Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG VÀ DỊCH VỤ ĐÀO TẠO DÀNH CHO TRẺ KHUYẾT TẬT

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG VÀ DỊCH VỤ ĐÀO TẠO DÀNH CHO TRẺ KHUYẾT TẬT

Tải bản đầy đủ - 0trang

17



hoặc phán đốn chủ quan. Đó là một dạng cảm giác về tâm lý sau khi nhu cầu

của khách hàng được thỏa mãn. Sự hài lòng của khách hàng được hình thành

trên cơ sở những kinh nghiệm, đặc biệt được tích lũy khi mua sắm và sử dụng

sản phẩm hay dịch vụ. Sau khi mua và sử dụng sản phẩm khách hàng sẽ có sự

so sánh giữa hiện thực và kỳ vọng, từ đó đánh giá được hài lòng hay khơng hài

lòng.

Như vậy, có thể hiểu được sự hài lòng của khách hàng là cảm giác dễ

chịu hoặc có thể thất vọng phát sinh từ việc người mua so sánh giữa những lợi

ích thực tế của sản phẩm và những kỳ vọng của họ.Việc khách hàng hài lòng

hay khơng sau khi mua hàng phụ thuộc vào việc họ so sánh giữa những lợi ích

thực tế của sản phẩm và những kỳ vọng của họ trước khi mua. Khái niệm sản

phẩm ở đây được hiểu không chỉ là một vật thể, vật chất hữu hình thơng thường

mà còn bao gồm cả dịch vụ và các thơng tin vơ hình đi kèm với nó.

2.1.2 Phân loại sự hài lòng của khách hàng

Sự hài lòng của khách hàng được phân loại ở nhiều góc độ khác nhau:

Căn cứ vào mức độ và chu kỳ của sự hài lòng

-



Hài lòng tích cực: đây là sự hài lòng mang tính tích cực và được phản hồi thông

qua các nhu cầu sử dụng ngày một tăng lên đối với nhà cung cấp dịch vụ. Đối

với những khách hàng có sự hài lòng tích cực, họ và nhà cung cấp sẽ có mối

quan hệ tốt đẹp, tín nhiệm lẫn nhau và cảm thấy hài lòng khi giao dịch. Hơn thế,

họ cũng hy vọng nhà cung cấp dịch vụ sẽ có đủkhả năng đáp ứng nhu cầu ngày

càng cao của mình. Chính vì vậy, đây là nhóm khách hàng dễ trở thành khách

hàng trung thành của doanh nghiệp miễn là họnhận thấy doanh nghiệp cũng có

nhiều cải thiện trong việc cung cấp dịch vụ cho họ. Yếu tố tích cực còn thể hiện

ở chỗ, chính từ những u cầu không ngừng tăng lên của khách hàng mà nhà



18



cung cấp dịch vụ càng nỗ lực cải tiến chất lượng dịch vụ ngày càng trở nên

-



hồn thiện hơn.

Hài lòng ổn định: đối với những khách hàng có sự hài lòng ổn định, họ sẽ cảm

thấy thoải mái và hài lòng với những gì đang diễn ra và khơng muốn có sự thay

đổi trong cách cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp. Vì vậy, những khách hàng

này tỏ ra dễ chịu, có sự tin tưởng cao đối với doanh nghiệp và sẵn lòng tiếp tục



-



sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp.

Hài lòng thụ động: những khách hàng có sựhài lòng thụ động ít tin tưởng vào

doanh nghiệp và họ cho rằng rất khó để doanh nghiệp có thể cải thiện được chất

lượng dịch vụ và thay đổi theo yêu cầu của mình. Họ cảm thấy hài lòng khơng

phải vì doanh nghiệp thỏa mãn hồn tồn nhu cầu của họ mà vì họ nghĩ rằng sẽ

không thể nào yêu cầu doanh nghiệp cải thiện tốt hơn nữa. Vì vậy, họ sẽ khơng

tích cực đóng góp ý kiến hay tỏ ra thờ ơ với những nỗ lực cải tiến của doanh

nghiệp.

Căn cứ vào các tầng lớp khác nhau của hệ thống kinh doanh tiêu thụ



-



Sự hài lòng đối với doanh nghiệp

Sự hài lòng về sản phẩm, dịch vụ

Sự hài lòng về nhân viên

Sự hài lòng về hình ảnh và Mơi trường

Trong các phương diện hài lòng của khách hàng thì sự hài lòng về sản

phẩm và dịch vụ là cơ bản nhưng cũng khơng vì thế mà coi nhẹ những ý kiến

nhận xét đánh giá của khách hàng về các phương diện khác.

Căn cứ vào các giai đoạn phát triển khác nhau trong q trình mua

hàng



-



Sự hài lòng trước khi mua

Sự hài lòng trong khi mua hàng

Sự hài lòng khi sử dụng



19

-



Sự hài lòng sau khi sử dụng.

Như vậy, chi khi suy nghĩ toàn diện về nhu cầu của khách hàng, ta mới có

thể tạo ra được cảm giác hài lòng hồn tồn ở khách hàng.



2.1.3 Vai trò hài lòng khách hàng

Trong mơi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, một doanh nghiệp muốn

tồn tại và phát triển thì sự hài lòng cao độ của khách hàng là những gì mà một

doanh nghiệp cần phấn đấu đạt được, đó là cách tốt nhất để thu hút và giữ được

khách hàng. Sự hài lòng cũng như giá trị mong đợi của khách hàng thường

thông qua (1) kinh nghiệm mua hàng hay sử dụng dịch vụ trong quá khứ; (2)

thông tin truyền miệng từ những người thân, bạn bè đã từng sử dụng sản phẩm,

dịch vụ; (3) nhu cầu cá nhân; (4) lời hứa của doanh nghiệp đối với khách hàng.

Một người khách hài lòng với việc mua hàng thường kể trải nghiệm tốt ấy với

vài ba bạn bè của họ, nhưng nếu không hài lòng thì người ấy sẽ kể chuyện

khơng hay với cả chục người khác.

Sự hài lòng của khách hàng đã trở thành một yếu tố quan trọng tạo nên lợi

thế cạnh tranh. Mức độ hài lòng cao có thể đem lại nhiều lợi ích bao gồm:

(1) Lòng trung thành: khách hàng có mức độ hài lòng cao sẽ tin tưởng,

trung thành và yêu mến doanh nghiệp.

(2) Tiếp tục mua thêm sản phẩm: khi mua một món hàng bất kỳ khách

hàng sẽ nghĩ đến các sản phẩm của doanh nghiệp làm họ hài lòng đầu tiên.

(3) Giới thiệu cho người khác: một khách hàng có mức độ hài lòng cao sẽ

kể cho gia đình và bạn bè về sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp.

(4) Duy trì sự lựa chọn: có mối quan hệ mật thiết với lòng trung thành,

yếu tố này cho thấy khi khách hàng hài lòng với sản phẩm, dịch vụ của doanh

nghiệp, họ có tâm lý ít muốn thay đổi nhãn hiệu khi chúng có cùng một chức

năng.



20



(5) Giảm chi phí: doanh nghiệp tốn ít chi phí hơn để phục vụ một khách

hàng có mức độ hài lòng cao so với một khách hàng mới.

(6) Giá cao hơn: khách hàng có mức độ hài lòng cao sẵn sàng trả nhiều

hơn cho sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp.



2.1.4 Các nhân tố quyết định đến sự hài lòng của khách hàng

a. Chất lượng dịch vụ

Chỉ số hài hài lòng của khách hàng bao gồm các nhân tố (biến), mỗi nhân

tố được cấu thành từ nhiều yếu tố cụ thể đặc trưng của sản phẩm hoặc dịch vụ.

Sự hài lòng khách hàng được định nghĩa như là một sự đánh giá toàn diện về sự

sử dụng một dịch vụ hoặc hoạt động sau bán của doanh nghiệp và đây chính là

điểm cốt lõi của mơ hình CSI (Customer Satisfaction Index - mơ hình chỉ số hài

lòng của khách hàng). Xung quanh biến số này là hệ thống các mối quan hệ

nhân quả xuất phát từ những biến số khởi tạo như sự mong đợi của khách hàng,

hình ảnh doanh nghiệp và sản phẩm, chất lượng cảm nhận và giá trị cảm

nhận về sản phẩm hoặc dịch vụ kèm theo đến các biến số kết quả của sự hài

lòng như sự trung thành hay sự than phiền của khách hàng.

-



Sự mong đợi: Thể hiện mức độ chất lượng mà khách hàng mong đợi nhận

được, các thông số đo lường sự mong đợi gắn liền với những thông số của hình

ảnh và chất lượng cảm nhận của sản phẩm và dịch vụ. Đây là kết quả của kinh

nghiệm tiêu dùng trước đó hoặc thơng tin thơng qua những kênh truyền thông

đối với sản phẩm hoặc dịch vụ. Trên thực tế, mong đợi càng cao thì càng dễ có

khả năng dẫn đến quyết định mua nhưng mong đợi càng cao thì khả năng doanh

nghiệp thỏa mãn khách hàng đó càng khó. Sự mong đợi của khách hàng bị ảnh

hưởng chủ yếu bởi các yếu tố sau đây:



21



+ Thuộc tính sản phẩm: bao gồm cả thuộc tính cần thiết và đầy đủ. Thuộc

tính quan trọng là các thuộc tính mà khách hàng mong muốn và cần trong một

sản phẩm/dịch vụ. Đối với những thuộc tính mà sản phẩm/dịch vụ tự nhiên đạt

được theo một tiêu chuẩn nhất định, nếu không đạt được, khách hàng sẽ không

thể hiện sự tin tưởng và thỏa mãn; nếu sản phẩm/dịch vụ được thực hiện khiến

khách hàng cảm thấy tốt hơn cũng coi là bình thường. Thuộc tính đầy đủ mà

khách hàng khơng bao giờ muốn để có được và thậm chí làm cho họ ngạc nhiên

và hài lòng. Vì vậy, nếu sản phẩm khơng có các thuộc tính, sẽ khơng có bất kỳ

tác động tiêu cực. Tuy nhiên, có những thuộc tính này sẽ tạo ra một tác động

tích cực, nâng cao sự hài lòng của khách hàng với sản phẩm/dịch vụ. Thuộc tính

cần thiết và đầy đủ của sản phẩm không cố định và không thay đổi nhưng nhu

cầu khách hàng liên tục thay đổi vì vậy những thuộc tính cũng cần được thay

đổi. Một trong những thuộc tính đầy đủ của các năm trước có thể trở thành

thuộc tính quan trọng của năm nay.

+ Yếu tố marketing: Đây là cách mà công ty sử dụng để tiếp thị sản

phẩm/dịch vụ, phương pháp tiếp cận khách hàng ảnh hưởng đến sự mong đợi

của khách hàng đối với sản phẩm/ dịch vụ. Làm tiếp thị về sản phẩm/dịch vụ sẽ

dẫn đến sự kỳ vọng của khách hàng vượt quá hiệu quả thực tế của sản phẩm, do

đó cần phải làm cho khách hàng khơng chỉ cảm thấy tốt về sản phẩm mà còn

cảm thấy hài lòng rằng cơng ty đã nói sự thật. Như vậy, công ty sẽ gia tăng sự

tin tưởng của khách hàng. Tuy nhiên, tiếp thị tại kỳ vọng thấp sẽ không tạo ra

sức hấp dẫn của sản phẩm.

+ Yếu tố môi trường: Văn hóa, những ảnh hưởng của đám đơng, kinh

nghiệm mua sắm của những người khác là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng

đến sự hình thành kỳ vọng của khách hàng. Nếu thương hiệu của sản phẩm là

tốt, kỳ vọng khách hàng sẽ cao, như vậy họ sẽ chấp nhận dễ dàng với một mức

giá cao hơn so với các sản phẩm khác



22

-



Chất lượng cảm nhận: Chất lượng cảm nhận có thể hiểu là sự đánh giá của

khách hàng khi sử dụng dịch vụ được cung cấp bởi doanh nghiệp, có thể là

trong hoặc sau khi sử dụng. Dễ dàng nhận thấy, khi sự mong đợi càng cao thì

tiêu chuẩn về chất lượng cảm nhận của khách hàng đối với dịch vụ của doanh

nghiệp sẽ càng cao và ngược lại. Do vậy yếu tố này cũng chịu tác động của cả



-



yếu tố sự mong đợi.

Giá trị cảm nhận: Các nghiên cứu về lý thuyết cho thấy, sự hài lòng của khách

hàng phụ thuộc vào giá trị cảm nhận của hàng hóa và dịch vụ. Giá trị là mức độ

đánh giá/ cảm nhận đối với chất lượng sản phẩm so với giá phải trả hoặc

phương diện “giá trị không chỉ bằng tiền” mà khách hàng tiêu dùng sản phẩm

đó. Giá trị dành cho khách hàng là chênh lệch giữa tổng giá trị mà khách hàng

nhận được và tổng chi phí mà khách hàng phải trả về một sản phẩm/ dịch vụ

nào đó. Mỗi khách hàng đều có nhận thức và nhu cầu khác nhau nên cảm giác

của họ về chất lượng cũng khác nhau. Chất lượng được cảm nhận từ phía khách

hàng dựa trên cơ sở kinh nghiệm thực tế của họ với sản phẩm/dịch vụ đó. Chất

lượng sản phẩm/dịch vụ thường được đánh giá trên các khía cạnh sau:

+ Các đặc tính của sản phẩm: điểm khác biệt so với đối thủ cạnh tranh.

+ Các giá trị sản phẩm: sản phẩm có lợi thế hơn các sản phẩm/dịch vụ

cùng loại, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho nhà cung cấp.

+ Việc cung cấp: thể hiện trong việc triển khai dịch vụ, phong cách phục

vụ.

+ Sự hài lòng: dịch vụ được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của khách hàng,

vì vậy chất lượng dịch vụ để đáp ứng nhu cầu khách hàng và yêu cầu của khách



-



hàng được dùng làm cơ sở để nâng cao chất lượng sản phẩm/ dịch vụ.

+ Việc tạo ra giá trị: sản phẩm/dịch vụ mang lại giá trị cho khách hàng.

Sự trung thành và Sự than phiền: Sự trung thành và sự than phiền là hai biến

số cuối cùng trong mơ hình và mang tính quyết định đến sự tồn vong của doanh

nghiệp trong tương lai. Sự trung thành được đo lường bởi ý định tiếp tục mua,

lòng tin và sự giới thiệu với người khác về sản phẩm và dịch vụ mà họ đang



23



dùng. Ngược lại với sự trung thành là sự than phiền, khi khách hàng khơng hài

lòng với sản phẩm dịch vụ so với những mong muốn của họ. Sự trung thành của

khách hàng được xem như một tài sản của doanh nghiệp, vì vậy, các doanh

nghiệp cần phải tạo ra sự hài lòng đối với khách hàng, nâng cao sự trung thành

của họ đối với công ty.

Như vậy, trong mô hình chỉ số hài lòng nói trên, giá trị cảm nhận chịu tác

động bởi chất lượng cảm nhận và sự mong đợi của khách hàng. Khi đó, sự

mong đợi của khách hàng có tác động trực tiếp đến chất lượng cảm nhận. Trên

thực tế, khi mong đợi càng cao, có thể tiêu chuẩn về chất lượng cảm nhận của

khách hàng đối với sản phẩm càng cao hoặc ngược lại. Do vậy, yêu cầu về chất

lượng sản phẩm và dịch vụ cung cấp cho khách hàng cần phải đảm bảo và được

thỏa mãn trên cơ sở sự hài lòng của họ. Sự hài lòng của khách hàng được tạo

thành trên cơ sở chất lượng cảm nhận, sự mong đợi và giá trị cảm nhận, nếu

chất lượng và giá trị cảm nhận cao hơn sự mong đợi sẽ tạo nên lòng trung thành

đối với khách hàng, trung tâm hợp ngược lại, đấy là sự phàn nàn hay sự than

phiền về sản phẩm mà họ tiêu dùng.

b. Giá cả dịch vụ

Ảnh hưởng của giá cả đến sự hài lòng của khách hàng

Giá cả là hình thức biểu hiện đồng tiền của giá trị hàng hóa và dịch vụ

được xác định dựa trên giá trị sử dụng và cảm nhận của khách hàng về sản

phẩm, dịch vụ mà mình sử dụng. Khách hàng khơng nhất thiết phải mua sản

phẩm, dịch vụ có chất lượng cao nhất mà họ sẽ mua những sản phẩm, dịch vụ

đem lại cho họ sự hài lòng nhiều nhất. Chính vì vậy, những nhân tố như cảm

nhận của khách hàng về giá và chi phí (chi phí sử dụng) khơng ảnh hưởng đến

chất lượng dịch vụ nhưng sẽ tác động đến sự hài lòng của khách hàng (Cronin

và Taylor, 1992). Trong nhiều nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng trước

đây, tác động của yếu tố giá cả ít được chú ý đến so với các tiêu chí khác (Voss



24



et at., 1998). Tuy nhiên, cùng với sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ của thị

trung tâm và các thay đổi trong nhận định của khách hàng về sản phẩm, dịch

vụ, các nhà nghiên cứu đã xác định rằng giá cả và sự hài lòng khách hàng có

mối quan hệ sâu sắc với nhau (Patterson et al., 1997). Do đó, nếu khơng xét đến

nhân tố này thì việc nghiên cứu về sự hài lòng khách hàng sẽ thiếu tính chính

xác.

Quan hệ giữa lượng giá cả, giá trị và giá cả cảm nhận

Khi mua sản phẩm, dịch vụ, khách hàng phải trả một chi phí nào đó để đổi

lại giá trị sử dụng mà mình cần. Như vậy, chi phí đó đựợc gọi là giá cả đánh đổi

để có được giá trị mong muốn từ sản phẩm, dịch vụ. Nếu đem lượng hóa giá cả

trong tương quan giá trị có được thì khách hàng sẽ có cảm nhận về tính cạnh

tranh của giá cả là thỏa đáng hay không. Chỉ khi nào khách hàng cảm nhận chất

lượng dịch vụ (perceived service quality) có được nhiều hơn so với chi phí sử

dụng (perceived price) thì giá cả được xem là cạnh tranh và khách hàng sẽ hài

lòng. Ngược lại, khách hàng sẽ tỏ ra khơng hài lòng vì cảm thấy mình phải trả

nhiều hơn so với những gì nhận được và giá cả trong trung tâm hợp này sẽ tác

động tiêu cực đến sự hài lòng của khách hàng. Đây là mối quan hệ giữa lượng

giá cả, giá trị và giá cả cảm nhận. Tuy nhiên, chính giá cả cảm nhận mới là nhân

tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng. Có thể lượng giá cả bỏ ra nhiều

hơn so với giá trị nhận được nhưng khách hàng cảm nhận như thế là hợp lý thì

họ vẫn sẽ hài lòng và ngược lại. Trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa giá

cảcảm nhận và sự hài lòng khách hàng, Varki và Colgate (2001) cũng chứng

minh rằng hai yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau tùy vào độ nhạy cảm của

khách hàng đối với giá cũng như mối quan hệ giữa người sử dụng dịch vụ với

nhà cung cấp dịch vụ. Ngoài ra, để đánh giá tác động của nhân tố giá cả đến sự

hài lòng khách hàng, chúng ta cần xem xét đầy đủ hơn ở ba khía cạnh sau:

(Maythew và Winer, 1982).

1. Giá so với chất lượng



25



2. Giá so với các đối thủ cạnh tranh

3. Giá so với mong đợi của khách hàng

Vì vậy, khi xem xét tác động của giá đến sự hài lòng khách hàng chúng ta

cần nhận thức một cách đầy đủ hơn giá ở đây bao gồm chi phí bỏ ra và chi phí

cơ hội để có được sản phẩm dịch vụ cũng như tương quan của giá đến những

khía cạnh đã đề cập ở trên. Trong phạm vi bài viết này, yếu tố giá cả được xem

xét chính là tính cạnh tranh của giá được cảm nhận. Nếu khách hàng cảm nhận

tính cạnh tranh của giá cả càng cao thì họ sẽ càng hài lòng và ngược lại.



2.2. ĐẶC ĐIỂM DỊCH VỤ ĐÀO TẠO DÀNH CHO TRẺ KHUYẾT

TẬT

2.2.1. Dịch vụ đào tạo chương trình đào tạo dành cho trẻ khuyết tật

a. Đặc điểm học sinh khuyết tật

Học sinh khuyết tật gặp khó khăn về nhiều mặt trong đó có học tập, việc

làm, hơn nhân, kỳ thị...Những khó khăn đó tác động qua lại lẫn nhau, là nguyên

nhân và kết quả của nhau do vậy chúng tạo thành một vòng luẩn quẩn. Sự giúp

đỡ lớn về vật chất không phải ai cũng làm được nhưng về tinh thần thì khác chúng ta giúp được rất nhiều chỉ cần sự thành tâm mà thôi.

Luật Người khuyết tật năm 2010 đã định nghĩa:

Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể

hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động,

sinh hoạt, học tập gặp khó khăn. Cho đến nay vẫn chưa có tỷ lệ chính thức số

người khuyết tật ở Việt Nam. Các cuộc điều tra đã cho các số liệu khác nhau, và

việc thiếu các dữ liệu chính xác là khá phổ biến tại Việt Nam. Ví dụ, Tổng điều

tra tồn quốc về dân số và nhà cửa năm 2009 đã sử dụng bộ câu hỏi dựa trên

khung phân loại quốc tế về chức năng, khuyết tật và sức khỏe (ICF). Kết quả từ

cuộc điều tra này cho thấy có 7,3% dân số Việt Nam bị khiếm khuyết ít nhất



26



một trong những chức năng sau: thị giác, thính giác, vận động, và tập trung

hoặc ghi nhớ (UNFPA, 2011). Đây là một con số hoàn toàn khác biệt so với số

liệu 15,3% mà cuộc Điều tra mức sống dân cư 2006 đã đưa ra (NCCD, 2010).

Sự khác biệt này có thể được lí giải bởi định nghĩa khuyết tật không đồng đều

và cách đặt câu hỏi khi điều tra (ví dụ, các câu hỏi dựa trên khung phân loại ICF

không bao gồm tất cả các loại khuyết tật). Tuy nhiên, dù là 7,3% hay 15,3% , tỷ

lệ khuyết tật ở Việt Nam vẫn nằm ở mức cao nhất trong khu vực, có thể do

những tồn đọng từ chiến tranh khi mà 10-15% miền nam Việt Nam bị phun chất

diệt cỏ có Chất độc da cam. Hàng triệu binh lính và người dân Việt Nam đã tiếp

xúc với chất độc đi-ô-xin lẫn trong Chất độc da cam và các loại chất diệt cỏ

khác. Đi-ôxin, một tạp chất trong Chất độc da cam, là một loại độc tố phân hủy

rất chậm và có thể dẫn tới di chứng là sức khỏe yếu và dị tật bẩm sinh hàng thập

niên sau khi chiến tranh kết thúc (Aspen Institute, n.d.).

Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (BLĐTBXH), 1,3 triệu người

khuyết tật là trẻ em giữa độ tuổi 5 và 18 (NCCD, 2010). Khuyết tật thân thể,

khuyết tật trí tuệ và khiếm thính là ba nhóm khuyết tật phổ biến nhất. Đối với

trẻ khuyết tật (TKT), sự tách biệt với xã hội bắt đầu từ sớm. Theo số liệu của

cuộc Tổng điều tra dân số 2009, chỉ 66,5% TKT độ tuổi 6-10 được đi học tiểu

học, trong khi tỷ lệ toàn quốc là 97,0%. Ngay cả đối với các em được đi học, hệ

thống giáo dục hiện nay chưa đủ điều kiện để cung cấp chương trình giáo dục

phù hợp và rất nhiều em TKT bị đúp cho đến khi các em quá tuổi tham gia vào

giáo dục đại trà. Bỏ học cũng là một vấn đề đáng lo ngại, với khoảng 33,0% các

TKT được đi học đã bỏ học vào một thời điểm nào đó. Vấn đề giới tính cũng là

một vấn đề cần được quan tâm; theo một báo cáo năm 2007 của Viện Khoa học

Giáo dục Việt Nam về giáo dục TKT, 55,5% các em gái chưa từng được đặt

chân đến trường; tỷ lệ tương tự cho các em trai chỉ là 39,0% (NCCD, 2010).

Khơng được giáo dục đồng nghĩa với việc khó có việc làm và cơ hội kết nối có



27



ý nghĩa với xã hội sau này. Ở các thành phố, khả năng thất nghiệp của người

khuyết tật gấp bốn lần người không bị khuyết tật (UNFPA, 2011). Điều này chỉ

càng khiến xã hội tiếp tục duy trì ý nghĩ rằng người khuyết tật là những con

người vô dụng cho xã hội. Định kiến này trở thành một cái vòng luẩn quẩn mà

người khuyết tật không thể chạy trốn, tạo nên một bức rào ngăn cản sự hòa

nhập. Điều đáng buồn là rất nhiều TKT cũng lớn lên với niềm tin vào những

định kiến này – rằng các em khơng có khả năng làm gì cả và xã hội đã đang làm

tất cả những gì có thể để chăm sóc cho các em thông qua việc trao quà và tiền

từ thiện. Tuy nhiên, những món q và tiền trợ cấp khơng thể giải quyết tình

trạng nghèo khó phổ biến trong cộng đồng người khuyết tật. Theo BLĐTBXH,

31% hộ gia đình với một thành viên khuyết tật sống trong nghèo khó, và con số

này tăng lên đến 63% đối với các hộ gia đình có ba thành viên khuyết tật

(MOLISA, 2006). Đây là tương lai dường như đã định sẵn cho trẻ em khuyết tật

ở Việt Nam.

b. Dịch vụ đào tạo dành cho trẻ khuyết tật

Trong những năm gần đây, việc giáo dục người khuyết tật nói chung và sự

phát triển ngành giáo dục đặc biệt nói riêng tại Việt Nam đang được các cơ

quan, tổ chức trong nước, ngoài nước chú trọng phát triển và đạt được một số

thành tựu đáng kể. Nhiều trường đại học, cao đẳng bắt đầu mở các khóa đào tạo

chính quy và khơng chính quy chun ngành giáo dục đặc biệt để đáp ứng nhu

cầu đào tạo đội ngũ giáo viên cho các trường hòa nhập. Nhiều trường trung tâm

giáo dục trẻ khuyết tật được hình thành và phát triển. Nhiều nhà chuyên môn

cũng như tổ chức giáo dục đã dày cơng nghiên cứu, tìm hiểu và biên soạn tài

liệu hữu ích có liên quan... Tất cả những nỗ lực trong việc xây dựng cơ sở vật

chất để ni dạy học sinh khuyết tật; tìm tòi, nghiên cứu, đào tạo giáo viên, biên

soạn tài liệu phục vụ cho quá trình giáo dục nêu trên của các nhà chuyên môn,



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG VÀ DỊCH VỤ ĐÀO TẠO DÀNH CHO TRẺ KHUYẾT TẬT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×