Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nhân tố chủ quan

Nhân tố chủ quan

Tải bản đầy đủ - 0trang

45



các loại thực phẩm có trên thị trường lúc lớn lên và trưởng thành, ăn những

món ăn mềm lúc già yếu. Sở thích của họ về thời trang, phương tiện đi lại và

giải trí cũng thay đổi tùy theo tuổi tác. Chính vì vậy tùy vào đặc điểm yếu tố

của sản phẩm dịch vụ cũng sẽ ảnh hưởng khác nhau tới sự hài lòng của mỗi

khách hàng.

- Nghề nghiệp: Nghề nghiệp của một người cũng ảnh hưởng đến sự hài

lòng thơng qua việc sử dụng hàng hóa và dịch vụ. Một người công nhân với tiền

lương khiêm tốn cảm thấy hài lòng những quần áo và giày dép lao động rẻ tiền,

hộp thức ăn trưa hay chỉ đơn giản là được ngủ đủ giấc mỗi ngày. Chủ tịch của

một công ty có tiếng trên thế giới sẽ mua những quần áo đắt tiền, du lịch bằng

máy bay, làm hội viên câu lạc bộ thể thao bởi người đó cảm thấy những điều

này làm mình thỏa mãn.

- Hồn cảnh kinh tế: Hoàn cảnh kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến sự hài lòng

về sản phẩm dịch vụ của con ngời. Hồn cảnh kinh tế của một người bao gồm

thu nhập dành cho tiêu dùng (mức độ, tính ổn định và kết cấu thời gian của số

thu nhập đó), số tiền gởi tiết kiệm và tài sản, kể cả khả năng vay mượn và thái

độ đối với việc chi tiêu và tiết kiệm. Con người càng có nhiều khả năng chi trả

cho những sản phẩm, dịch vụ mà họ tiêu dùng thì mức độ thỏa mãn sự hài lòng

lại càng tăng lên.

- Phong cách sống: Người tiêu dùng tuy cùng nhóm văn hóa đặc thù hoặc

tầng lớp xã hội như nhau và thậm chí cùng nghề nghiệp giống nhau, cũng vẫn

có thể có sự khác biệt trong phong cách sống. Phong cách sống là sự tự biểu

hiện của một người được thể hiện ra thành những hoạt động, mối quan tâm và

quan điểm của người ấy trong cuộc sống. Phong cách sống mơ tả sinh động

tồn diện một người trong sự tác động qua lại giữa người ấy với môi trường

sống. Phong cách sống hàm chứa nhiều nét đặc trưng hơn là tầng lớp xã hội và

cá tính của riêng người đó. Nếu chúng ta biết một người nào đó thuộc tầng lớp

xã hội nào, chúng ta có thể suy luận ra một số biểu hiện chung về cách ứng xử



46



của người đó nhưng lại khơng thể thấy được người đó trong tư cách một cá

nhân. Và nếu biết được cá tính của một người nào đó thuộc loại nào, chúng ta

cũng có thể suy ra một số đặc điểm tâm lý đặc trưng của người đó. Chính sự

khác biệt này sẽ tạo nên sự hài lòng của mỗi khách hàng cũng sẽ khác nhau

- Các yếu tố tâm lý: Sự lựa chọn mua sắm của người tiêu dùng còn chịu

ảnh hưởng của bốn yếu tố tâm lý quan trọng là động cơ, nhận thức, kiến thức,

niềm tin và quan điểm. Động cơ một người có thể có nhiều nhu cầu vào bất kỳ

thời điểm nào trong cuộc sống của họ. Một số nhu cầu có tính chất bản năng,

chúng phát sinh từ những trạng thái căng thẳng về sinh lý của cơ thể như đói,

khát, mệt mỏi. Một số khác lại có nguồn gốc tâm lý, chúng phát sinh từ những

trạng thái căng thẳng tâm lý như nhu cầu được công nhận, ngưỡng mộ, hay kính

trọng. Hầu hết những nhu cầu này sẽ khơng có cường độ đủ mạnh để thúc đẩy

người đó hành động vào một thời điểm nhất định nào đó trong cuộc đời. Mọi

nhu cầu chỉ trở thành động cơ khi nó được tăng lên đến một cấp độ đủ mạnh.

Một động cơ hay sự thúc đẩy là một nhu cầu đang gây sức ép đủ để hướng

người ta tìm cách thỏa mãn nhu cầu đó cho nên sự hài lòng cũng sẽ khách nhau.

Tùy vào từng đặc điểm yếu tố như trên, nếu các nhà cung cấp sản phẩm

dịch vụ biết cách hài hòa, xử lý hoặc có những sản phẩm phù hợp thì họ sẽ dễ

dàng nhận được sự hài lòng thỏa mãn đối với sản phẩm dịch vụ của họ. Khi biết

được một số nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng, chúng ta sẽ

nắm bắt tốt cách thức để kích thích sự hài lòng của khách hàng, làm tốt nhân tố

ơn hòa, cố gắng vách ra kế hoạch và thực thi các nhân tố làm cho khách hàng

hài lòng, mới có thể không ngừng đáp ứng yêu cầu của khách hàng, tăng thêm

sự hài lòng của khách hàng, từ đó, thực hiện mục tiêu chất lượng làm khách

hàng hài lòng, thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp.



47



CHƯƠNG 3

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỰ HÀI LÒNG CỦA HỌC SINH ĐỐI

VỚI DỊCH VỤ ĐÀO TẠO DÀNH CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI CÁC

TRƯỜNG THCS HÒA NHẬP Ở HÀ NỘI



3.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ DỊCH VỤ ĐÀO TẠO DÀNH CHO

TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI HÀ NỘI

3.1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội Hà Nội

*Kinh tế xã hội

Hà Nội là thủ đô của cả nước, là nơi giao thoa của những nền văn hoá lớn.

Hà Nội là trung tâm đầu não về chính trị, văn hố, giáo dục, khoa học - kỹ

thuật, đồng thời là một trung tâm lớn về kinh tế, giao dịch quốc tế của cả nước.

Là thành phố có diện tích lớn nhất cả nước, với dân số 7,1 triệu người đứng thứ

nhì trên toàn Việt Nam (theo Tổng Cục Thống kê Việt Nam 2012), dân cư Hà

Nội sinh sống và làm việc chủ yếu tại các quận nội thành. Mật độ dân số trung

bình là 2.059 người/km2, khá cao và tăng nhanh cùng với q trình đơ thị hóa

của thủ đơ. Thu nhập bình quân của người dân Hà Nội là gần 3 triệu

đồng/tháng.

Trong những năm gần đây, cùng với tốc độ phát triển của thành phố,

lượng dân từ các tỉnh thành trên cả nước di cư đến Hà Nội cũng tăng nhanh,

điều đó tạo sức ép khơng nhỏ lên mọi mặt phát triển của thủ đô. Về tốc độ tăng

trưởng kinh tế từ 2011-2013, GDP của thành phố ln duy trì ở mức tăng

8,91%, tăng khoảng 1,5 lần so với tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước. Tổng

sản phẩm trên địa bàn tăng 8,25%. Tính riêng trong năm 2013, Hà Nội đã đóng

góp 10,1% GDP và 17,2% ngân sách của cả nước. Theo số liệu năm 2010, GDP



48



của Hà Nội chiếm 12,73% của cả quốc gia và khoảng 41% so với tồn

vùng Đồng bằng sơng Hồng. Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh

tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2014, Hà Nội xếp ở vị trí thứ 26/63 tỉnh thành.

Đáng chú ý, trong bối cảnh khó khăn chung, Hà Nội đã phấn đấu hoàn thành

nhiệm vụ thu ngân sách năm 2013, đạt 161.179 tỷ đồng, tăng hơn 10% so với

năm 2012. Về văn hóa - du lịch, Hà Nội là một trong những thành phố có tiềm

năng nhất về phát triển du lịch với những di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh

có giá trị. Về y tế, thủ đơ cũng có một hệ thống bệnh viện, phòng khám tư nhân

đang dần phát triển bên cạnh đội ngũ y bác sĩ có chun mơn cao đến từ các

bệnh viện đầu ngành. Về giáo dục, vẫn là trung tâm giáo dục lớn nhất Việt Nam

với nhiều trường công lập nổi tiếng về truyền thống lâu đời và chất lượng giảng

dạy. Là thành phố thủ đơ và có vị trí ở khu vực trung tâm của miền Bắc, mạng

lưới giao thông ở Hà Nội tương đối thuận tiện, bao gồm cả đường

không, đường bộ, đường thủy và đường sắt. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng và kĩ thuật

đơ thị còn thấp kém, lượng phương tiện tham gia giao thông quá lớn và ý thức

của người dân còn chưa tốt.

*Văn hóa, phong tục và sinh hoạt

Từ trước đến nay, Hà Nội ln là điểm đến của người dân tứ xứ, vì vậy

những nét đặc sắc trong văn hóa, phong tục và sinh hoạt, dù ít hay nhiều, cũng

đều được đem đến thủ đô, mà tinh hoa tụ hội ở các quận nội thành Hà Nội.

Theo nhà sử học Dương Trung Quốc, lịch sử của Hà Nội cũng đã ghi nhận dân

cư của thành phố có những thay đổi, xáo trộn liên tục qua thời gian. Ở những

làng ngoại thành, ven đô cũ, nơi người dân sống chủ yếu nhờ nông nghiệp,

thường khơng có sự thay đổi lớn. Nhiều gia đình nơi đây vẫn giữ được gia

phả từ những thế kỷ XV, XVI. Nhưng trong nội đô, khu vực của các phường

thương nghiệp và thủ công, dân cư xáo trộn rất nhiều. Do tính chất của cơng

việc, nhiều thương nhân và thợ thủ cơng ít khi trụ nhiều đời tại một điểm. Gặp



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhân tố chủ quan

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×