Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Văn hóa ứng xử học đường

2 Văn hóa ứng xử học đường

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa ứng xử học đường của sinh viên Trường Đại học Kinh tế Quốc dân



dàng bắt gặp sinh viên sử dụng tiếng “lóng” nói chuyện với nhau hay một ví dụ điển hình

phổ biến hơn là sinh viên vừa nói chuyện bằng tiếng việt thỉnh thoảng lại chen một vài

tiếng nước ngoài vào cuộc đối thoại. Đây là những hiện tượng rất phổ biến và thường

xuyên xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng, làm ảnh hưởng không nhỏ tới

văn hóa ứng xử của sinh viên hiện nay.

Tình trạng kết bè, kết phái tạo thành băng, hội cũng là vấn đề nhức nhối, nó khơng những

làm ảnh hưởng đến mơi trường giáo dục mà còn làm cho xã hội quan tâm lo lắng. Hiện

tượng gây xích mích chỉ từ một hành vi cho là nhìn đểu mà sẵn sang kéo bè kéo cánh dằn

mặt lẫn nhau làm gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh đối với các nhà làm công tác giáo dục

và quản lí giáo dục.

Văn hóa ứng xử giữa sinh viên với sinh viên từ lâu được xem là một trong những điểm

mấu chốt, ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống học đường và sự phát triển của nhà trường.

Để nhận ra một trường đại học có tiếng tăm hay có giá trị thế nào, chính là nhìn vào cách

hành xử của sinh viên trong trường với nhau.

2.2.2 Văn hóa ứng xử giữa sinh viên với giảng viên

Văn hóa ứng xử giữa sinh viên với giảng viên thực chất chính là văn hóa ứng xử giửa trò

với thầy. Từ xưa đến nay, người học trò Việt Nam đối với thầy ln có một sự kính trọng

to lớn. Có được điều này là do truyền thống tôn sư trọng đạo đã gắn liền với sự phát triển

của đất nước qua rất nhiều thời kỳ. Khổng Tử, bậc thầy vĩ đại, hơn 2500 năm trước sáng

lập ra học thuyết nho giáo chứa đựng tư tưởng giáo dục sâu sắc. Ông nói: “tam nhân đồng

hành, tất hữu ngã sư yên” - tức “trong ba người cùng đi, ắt có người là thầy của ta ở

đó”. Suốt nghìn năm phong kiến, giáo dục Việt Nam trên đại thể được coi là nền giáo dục

nho giáo. Giá trị nhân bản tốt đẹp của nền giáo dục này thể hiện rất rõ ở “hằng số văn

hóa” thầy - trò. Xưa đến nay, nhân vật quan trọng nhất của trường học là người thầy.

Truyền thống ngàn đời trong thế ứng xử của người Việt được cô lại và đúc kết bằng bốn

chữ: “tôn sư trọng đạo”. Câu nói: “khơng thầy đố mày làm nên”, “nhất tự vi sư, bán tự vi

sư” là những lời cửa miệng của người việt nhắc nhở nhau mỗi khi đề cập tới vai trò của

người thầy. Ở dân tộc Việt Nam, “tôn sư trọng đạo” thấm sâu trong tâm thức mỗi người



22



Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa ứng xử học đường của sinh viên Trường Đại học Kinh tế Quốc dân



dân. Để tỏ lòng tơn kính với thầy, người Việt có quan niệm: “sống tết, chết giỗ”. Chính vì

thế mà dưới thời phong kiến, người thầy được xếp thứ hai sau vua, theo cách gọi: quân sư - phụ (vua – thầy - cha).

Thế ứng xử dân chủ linh hoạt của người Việt Nam rất đề cao vai trò của thầy trong sự

nghiệp dạy và học. Vậy mới có câu: “trò hơn thầy đức nước càng dày”, “học thầy khơng

tầy học bạn” - ý nói bạn cũng có thể là thầy.

Ngày trước, thời phong kiến, khơng phải ai cũng có tiền đi học. Nhiều gia đình nghèo

khó con em khơng thể đến trường. Tuy nhiên, cơ hội theo học vẫn có. Họ chỉ cần theo

những phép tắc nhất định - những phép tắc biểu hiện đậm nét của sự tôn sư trọng đạo mà

không quá câu nệ vào vật chất. Chẳng hạn, trước khi cho con đến theo học, cha mẹ sắm

một mâm lễ bái lạy tổ tiên, mong con học hành sáng dạ, đỗ đạt. Sau đó, gia đình có một

“lễ mọn”, mang tính chất “lòng thành” dâng lên thầy. Tỏ lòng thành kính “tơn sư trọng

đạo”, nhiều gia đình còn gửi gắm con mình theo học và ở luôn bên nhà thầy. Một năm chỉ

về thăm nhà vài lần. Thỉnh thoảng, gia đình trò lại gửi biếu thầy ít gạo nếp, hoặc mớ rau,

con cá như một thông điệp bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới công lao to lớn của thầy.

Thừa hưởng những tinh hoa văn hóa đúc kết từ trước tới nay, người dân Việt Nam vẫn

lưu giữ và phát huy được truyền thống tôn sư trọng đạo. Truyền thống ấy được đảng và

nhà nước ghi nhận và gìn giữ bằng rất nhiều hình thức như những chính sách hỗ trợ,

những ngày lễ kỷ niệm, các trương chình tri ân giành cho người làm sư phạm.

Trong môi trường đại học, đa số sinh viên ln có sự lễ phép, tơn trọng và kính mến đối

với người giảng viên. Điều đó được thể hiện qua từng thái độ, cử chỉ cũng như lời ăn

tiếng nói.

Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập, sự thay đổi là điều không thể tránh khỏi. Dưới tác động

của cơ chế thị trường, khi đồng tiền đóng vai trò vơ cùng quan trọng mà đồng lương cho

giáo viên lại q ít ỏi, từ chỗ học trò cần giáo viên đã trở thành giáo viên cần học trò.

Giáo viên hiện nay có rất nhiều học sinh, cũng khơng thể sát sao quan tâm đến từng

người, dẫn đến việc quan hệ thầy trò ngày càng trở nên xa cách. Bên cạnh rất nhiều

những lý do khác chi phối, thời nay trò khơng còn nhất nhất tơn kính thầy dạy như xưa.



23



Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa ứng xử học đường của sinh viên Trường Đại học Kinh tế Quốc dân



Sinh viên đối với giảng viên cũng vậy. Mặc dù vẫn thừa kế một truyền thống tôn sư trọng

đạo lâu đời và quý báu nhưng hiện nay cũng khơng ít những trường hợp sinh viên thiếu lễ

phép với giảng viên khiến cho một nét đẹp văn hóa đang có nguy cơ bị mai một.

2.2.3 Văn hóa ứng xử giữa sinh viên với chuyên viên

Cán bộ nhà trường nói chung và cán bộ của các khoa viện nói riêng cũng chính là những

con người trực tiếp làm việc và hướng dẫn sinh viên tuân thủ theo những điều lệ nhà

trường. Khác với giảng viên là những người có chuyên môn sư phạm và truyền dạy cho

học sinh kiến thức chuyên môn, chuyên viên giúp sinh viên hiểu và thực hiện theo các

quy chế và chính sách có liên quan đến sinh viên. Ngồi ra còn định hướng giúp đỡ sinh

viên trong phương pháp học tập hợp lý, hướng dẫn sinh viên nắm rõ mục tiêu và nội dung

của chương trình đang học, từ đó tạo điều kiện cho sinh viên phát huy hết khả năng của

mình.

Tương tự như giảng viên, chuyên viên cũng là những người thầy, người cô với trọng

trách cao cả của người làm giáo dục là dạy cho các sinh viên biết được điều hay lẽ phải,

hồn thiện cả về kiến thức trí tuệ lẫn nhân cách con người, dạy cho sinh viên hiểu và biết

cách hành xử đúng mực với văn hóa nhà trường nói riêng và thuần phong mỹ tục của dân

tộc Việt Nam nói chung.

Chính nhiệm vụ hướng dẫn và giúp đỡ sinh viên của chun viên đóng vai trò quan trọng

đến sự phát triển quá trình học tập của sinh viên nên tầm ảnh hưởng của chuyên viêntới

sinh viên rất đáng kể và cần được nghiên cứu kỹ càng. Hơn nữa, chuyên viên phải là

người hiểu rõ nhất các quy định và quy chế của nhà trường, sâu xa hơn nữa là văn hóa

truyền thống riêng biệt của ngơi trường đó, từ đó mới có thể khéo léo hướng sinh viên

đến hiểu và thấm nhuần văn hóa đặc thù của trường, như vậy sẽ giúp sinh viên phát triển

văn hóa ứng xử một cách phù hợp với mơi trường mình đang theo học.

Tính tới nay, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa hai chủ thể này còn chưa được coi trọng,

hầu hết các nghiên cứu về văn hóa ứng xử trong học đường thường tập trung phần lớn

vào mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau của sinh viên và giảng viên hay sinh viên với sinh

viên. Điều này đặt ra một lỗ hổng lớn trong việc xác định những nhân tố thực sự ảnh



24



Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa ứng xử học đường của sinh viên Trường Đại học Kinh tế Quốc dân



hưởng tới văn hóa ứng xử với sinh viên vì chính các bộ quản lý đóng vai trò rất quan

trọng từ khi sinh viên mới vào trường và đến ngày cuối cùng sinh viên tốt nghiệp ra

trường. Những hành vi, cử chỉ, thái độ của các chuyên viên có thể tác động khá đáng kể

tới cách nghĩ, cách giao tiếp và cư xử của sinh viên, tuy rằng không phải nhất thời nhưng

dần dần sẽ ảnh hưởng một cách rất sâu sắc.

Nếu là một người cán bộ có tư cách đạo đức tốt cũng như chun mơn trưởng thành vững

vàng thì khơng những chắc chắn sẽ được sinh viên quý trọng mà còn làm tấm gương để

sinh viên noi theo. Đối với những cán bộ như thế, cách ứng xử và giao tiếp của sinh viên

sẽ dựa trên thái độ kính trọng và đúng mực. Tuy nhiên không thể không kể tới một phần

nhỏ những cán bộ chuyên môn không vững vàng, thái độ làm việc hời hợt, thiếu chuyên

nghiệp dẫn tới thờ ơ với công tác quản lý sinh viên, tạo ấn tượng xấu dưới góc nhìn của

sinh viên với đội ngũ nhà trường. Chính những cán bộ yếu kém về mặt đạo đức đã làm

nảy sinh nhiều tiêu cực trong môi trường học đường Việt Nam hiện nay, điều này gây ảnh

hưởng cực kỳ xấu và sâu sắc đối với thái độ của sinh viên. Đối với những cán bộ như

vậy, cách ứng xử của sinh viên sẽ dựa trên thái độ không coi trọng, thậm chí coi thường,

dần dần sẽ làm hủy hoại nề nếp và văn hóa trong sáng của mơi trường học đường, ảnh

hưởng tới cách nghĩ và cách ứng xử của sinh viên trong tương lai.

Một nguyên nhân quan trọng nên kể đến đó chính là trong thời đại hiện nay, giá trị vật

chất được đề cao quá mức khiến cho giá trị văn hóa, tinh thần khơng còn được chú ý coi

trọng nữa, đặc biệt là đối với sinh viên hiện nay – một thế hệ năng động, thực tế và quan

niệm đạo đức thống và ít bị ràng buộc hơn các thế hệ trước rất nhiều, cho nên nếu không

được giáo dục và dạy bảo đúng đắn thì khơng những sinh viên có suy nghĩ sai lệch về

tầm quan trọng của văn hóa giao tiếp ứng xử truyền thống mà còn là nguy cơ một thế hệ

sinh viên, người trẻ không tiếp thu được tinh hoa của văn hóa dân tộc, rồi để từ đó hòa

tan vào văn hóa lai tạp nham, trầm trọng hơn là dần dà đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc

việt, sống tại đất nước Việt Nam mà ứng xử một thứ văn hóa lai tạp.

Tựu chung lại, mối quan hệ mật thiết giữa chuyên viênvà sinh viên đã chứng minh được

phần nào ảnh hưởng của văn hóa ứng xử giữa hai bên với nhau, mặc dù có rất ít nghiên

cứu chứng minh được tầm quan trọng của mối quan hệ này nhưng sau khi xem xét ký



25



Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa ứng xử học đường của sinh viên Trường Đại học Kinh tế Quốc dân



càng tầm ảnh hưởng thực tế của chuyên viên lên sinh viên, nhóm quyết định đi tìm hiểu

các nhân tố ảnh hưởng đến văn hóa ứng xử sinh viên mà một phần trong đó chính là văn

hóa ứng xử của sinh viên đối với chuyên viên nhà trường.

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa ứng xử của sinh viên và các giả thuyết

Do khách thể nghiên cứu đã được xác định là sinh viên đang học trong trường đại học

KTQD nên từ giờ nghiên cứu sẽ dùng từ “sinh viên” để nói đến “sinh viên trường đại học

KTQD”

2.3.1 Các yếu tố khách quan

a. Yếu tố về công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ

thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thơng - nhằm tổ chức khai thác và sử

dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi

lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội 9. Hiện nay, sinh viên sử dụng iPad, iPod,

iPhone, diện thoại di động, máy tính xách tay……là điều quá phổ biến, có thể gặp ở bất

cứ đâu. Chúng ta không thể phủ nhận rằng, khoa học công nghệ ngày một phát triển, mở

ra khá nhiều cơ hội cho nước ta hội nhập văn hóa. Tuy nhiên công nghệ thông tin ngày

càng tân tiến, giới trẻ lại ngày càng tiếp nhận một cách ồ ạt, nhanh chóng, khơng chọn

lọc… điều này phần nào làm ảnh hưởng đến hành vi, ứng xử hàng ngày của sinh viên.

Yếu tố này cũng đã được nghiên cứu nhiều bởi các nhà nghiên cứu trên thế giới. Một vài

nghiên cứu được tiến hành để kiểm định xem sử dụng các mạng xã hội và các cách giao

tiếp qua các trang web có ảnh hưởng như thế nào đến kĩ năng giao tiếp (Baker &

Oswald,2010) .

Baym, Zhang and Lin (2004) cũng đã nghiên cứu về tương tác xã hội của sinh viên đại

học qua các phương thức khác nhau. Nghiên cứu đã đư ra kết quả là 64% thích các cuộc

nói chuyện trực tiếp (face-to-face conversation), 18.4% thích nói chuyện điện thoại và chỉ

16.1% thích sử dụng mạng internet để liên lạc.



9Theo định nghĩa của Nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993



26



Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa ứng xử học đường của sinh viên Trường Đại học Kinh tế Quốc dân



Theo Baym Et Al, 2004, báo cáo tương tác trên mạng đã cho thấy rằng cho đến giờ, email

hình thức tương tác chiếm ưu thế mạnh nhất, theo sau lần lượt là chat (yahoo) và tin nhắn

(instant message). Trong số 51 người tham gia, 49 người đã nói rằng trong cuộc sống

hàng ngày, họ thường dùng ít nhất 2 trong số 3 hình thức tương tác trên để liên lạc với

mọi người.

Cũng tương tự như vậy, Lenhart, Purcell, Smith và Zickurt (2010) đã nghiên cứu và đưa

ra kết quả là hơn 27% những người trẻ tuổi sử dụng các trang mạng xã hội hàng ngày vào

năm 2009.

Theo Sheldon (2008), hơn 50% số sinh viên đại học sử dụng mạng xã hội một vài lần

trong ngày. Quan-Haase và Young (2010) đã tìm ra rằng 82% số học sinh đại học đăng

nhập vào Facebook một vài lần trong một ngày.

Việc ứng dụng cơng nghệ có ảnh hưởng đáng kể đến văn hóa ứng xử của sinh viên. Sử

dụng phương tiện truyền thơng xã hội được cho rằng có thể gây ra những tác động tiêu

cực đến giao tiếp cũng như ứng xử của sinh viên (Akubugwo, Ijeoma1 and Maria Burke.)

Như vậy, có thể nói, cơng nghệ ảnh hưởng khơng nhỏ đến văn hoá ứng xử, giao tiếp học

đường.

Dựa trên cơ sở lý thuyết của nhóm yếu tố về cơng nghệ thơng tin, giả thuyết H1 được

trình bày như sau:

Giả thuyết H1: Tần suất sinh viên sử dụng công nghệ thơng tin có ảnh hưởng đến văn hóa

ứng xử của họ.

b. Yếu tố về giảng viên

Giảng viên là những người trực tiếp không chỉ giảng dạy kiến thức cũng như lối sống,

thái độ, hành vi cho sinh viên. Ảnh hưởng của giáo viên đối với văn hóa ứng xử của sinh

viên tại một trường học luôn được thừa nhận rộng rãi. Giáo viên được cho rằng có vai trò

chủ đạo trong việc hình thành văn hóa ứng xử có đạo đức, có văn hóa cho sinh viên.

Nghiên cứu của Aysel và Alycan (2008) đã chỉ rõ rằng giọng của giảng viên có thể gây ra

sự xao nhãng trong giờ học của sinh viên do sinh viên không hiểu giảng viên nói gì dẫn



27



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Văn hóa ứng xử học đường

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×