn là điểm đến của người dân tứ xứ, vì vậy

những nét đặc sắc trong văn hóa, phong tục và sinh hoạt, dù ít hay nhiều, cũng

đều được đem đến thủ đô, mà tinh hoa tụ hội ở các quận nội thành Hà Nội.

Theo nhà sử học Dương Trung Quốc, lịch sử của Hà Nội cũng đã ghi nhận dân

cư của thành phố có những thay đổi, xáo trộn liên tục qua thời gian. Ở những

làng ngoại thành, ven đô cũ, nơi người dân sống chủ yếu nhờ nơng nghiệp,

thường khơng có sự thay đổi lớn. Nhiều gia đình nơi đây vẫn giữ được gia

phả từ những thế kỷ XV, XVI. Nhưng trong nội đô, khu vực của các phường

thương nghiệp và thủ công, dân cư xáo trộn rất nhiều. Do tính chất của cơng

việc, nhiều thương nhân và thợ thủ cơng ít khi trụ nhiều đời tại một điểm. Gặp



49



khó khăn trong kinh doanh, những thời điểm sa sút, họ tìm tới vùng đất khác.

Cũng có những trường hợp, một gia đình có người đỗ đạt được bổ nhiệm làm

quan tỉnh khác và đem theo gia quyến, đôi khi cả họ hàng. Những sự thay đổi,

xáo trộn liên tục về vấn đề dân cư vẫn đang tiếp tục diễn ra.

*Dịch vụ giáo dục

Hà Nội được biết đến như là trung tâm giáo dục lớn nhất cả nước, luôn coi

trọng việc phát triển dịch vụ giáo dục. Hiện nay, hệ thống giáo dục ở Hà Nội

vẫn phát triển với nhiều cơ sở giáo dục, các trường công lập, dân lập, bán

công,.... Cùng với các trung học danh tiếng, hệ thống giáo dục của thành phố

vẫn duy trì những trường bổ túc và cả các lớp học xóa mù chữ. Tuy nhiên sự đa

dạng của các dịch vụ giáo dục đó với các đối tượng đặc biệt là chưa cao, đặc

biệt là đối tượng người khuyết tật.

Trong tổng số gần 1500 cơ sở đào tạo giáo dục phổ thông, bao gồm gần

700 trường tiểu học, 600 trường trung học cơ sở và 200 trường trung học phổ

thông cùng hơn 1 triệu học sinh, điều đáng lo ngại nhất hiện nay là phụ huynh

vẫn còn phàn nàn về chất lượng giáo dục. Các bậc cha mẹ vẫn không có thái độ

tin tưởng, lạc quan vào sự ổn định của sự phát triển đối với các chương trình

giáo dục dành cho trẻ khuyết tật và vẫn ln tìm kiếm những lựa chọn tốt hơn ở

những tỉnh thành khác ngoài Hà Nội.

*Các dự án giáo dục đã thực hiện

Từ năm , thành phố Hà Nội đã phát triển chương trình đào tạo dành cho

trẻ khuyết tật. Hiện nay trên toàn thành phố Hà Nội đã có 25 trường ở nhiều cấp

học, trong đó có 13 trường mẫu giáo, 12 trường đào tạo cấp tiểu học đến trung

học. Ví dụ như trường Hoà nhập Ánh Sao dành cho trẻ tự kỉ, trường tiểu học

Bình Minh dành cho trẻ chậm phát triển trí tuệ, trường mầm non Lâm Nhi..

trong số này có 15 trường là trường hoà nhập và 10 trường là trường hồ nhập.

Tuy nhiên do khơng có chính sách tài chính cụ thể đi kèm nên mơ hình này

chưa mang lại kết quả như mong muốn. Nhiều nhà giáo đề nghị, Bộ GD&ĐT



50



cần nhanh chóng ban hành quy chế về việc chăm sóc, giáo dục trẻ khuyết tật,

các cơng văn hướng dẫn riêng về công tác ngành chứ không phải lồng vào

nhiệm vụ năm học như hiện nay. Theo đó, Bộ nên hạ chỉ tiêu đến năm 2015 là

30% số trẻ khuyết tật đi học, so với 50%. Nhiều nhà giáo cho rằng con số này

không khả thi do năm học 2012-2013, ở tiểu học mới chỉ huy động được 10%.

Tương tự, tổ lãnh đạo các sở Giáo dục cũng cho rằng các văn bản pháp quy về

giáo dục trẻ khuyết tật chưa thật đầy đủ, cần có một nghị định của chính phủ về

vấn đề này.

3.1.2. Tình hình chung của dịch vụ đào tạo dành cho trẻ khuyết tật tại

Việt Nam

Theo Luật người khuyết tật về chương trình đào tạo và giáo dục:

Điều 27. Giáo dục đối với người khuyết tật đã quy định:

1. Nhà nước tạo điều kiện để người khuyết tật được học tập phù hợp với

nhu cầu và khả năng của người khuyết tật.

2. Người khuyết tật được nhập học ở độ tuổi cao hơn so với độ tuổi quy

định đối với giáo dục phổ thông; được ưu tiên trong tuyển sinh; được miễn,

giảm một số môn học hoặc nội dung và hoạt động giáo dục mà khả năng của cá

nhân không thể đáp ứng; được miễn, giảm học phí, chi phí đào tạo, các khoản

đóng góp khác; được xét cấp học bổng, hỗ trợ phương tiện, đồ dùng học tập.

3. Người khuyết tật được cung cấp phương tiện, tài liệu hỗ trợ học tập

dành riêng trong trường hợp cần thiết; người khuyết tật nghe, nói được học

bằng ngơn ngữ ký hiệu; người khuyết tật nhìn được học bằng chữ nổi Braille

theo chuẩn quốc gia.

4. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì phối hợp với Bộ trưởng Bộ

Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết

khoản 2 Điều này.

Dựa trên Điều 28. Phương thức giáo dục người khuyết tật



51



1. Phương thức giáo dục người khuyết tật bao gồm giáo dục hòa nhập,

giáo dục bán hòa nhập và giáo dục hồ nhập.

2. Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục chủ yếu đối với người

khuyết tật.

Giáo dục bán hòa nhập và giáo dục hồ nhập được thực hiện trong trường

hợp chưa đủ điều kiện để người khuyết tật học tập theo phương thức giáo dục

hòa nhập.

3. Người khuyết tật, cha, mẹ hoặc người giám hộ người khuyết tật lựa

chọn phương thức giáo dục phù hợp với sự phát triển của cá nhân người khuyết

tật. Gia đình có trách nhiệm tạo điều kiện và cơ hội thuận lợi để người khuyết

tật được học tập và phát triển theo khả năng của cá nhân.

Nhà nước khuyến khích người khuyết tật tham gia học tập theo phương

thức giáo dục hòa nhập.

Theo đó, Điều 29. Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và nhân viên hỗ trợ

giáo dục

1. Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục tham gia giáo dục người khuyết tật,

nhân viên hỗ trợ giáo dục người khuyết tật được đào tạo, bồi dưỡng cập nhật về

chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng đáp ứng nhu cầu giáo dục người khuyết tật.

2. Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục tham gia giáo dục người khuyết tật,

nhân viên hỗ trợ giáo dục người khuyết tật được hưởng chế độ phụ cấp và chính

sách ưu đãi theo quy định của Chính phủ.

Và theo như Điều 30. Trách nhiệm của cơ sở giáo dục

1. Bảo đảm các điều kiện dạy và học phù hợp đối với người khuyết tật,

không được từ chối tiếp nhận người khuyết tật nhập học trái với quy định của

pháp luật.

2. Thực hiện việc cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất dạy và học chưa bảo

đảm điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật.

Trích QĐ số23/2006/BGD&ĐT ngày22/5/2006

Điều 9. Trường, lớp dành cho người khuyết tật



52



Tất cả các nhà trường đều phải có trách nhiệm tiếp nhập người khuyết tật

trên địa bàn, thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo quy định và hỗ trợ phát

triển giáo dục hòa nhập bao gồm:

a) Sắp xếp người khuyết tật vào các lớp học phù hợp và giáo dục học sinh

lòng yêu thương, giúp đỡ người khuyết tật;

b) Tư vấn, hỗ trợ cho các cơ sở giáo dục, gia đình và cộng đồng về chăm

sóc, giáo dục cho người khuyết tật;

c) Phát hiện khả năng và nhu cầu của người khuyết tật, lập kế hoạch, huy

động và tạo điều kiện cho người khuyết tật tham gia học hòa nhập;

d) Thực hiện hoạt động hỗ trợ về can thiệp sớm, giáo dục, phục hồ chức

năng phát triển kỹ năng cơ bản, hướng nghiệp, dạy nghề cho người khuyết tật;

tổ chức hoạt động chăm sóc và cung cấp các kỹ năng cơ bản, cần thiết cho

người khuyết tật trước khi vào học tại các lớp hòa nhập;

e) Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn, kiến thức, kỹ năng

chăm sóc, giáo dục về người khuyết tật cho các cơ sở giáo dục và gia đình;

f) Huy động nguồn lực của cộng đồng, các tổ chức, cá nhân trong nước và

ngồi nước cho cơng tác can thiệp sớm và chăm sóc, giáo dục cho người khuyết

tật.

Với sự trợ giúp của nhiều bên liên quan, các tổ chức phi chính

phủ, và được khuyến khích bởi những cam kết với CRPD và BMF, Việt

Nam đã ban hành Luật Người Khuyết tật (NKT) hoàn chỉnh vào tháng 6

năm 2010, và Luật này đã có hiệu lực thi hành từ 01/01/2011. Luật NKT đóng

vai trò nền móng pháp lý vững chắc cho sự bảo vệ mọi người khuyết tật ở

Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều khó khăn trong việc thực thi, nhất là

trong những ngày mới thi hành Luật NKT. Các tổ chức, cơ quan và các bên liên

quan ở địa phương đã không nhận được sự chỉ dẫn cần thiết từ những người ra

quyết định và quan chức ở trung tâm. Để giải quyết những vấn đề này, vào

tháng 4 năm 2012, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã thông qua Nghị

định 28/2012/ND-CP, là bộ hướng dẫn pháp lý đầu tiên cho việc thực thi Luật



53



Người Khuyết tật. Lần đầu tiên, Việt Nam có một định nghĩa về khuyết tật

chính thức, và chắc chắn nó sẽ giúp cho việc thu thập số liệu, phân loại và xác

định mức độ khuyết tật cũng như giám sát tác động của các chương trình. Theo

Luật NKT và Nghị định 28/2012/ND-CP, Chính phủ ghi nhận 6 loại khuyết

tật: vận động; nghe và nói; nhìn; thần kinh; trí tuệ; và các khuyết tật khác

(Chính Phủ CHXHCNVN, 2012). Nghị định cũng làm sáng tỏ cách đánh giá

các mức độ khuyết tật (đặc biệt nặng, nặng, và nhẹ). Định nghĩa chính thức này

có một số điểm khác biệt so với Khung Phân loại Quốc tế về Chức năng,

Khuyết tật và Sức khỏe (ICF)

Các cuộc khảo sát dựa trên ICF thường phân loại vào sáu dạng khuyết tật

– nhìn, nghe, vận động, tập trung/ghi nhớ, tự chăm sóc và giao tiếp – và bốn

mức độ khuyết tật – khơng có khó khăn, có một số khó khăn, nhiều khó khăn,

và khơng thực hiện được (WGDS, n.d.). Các nhóm phân loại của ICF và dạng

khuyết tật mà Việt Nam chính thức cơng nhận có một số điểm tương đồng,

tuy nhiên bên cạnh đó vẫn có nhiều khác biệt. Nguyên nhân có thể là

do định nghĩa khuyết tật chính thức của Việt Nam khơng nhấn mạnh

nhiều vào hồn cảnh xã hội và các yếu tố mơi trường như Khung ICF. Tuy

nhiên, do ngày càng có nhiều cuộc khảo sát và thăm dò ý kiến ở Việt Nam

được xây dựng dựa trên khung ICF và bộ câu hỏi của Nhóm Washington về

Thơng số Khuyết tật (WGDS), những điểm khác biệt giữa định nghĩa của

ICF và Chính phủ Việt Nam có thể gây nhiều trở ngại. Bên cạnh việc cung

cấp một định nghĩa khuyết tật chính thức, Luật NKT cũng đặt ra những

quyền lợi của người khuyết tật Việt Nam trong tiếp xúc bình đẳng với các dịch

vụ chăm sóc y tế chất lượng, phục hồi chức năng, giáo dục, việc làm, dạy

nghề, các dịch vụ văn hóa, thể thao và giải trí, giao thơng, các nơi cơng cộng,

và công nghệ thông tin. Luật cũng cung cấp một khung pháp lý thiết yếu cho



54



một xã hội hòa nhập, khơng rào cản và đem lại những cơ hội bình đẳng cho

mọi người khuyết tật.

Riêng về mặt giáo dục cho trẻ khuyết tật, Luật NKT quy định rằng ba

phương pháp giáo dục sẽ tiếp tục được thực hiện, bao gồm giáo dục hòa nhập,

giáo dục bán hồ nhập, và giáo dục hồ nhập. Tuy nhiên, “Nhà nước khuyến

khích người khuyết tật tham gia vào giáo dục hòa nhập” và hai phương pháp

còn lại chỉ nên được sử dụng khi giáo dục hòa nhập khơng phù hợp hoặc nếu

gia đình/người giám hộ cảm thấy cần thiết (Chính phủ CHXNCNVN, 2010).

Luật NKT đồng thời quy định rằng các giáo viên, giảng viên, nhân viên văn

phòng và nhân viên trợ giúp giáo dục trực tiếp tham gia vào giáo dục cho người

khuyết tật sẽ được hưởng trợ cấp. Bên cạnh đó, Luật cũng làm sáng tỏ nhiệm vụ

và hoạt động của các Trung tâm Hỗ trợ và Phát triển Giáo dục Hòa nhập.

Tại Việt Nam hiện nay, có ba loại giáo dục cho TKT: giáo dục hoà nhập,

giáo dục hội nhập, và giáo dục hòa nhập. Theo bản báo cáo thường niên năm

2010 của Ban Điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam, có

khoảng 107 trường dành cho học sinh khuyết tật, mỗi trường có khả năng phục

vụ khoảng gần 100 học sinh. Mặc dù trước đây đã có nhiều nỗ lực mở thêm các

trường hoà nhập mới, bây giờ mỗi năm chỉ có thêm hai trường. Các trường hồ

nhập này chủ yếu phục vụ các học sinh khiếm thính và khiếm thị, còn các em

với khuyết tật vận động thường hoặc đi học ở trường binh thường nếu may

mắn, hoặc được chăm sóc ở các trung tâm phục hồi chức năng, hoặc ở nhà. Hơn

thế nữa, phần lớn các trường này được đặt ở các khu vực thành phố, mặc dù

75% người khuyết tật sinh sống ở khu vực nơng thơn (ILO, 2013).

Giáo dục hòa nhập bao gồm các lớp học cộng đồng ban ngày, nhóm tình

nguyện, lớp học dân tộc, lớp học tình thương, v.v. Mặc dù những lớp học này

rất hữu ích trong việc tạo dựng những mối quan hệ bền vững giữa TKT và cộng

đồng, chúng thường diễn ra với quy mơ nhỏ và khơng có khả năng phục vụ rất

nhiều trẻ khuyết tật. Trên thực tế, giáo dục hòa nhập phục vụ lượng lớn nhất



55



các TKT có khả năng đi học. Trong năm học 2008 – 2009, thống kê Bộ Giáo

dục và Đào tạo cho thấy 390,000 TKT đang theo học các trường bình thường

khắp cả nước (HI, 2012). Mặc dù con số này cho thấy rất nhiều TKT đang được

hưởng lợi từ giáo dục hòa nhập ở Việt Nam hiện nay, nó vẫn chỉ là 28% tổng số

trẻ khuyết tật. Bên cạnh đó, phần lớn các học sinh này đều đang học ở cấp mẫu

giáo hoặc tiểu học; mức theo học của TKT ở các trường trung học cơ sở chỉ ít

hơn 1% (NCCD, 2010). Có thể thấy rõ, hệ thống hiện tại chưa được trang bị để

có thể phục vụ nhu cầu học tập của TKT. Do khơng có sự hỗ trợ thích đáng,

nhiều TKT không thể đạt chuẩn để lên lớp, và các em này chỉ tiếp tục học lại

lớp cho đến khi các em quá tuổi đi học hoặc chi phí đi học quá cao so với lợi

ích thu được. Hơn nữa, cái được gọi là “hòa nhập” thực chất chỉ là đặt các em

học sinh vào lớp học bình thường mà không cung cấp thêm bất cứ sự trợ giúp

nào khác. Mặc dù học sinh khuyết tật vẫn có khả năng học trong một lớp học

như này, các em gặp rất nhiều khó khăn trong q trình học tập. Các lớp học hội

nhập như này làm giảm khả năng hành cơng của TKT. Tóm lại, chỉ 9,2% người

khuyết tật trong cả ba phương pháp giáo dục trên là đã có bằng tốt nghiệp phổ

thông (NCCD, 2010).

3.1.3. Đặc điểm chung của dịch vụ đào tạo dành cho trẻ khuyết tật tại

các trường THCS Hòa nhập ở Hà Nội

Hà Nội là thành phố có hệ thống trường phổ thơng cơ sở (trung học cơ sở)

hay còn gọi là các trường cấp 2 rất đa dạng, bao gồm 616 trường THCS, bao

gồm cả cơng lập, bán cơng và dân lập. Trong đó có một số trường được coi là

có chất lượng hàng đầu cả nước, là nơi tập trung nhiều học sinh phổ thơng ưu tú

khơng chỉ của Hà Nội mà còn của toàn miền Bắc. Đa số các trường này thuộc

sự quản lý của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội; tuy nhiên cũng có trường khơng

chịu sự quản lý này mà trực thuộc các trường đại học. Tuy nhiên trong 616



56



trường THCS trên địa bàn Hà Nội kể trên, chỉ có 5 trường THCS là có chương

trình dành cho trẻ khuyết tật, và chỉ có 3 trường là hồn tồn là trường hoà nhập

dành cho trẻ khuyết tật. Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng

cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học, hoàn thiện học vấn cơ sở

nhất và những hiểu biết thông thường để tiếp tục học tiếp lên trung học phổ

thông, rồi đại học và cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề, hoặc đi vào

cuộc sống lao động.

Giáo dục phổ thơng cơ sở có thời gian bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp

chín. Để vào lớp 9, học sinh phải tốt nghiệp tiểu học.

Sau khi tốt nghiệp hệ giáo dục này, học sinh được nhận bằng Tốt nghiệp

Trung học cơ sở.

Trường THCS dạy các mơn học mang tính phổ thơng, cơ bản, nhưng ngày

nay bên trong trường còn tổ chức các lớp chọn, lớp chuyên; một số trường trung

học là trường chuyên, chỉ đào tạo các học sinh năng khiếu. Nội dung chương

trình đào tạo bao gồm 13 mơn chính và 1 mơn tự chọn (tin học, may, đan,...),

học sinh có chứng chỉ nghề được cộng điểm khi xét tốt nghiệp THCS. Một năm

học được chia làm hai học kỳ, học kỳ đầu thường bắt đầu vào đầu tháng chín

kéo dài tới trước tết âm lịch; học kỳ hai bắt đầu từ sau tết âm lịch cho tới tháng

năm năm sau.

*Trẻ khuyết tật và cá lớp học hòa nhập

Hiện tại ở Hà Nội, dường như giáo dục hòa nhập chỉ được thực hiện chưa

cụ thể và chưa có sự tổ chức chỉ đạo điều hành nào từ các cấp trên. Mặc dù đã

có những chính sách quy định giáo dục hòa nhập cho tất cả trẻ em có khả năng

đi học, phần lớn các trường phớt lờ luật pháp và khơng chịu nhận TKT vào học.

Để có thể cho con mình đi học, phụ huynh của TKT phải có những nỗ lực phụ,

với nhiều người thậm chí phải viện đến biện pháp hối lộ. Ngoài ra, khắp cả

nước cũng có sự khác biệt giữa mức độ phát triển giáo dục hòa nhập. Mỗi tỉnh

có một mức độ sẵn sàng thực thi giáo dục hòa nhập riêng. Những nơi đã từng



57



triển khai các dự án giáo dục hòa nhập trong quá khứ thì giờ đây sẵn sàng thực

hiện Luật mới người khuyết tật hơn rất nhiều so với những nơi khác. Ví dụ như

ở tỉnh Bắc Kạn, nơi mà tổ chức Handicap International đã thực hiện dự án Giáo

dục Hòa nhập của họ, các giáo viên nói rằng những kinh nghiệm họ tích lũy

được từ thời gian tham gia vào dự án đã giúp họ rất nhiều trong việc tiên đốn

những vấn đề có thể nảy sinh khi thực hiện Luật NKT mới. Họ cũng sẵn sàng

hơn để nhận TKT vào lớp học của mình và chỉnh sửa giáo trình để phục vụ

được nhu cầu của TKT. Để giúp những giáo viên và nhân viên mới được tiếp

xúc với giáo dục đặc biệt, những người có nhiều kinh nghiệm tiếp tục đi thăm

các khu vực khác nhau của tỉnh để tuyên truyền lý thuyết và thực tiễn giáo dục

hòa nhập. Tuy nhiên, thành cơng trong giáo dục hòa nhập vẫn bị bó bọc bởi các

biên giới tỉnh, và việc khuyến khích giáo dục hòa nhập sẽ dễ dàng hơn nếu

MOET triển khai một diễn đàn quốc gia cho các nhà giáo quan tâm đến việc cải

thiện giáo dục cho TKT.

Một cách khác để nhân rộng thành công của giáo dục hòa nhập là một

mạng lưới rộng lớn tại HÀ Nội của các trung tâm hỗ trợ giáo dục hòa nhập,

MOET đã và đang khuyến khích mỗi tỉnh xây dựng ít nhất một trung tâm giáo

dục hòa nhập. Những trung tâm này là các nguồn chuẩn bị quý giá cho trẻ

khuyết tật trước khi bước vào lớp học hòa nhập với dịch vụ can thiệp sớm và

các lớp học kỹ năng sống. Với Thông tư Liên tịch #58/2012/TTLT-BGDDTBLDTBXH hướng dẫn sự thành lập và hoạt động của các trung tâm hỗ trợ giáo

dục hòa nhập, các trường và trung tâm hoà nhập trước đây đang dần được biến

thành các trung tâm hỗ trợ mới để phát triển và khuyến khích hòa nhập. Tuy

nhiên, tính đến thời điểm này, mới có 20 tỉnh có trung tâm giáo dục hòa nhập.

Thực tế, thủ đơ Hà Nội vẫn chưa có một trung tâm chính thức dành cho việc

phát triển giáo dục hòa nhập; phần lớn các trung tâm hoặc là thuộc tư nhân hoặc

là các trung tâm nhỏ trực thuộc các trường sư phạm và không quảng bá dịch vụ



58



của họ. Một vấn đề khác với việc phát triển giáo dục hòa nhập đó là phần lớn

những trường có kinh nghiệm thực hiện giáo dục hòa nhập chỉ có thể được tìm

thấy ở các thành phố lớn, và điều này trở thành một thách thức lớn khi 75% trẻ

khuyết tật sống ở khu vực nông thôn (UNFPA, 2011). Giao thông ở những khu

vực này đã khó khăn đối với người khơng khuyết tật; đối với cộng đồng khuyết

tật, việc đi lại có thể coi là không thể. Điều này càng làm giảm đi lựa chọn

trường học cho TKT. Không phải trường nào cũng cho phép TKT nhập học.

Các nguyên nhân có thể bao gồm thiếu cơ sở vật chất, giáo viên chưa đủ kỹ

năng, khơng có chỗ trống, hay ngay cả sự chú trọng vào điểm số dẫn đến chọn

lọc trong tuyển sinh. Một số người tin rằng TKT sẽ không thể học tốt và sẽ kéo

tồn bộ thành tích của trường xuống, mặc dù đây hoàn toàn là hiểu lầm. Dĩ

nhiên những ý nghĩ như này bắt nguồn từ quan niệm sai lầm rằng người khuyết

tật chỉ là những người vơ tích sự.

Phụ huynh cũng có thể trở thành nguồn gốc cho sự tuyển sinh chọn lọc,

nhất là ở các thành phố lớn nơi mà gia đình có nhiều lựa chọn để xem xét. Phụ

huynh thường mong muốn những ngôi trường tốt nhất, nổi tiếng nhất, và phụ

huynh của TKT cũng không khác biệt. So sánh tình hình chung với mơ hình đào

tạo này tại các thành phố lớn khác như thành phố Hồ Chí Minh, mặc dù có quy

định rằng tất cả các trường công lập phải nhận TKT trong quận của mình, rất

nhiều trường từ chối TKT với lý do rằng trường học đã hết chỗ. Hiện tượng

này khiến cho nhiều trường nhận thêm TKT so với quy định. Ví dụ như trường

tiểu học Nguyễn Thiện Thuật có rất nhiều lớp học có nhiều hơn sáu học sinh

khuyết tật, mặc dù MOET chỉ cho phép tối đa ba học sinh mỗi lớp. Tại Hà Nội,

phụ huynh của TKT tiếp tục tranh giành một suất học ở trường tiểu học Bình

Minh nơi có hai lớp học “hòa nhập” với mỗi lớp có khả năng phục vụ 10 học

sinh. Tuy nhiên, trường Bình Minh ln ln nhận q con số này, và số tiền để



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ DỊCH VỤ ĐÀO TẠO DÀNH CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI HÀ NỘI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×