Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 5 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

CHƯƠNG 5 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

Tải bản đầy đủ - 0trang

61



6: Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ

7: Hoạt động kinh doanh bất động sản

8: Khai Khống

9: Nơng nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản

10: Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa khơng

khí

11: Thơng tin và truyền thơng

12: Vận tải kho bãi

13: Xây dựng

Từ biểu đồ trên, ta nhận thấy được rằng tỷ lệ phụ nữ ở các ngành khác

nhau có sự khác biệt. Tỷ lệ phụ nữ cao hơn ở các ngành Cung cấp nước, hoạt

động quản lí và xử lí nước sạch; Cơng nghiệp chế biến, chế tạo; Bán buôn bán

lẻ, sửa chữa ô tô..; Hoạt động kinh doanh bất động sản; Vận tải kho bãi… Công

nghiệp chế biến, chế tạo là ngành có tỷ lệ phụ nữ trung bình qua các năm cao

nhất (khoảng 19%). Các ngành Thơng tin truyền thơng, Dịch vụ lưu trí và ăn

uống, Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ… thì có số lượng phụ nữ ít hơn,

thậm chí có những năm không thấy sự xuất hiện của phụ nữ trong HĐQT (năm

2012 ngành Thông tin và truyền thông; năm 2010, 2011, 2012 ngành Hoạt động

hành chính và dịch vụ hỗ trợ; năm 2010, 2011 ngành Hoạt động chuyên môn và

khoa học). Dịch vụ lưu trí và ăn uống có khoảng 4.5%; Hoạt động hành chính và

dịch vụhỗ trợ khoảng 3.5%. Trong giai đoạn này, Thơng tin truyền thơng là

ngành có tỷ lệ phụ nữ thấp nhất, chỉ khoảng 2.5%, thấp hơn gần 7 lần so với

ngành cao nhất là Công nghiệp chế biến, chế tạo.

Những sự thay đổi nói trên nguyên nhân là do phụ nữ ngày càng năng

động, chủ động hơn trong cơng việc của mình. Việc tỷ lệ phụ nữ tham gia vài

HĐQT của các công ty tăng qua các năm chứng minh rằng cơng việc quản lí

giám sát khơng chỉ có nam giới mới đảm nhận được, thậm chí phụ nữ còn mang

lại hiệu quả hoạt động cao hơn cho các công ty (như giả thuyết mà tác giả đặt ra



62



trong bài nghiên cứu này). Càng ngày theo xu hướng phát triển của xã hội, bình

đẳng giới càng được quan tâm hơn, và phụ nữ được coi trọng hơn, và có nhiều

cơ hội phát triển mình hơn. Bà Deborah France-Massin, Giám đốc Văn phòng

Hoạt động Giới chủ của Tổ chức Lao động thế giới (ILO), cho biết “Phụ nữ

tham gia ngày càng nhiều vào thị trường lao động chính là động lực lớn nhất đối

với sự phát triển và gia tăng năng lực cạnh tranh của toàn cầu,”. Sự gia tăng số

lượng phụ nữ trong HĐQT gia tăng theo thời gian là một xu hướng tất yếu, và

được xem là một trong những mục tiêu trong phát triển kinh tế - xã hội. Bộ

trưởng Bộ Lao động Thương binh & Xã hội - Phạm Thị Hải Chuyền cho hay

Việt Nam đang tích cực hồn thiện khung pháp luật chính sách về bình đẳng

giới, tăng cường quyền năng kinh tế cho phụ nữ, phấn đấu đến năm 2015, số

doanh nghiệp có người đứng đầu là nữ sẽ chiếm 30% và tăng lên 35% vào năm

2020. Hướng theo mục tiêu này, các công ty niêm yết trên sàn HOSE là những

doanh nghiệp lớn, đi đầu trong thực hiện các chính sách nhà nước, nhạy cảm

hơn với sự thay đổi của đất nước và khu vực, sự gia tăng về số lượng phụ nữ

trong HĐQT là một biểu hiện chứng minh điều đó. Theo Giám đốc ILO tại Việt

Nam, ơng Gyorgy Sziraczki, thúc đẩy sự đa dạng trong quản lý bằng việc có

thêm nữ giới đảm nhận các vị trí cao nhất là chìa khóa để tăng năng suất lao

động, năng lực cạnh tranh và nhờ vậy, nắm bắt được các lợi ích về kinh tế và xã

hội khi đất nước đang hội nhập sâu rộng hơn.

Tuy nhiên, hiện vẫn còn tồn tại rất nhiều rào cản vơ hình đối với sự thăng

tiến của nữ giới trong công việc. Chẳng hạn, những trách nhiệm của người phụ

nữ trong gia đình, định kiến xã hội về hình ảnh của người phụ nữ cũng như sự

trang bị kỹ năng và sự tự tôn của người phụ nữ ngay từ khi còn nhỏ.

Nhìn chung, xu hướng gia tăng của số lượng phụ nữ trong HĐQT trong

các công ty trên HOSE trong giai đoạn này có thể xem là một tín hiệu tốt cho

mục tiêu bình đẳng giới ở nước ta.



63

5.1.2.



Thống kê mơ tả về CEO nữ

Biểu đồ 5.3: Số lượng cơng ty có CEO nữ qua các năm



(Nguồn: Tổng hợp của nhóm nghiên cứu)

Từ biểu đồ trên ta nhận thấy: số lượng phụ nữ làm CEO của doanh nghiệp

nhìn chung tăng trong giai đoạn 2007 – 2013 nhưng không phải tăng đều qua

các năm. Từ 2007 đến 2008, số nữ CEO tăng từ 25 người lên 27 người. Và con

số 27 này được giữu nguyên đến 2010, sau đó lại giảm vào năm 2011 (còn 26

doanh nghiệp có CEO nữ). Từ năm 2011 đến 2013 thì con số này tăng đều, cụ

thể năm 2012 là 28 cơng ty, năm 2013 là 30 người.

Có sự gia tăng này cũng là điều dễ hiểu khi mà tên tuổi những nữ doanh

nhân ngày càng được biết đến nhiều, ví dụ như 3 CEO nữ Việt Nam lọt danh

sách lãnh đạo quyền lực nhất châu Á: Bà Mai Kiều Liên (Chủ tịch kiêm CEO

Công ty cổ phần Sữa Việt Nam Vinamilk) , bà Nguyễn Thị Mai Thanh (Chủ tịch

kiêm CEO công ty cổ phần Cơ điện lạnh REE), bà Nguyễn Thị Nga (Chủ tịch

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đông Nam Á SeABank).Chuyên gia kinh tế

Phạm Chi Lan cho rằng CEO nữ Việt Nam còn có một số tố chất rất riêng, góp

phần khơng nhỏ vào thành cơng của họ như:





Họ có chí và có gan. Có chí đứng ra thành lập doanh nghiệp, có gan lãnh

đạo hoạt động doanh nghiệp vượt qua nhiều giao đoạn khó khăn. Mặc dù

bề ngồi có vẻ khiêm nhường nhưng có chí, có gan mới “làm quan” và







“làm giàu” được ở những nhiệm vụ khó khăn như thế.

Họ có sự khiêm nhường và chịu khó học hỏi. Báo cáo của Grant

Thornton chỉ ra rằng 33% lãnh đạo doanh nghiệp cấp cao ở Việt Nam là

nữ nhưng chỉ có 20% CEO nữ Việt Nam được qua đào tạo để làm lãnh

đạo, còn lại phần lớn phụ nữ đã tự học hỏi từ những người khác hoặc từ

các chương trình khác để lãnh đạo tốt doanh nghiệp.



64





Họ có tính bao dung, nhìn nhận sự vật, sự việc chi tiết ở nhiều góc độ

trước khi đi đến quyết định kinh doanh, chính điều đó nhiều khi giúp họ







tránh được các quyết định nóng vội, thiếu sáng suốt.

Họ có sự điềm tĩnh. Nhiều người phụ nữ dù có vai trò khiêm nhường

trong doanh nghiệp nhưng lại có sức mạnh thuyết phục rất lớn, giúp cho

các doanh nghiệp tồn tại. Bà Lan lấy ví dụ: có những hội đồng quản trị

mặc dù chỉ có một người là nữ nhưng tiếng nói của người nữ đó giống

như “một chiếc phanh” hết sức cần thiết để kìm hãm bớt những ý kiến

nóng vội khác vì q háo hức theo kịp sự phát triển của Việt Nam, những







dịch vụ mang tính chất đầu cơ nhiều hơn đầu tư.

Tuy đa phần CEO nữ ở Việt Nam đều là chủ của doanh nghiệp vừa và

nhỏ, số lượng CEO của doanh nghiệp lớn ít hơn rất nhiều nhưng điều đó

khơng nói lên rằng doanh nghiệp vừa và nhỏ thì khơng quan trọng hay

khơng quan trọng bằng doanh nghiệp lớn.



65

5.1.3.



Mô tả các biến trong mơ hình



Bảng 5.1: Mơ tả thống kê biến phụ thuộc, biến độc lập và biến kiểm sốt

Biến



Số quan Trung bình



Độ



lệch Giá trị nhỏ Giá trị lớn



sát



chuẩn



nhất



nhất



ROA



1901



0,0720793



0,0905952



-0,32



0,95



Tobinq



1778



1,025885



1,663962



0,0165834



15,95856



Woman



1837



0,631295



0,4826708



0



1



PerWo



1837



0,1488644



0,1651332



0



0,7142857



Blau



1837



0,1989187



0,1937697



0



0,5



Shannon



1837



0,2983254



0,2824653



0



0.6931472



CEO



1828



0,1117958



0,3152538



0



1



Leverage



1911



0,4929433



0,3561312



0,0000648



6,515321



FAge



1917



19,41873



12,5631



2



61



Fsize



1980



13,38271



2,121874



4,709782



18,14325



(Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm nghiên cứu)

Mơ tả ROA: ROA trung bình qua các năm của các công ty được khảo sát

là 7.21%, độ lệch chuẩn 9.06%. Giá trị ROA lớn nhất là 95% của Cơng ty Cổ

phần Đầu tư Khống sản Tây Bắc (mã: KTB), năm 2010; thấp nhất là -32% của

Công ty Cổ phần Chế biến Hàng xuất khẩu Long An (mã: LAF), năm 2012.

Mơ tả Tobin’s Q: Tobin’s Q bình quân đạt 1.026, nhưng độ lệch lớn 1.66,

thể hiện một sự không đồng đều giữa các doanh nghiệp. Nguyên nhân cũng

được cho là do khủng hoảng tài chính bắt đầu từ Mỹ năm 2008, rồi đến khủng

hoảng nợ công châu âu 2012 đã có ảnh hưởng đáng kể đến kinh tế Việt Nam,

gây khó khăn cho các cơng ty nên thị trường chứng khốn Khối lượng giao dịch

khơng nhiều và giá cổ phiếu sụt giảm, làm cho chỉ số Tobin’s Q thấp như vậy.

Mô tả Woman: Đây là một biến giả, nhận giá trị 1 khi có ít nhất 1 nữ

trong HĐQT của công ty, nhận giá trị 0 trong trường hợp còn lại. Như vậy trong

các cơng ty niêm yết trên HOSE thì có 63.12% các cơng ty có xuất hiện ít nhất 1

nữ trong HĐQT.



66



Mơ tả PerWo: Tỷ lệ phần trăm nữ giới trong HĐQT là 14.89%, với độ

lệch chuẩn 16.55% và giá trị lớn nhất là 71.43% (Công ty cổ phần Vàng bạc đá

quý Phú Nhuận PNJ năm 2013 đạt tỷ lệ 5/7 ). Các con số này cho thấy nữ giới

xuất hiện trong HĐQT ở các cơng ty trên sàn HOSE là khơng đồng đều. Có

những cơng ty có tỷ lệ nữ giới rất cao, nhưng cũng có những cơng ty khơng thấy

sự xuất hiện của nữ trong HĐQT.

Mô tả CEO: Đây là biến giả, nhận giá trị 1 khi CEO của doanh nghiệp là

nữ, và nhận giá trị 0 trong trường hợp còn lại. Qua thống kê cho thấy 11.18%

mẫu được khảo sát có CEO là phụ nữ. Ở Việt Nam, dữ liệu của dự án CEO nữ

tồn cầu thuộc một tổ chức có trụ sở tại Pháp (Intelligence Financial Research

and Consulting) thống kê được đến đầu năm 2015 trong tổng số hơn 600 công ty

được khảo sát thì 7% các CEO là phụ nữ. Như vậy so với trung bình các cơng ty

được khảo sát trên tồn quốc của dự án này, thì số lượng CEO nữ trên sàn HOSE

có phần cao hơn.

Mơ tả Blau: Chỉ số Blau trung bình của mẫu khảo sát là 0.199, độ lệch

chuẩn là 0.194. Giá trị này đạt lớn nhất tại 0.5 khi số lượng nam và nữ là như

nhau, và nhận giá trị thấp nhất bằng 0 khi chỉ có sự xuất hiện của phụ nữ hoặc

nam giới.

Mơ tả Shannon: chỉ số Shannon trung bình là 0.298, độ lệch chuẩn là

0.282. Giá trị này đạt lớn nhất 0.693 khi số lượng nam và nữ là ngang nhau, và

nhận giá trị nhỏ nhất bằng 0 khi chỉ có sự xuất hiện của nam giới hoặc phụ nữ

trong HĐQT. Ta nhận thấy rằng số lượng nam và nữ trong HĐQT trong các

cơng ty được khảo sát còn chênh lệch nhau khá nhiều.



67

5.1.4.



Ma trận tương quan các biến trong mô hình

Bảng 5.2: Ma trận tương quan giữa các biến



ROA



Tobinq



Woman



PerWo



Blau



Shannon



CEO



Levera



Fage



FSize



ge

ROA



1,0000



Tobinq



0,1439



1,0000



Woman



0,2497



-0,0081



1,0000



PerWo



0,1269



0,0312



0,5230



1,0000



Blau



0,1103



0,0391



0,5933



0,9576



1,0000



Shannon



0,1059



0,0423



0,6088



0,9346



0,9961



1,0000



CEO



0,1761



0,0516



0,2080



0,3163



0,2895



0,2789



1,0000



Leverage



-0,2993



-0,0264



-0,0612



-0,0315



-0,0285



-0,0279



-0,0502



1,0000



FAge



0,0443



0,0766



-0,0235



0,0132



0,0156



0,0147



-0,0024



0,0792



1,0000



Fsize



-0,0258



-0,5905



0,0763



0,0956



0,0906



0,0871



0,1087



0,0721



-0,1121



(Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm nghiên cứu)

Bảng trên đưa ra cái nhìn tổng thể về sự tương quan của các biến. Có thể

thấy rằng sự tương quan giữa các biến độc lập trong từng mơ hình là nhỏ (giá trị

lớn nhất là 0.5905). Theo đề nghị của Damodar (2004), khi hệ số tương quan

giữa các biến hồi quy không vượt quá 0,80, sẽ không xảy ra vấn đề đa cộng

tuyến trong mơ hình hồi quy. Điều này đồng nghĩa với việc các biến của nhóm

phù hợp với phân tích hồi quy.

Dựa vào bảng trên, nhóm nghiên cứu nhận thấy Woman, PerWo, Blau,

Shannon, CEO đều có tương quan dương với biến ROA, TobinQ cho thấy rằng

sự xuất hiện của nữ giới trong HĐQT, tỷ lệ nữ giới trong HĐQT, sự cân bằng

giới trong HĐQT hay việc nữ giới đảm nhận vị trí CEO đều có tác động tích cực

đến hiệu quả của công ty. Mặc dù đây chỉ là một mối quan hệ tích cực tuyến tính

yếu, nó vẫn dự kiến sẽ ủng hộ giả thuyết nghiên cứu của nhóm.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng nhận thấy một số biến độc

lập có mối quan hệ chưa xác định với biến phụ thuộc do kết quả không đồng

nhất hoặc có kết quả ngược lại với giả thiết đã nêu như:



1,0000



68





Woman có tương quan dương với ROA (hiệu quả kế tốn) nhưng lại

có tương quan âm với Tobin’s Q (hiệu quả thị trường); như vậy

chưa có sự đồng nhất về kết quả nghiên cứu khi sử dụng các chỉ







tiêu khác nhau để đo lường hiệu quả hoạt động.

Hệ số tương quan dương giữa CEO và Tobin’s Q lại cho thấy sự

ủng hộ đối với quan điểm cho rằng những nhà đầu tư có phản ứng

tích cực đối việc nữ CEO được bổ nhiệm. Điều này ngược lại với

giả thuyết của nhóm về ảnh hưởng của CEO nữ tới hiệu quả thị

trường trong môi trường Việt Nam.



Tất nhiên, những nhận xét trên chỉ mang tính chất ước lượng, cho thấy cái

nhìn sơ lược về mối quan hệ giữa các biến. Vì vậy đặt ra yêu cầu nhóm cần tiếp

tục tiến hành phân tích hồi quy để kiểm định giả thuyết của mình một cách chính

xác.

5.2.



PHÂN TÍCH KẾT QUẢ HỒI QUY

5.2.1. Mơ hình về nữ giới trong HĐQT



Ký hiệu chung:

***: ứng với mức ý nghĩa 1%

**: ứng với mức ý nghĩa 5%

*: ứng với mức ý nghĩa 10%



69



Bảng 5.3: Kết quả hồi quy mơ hình 1 và mơ hình 2

Biến



Bảng A1: ROA

Mơ hình 1



Mơ hình 2



FE



RE



FE



RE



C



0,4363438



0,1332843



0,4611656



0,1826268



Woman



0,0241791***



0,0323077***

0,0418621**



0,1151619***



PerWo

Leverage



-0,0123466*



-0,0346474***



-0,0130348**



-0,0593097***



FAge



-0,0158467***



-0,0003166



-0,0161422***



-0,0005111



Fsize



-0,0049419



-0,0043776**



-0,0056687



-0,0021859



R2 within



70,79%



70,21%



67,67%



67,47%



P_value

kiểm



của 0,000



0,000



định



Hausman

(Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm nghiên cứu)

Ở mơ hình 1, Prob= 0,000 < 0,5 nên sử dụng mơ hình ảnh hưởng cố định

(FE) phù hợp hơn. β1 = 0,024 với mức ý nghĩa 1%. Từ kết quả này, nhóm nghiên

cứu đưa ra kết luận rằng, sự có mặt của phụ nữ trong HĐQT làm cho giá trị

ROA của doanh nghiệp cao hơn so với cơng ty khơng có phụ nữ trong HĐQT,

cụ thể với mức ý nghĩa 1%, nếu có sự xuất hiện của phụ nữ trong HĐQT thì

trung bình ROA của doanh nghiệp cao hơn 0,024% so với cơng ty có hội đồng

quản trị tồn nam giới. Ở mơ hình này, R 2 within nhận giá trị 70,79%, điều này

cho thấy mức độ phù hợp của phương trình hồi quy trong việc giải thích hiện

tượng

Mơ hình 2, Prob=0,000 < 0,5 nên sử dụng mơ hình ảnh hưởng cố định

(FE) phù hợp hơn. β1 = 0,042 với mức ý nghĩa 5%. Từ kết quả này, nhóm đưa ra

kết luận: gia tăng tỷ lệ phụ nữ trong HĐQT có tác động tích cực đến hệ số ROA,



70



cụ thể với mức ý nghĩa 5%, nếu tỷ lệ phụ nữ tăng 1% thì trung bình ROA tăng

0,04%. Ở mơ hình này, R2 within nhận giá trị 67,67%, điều này cho thấy mức độ

phù hợp của phương trình hồi quy trong việc giải thích hiện tượng.

Bảng 5.4: Kết quả hồi quy mơ hình 3 và mơ hình 4

Biến



Bảng A2: ROA

Mơ hình 3



Mơ hình 4



FE



RE



FE



RE



C



0,4624166



0,1511015



0,4625775



0,1512983



Blau



0,0258381



0,0362175**

0,0165605



0,0234307**



Shannon

Leverage



-0,0130517**



-0,0353596*** -0,01306**



FAge



-0,0161301***



-0,0004072



-0,0161338*** -0,0004075



Fsize



-0,005697



-0,0045619**



-0,0056886



-0,0045591**



R2 within



68,67%



68,28%



75,06%



74,47%



P_value



của 0,0000



kiểm



-0,0353831***



0,0000



định



Hausman

(Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm nghiên cứu)

Ở mơ hình 3 và 4, nhóm tác giả sử dụng hai chỉ số về cân bằng giới là

Blau và Shannon để xác định mối liên hệ giữa đa dạng giới tính của HĐQT và

hiệu quả doanh nghiệp với đại diện là ROA. Từ kết quả hồi quy 2 mơ hình,

Prob=0,000 < 0,05 nên lựa chọn mơ hình cố định (FE) phù hợp hơn. Trong mơ

hình FE, nhóm nghiên cứu kết luận rằng, với mức ý nghĩa 10%, sự đa dạng giới

tính khơng có ảnh hưởng đến hiệu quả doanh nghiệp. Ta có thể thấy, hai hệ số β

của Blau và Shannon đều khơng có ý nghĩa hồi quy với mức ý nghĩa 10%. Tuy

nhiên ở mơ hình RE, 2 hệ số này có tác động tích cực đến ROA ở mức ý nghĩa

5%.



71



Bảng 5.5: Kết quả hồi quy mơ hình 5 và mơ hình 6

Biến



Bảng B1: Tobin’s Q

Mơ hình 5



Mơ hình 6



FE



RE



FE



RE



C



9,529025



8,049002



9,624186



8,090831



Woman



0,0785643



0,124283

1,031185***



0,9313003***



PerWo

Leverage



-0,0906807



0,0062135



-0,0968628



0,0039654



FAge



0,0578272**



0,0012628



0,0567271**



0,0008334



Fsize



-0,7160234***



-0,528992***



-0,7289326***



-0,5358197



R2 within



43,96%



43,30%



44,89%



44,32%



P_value

kiểm



của 0,0068



0,0082



định



Hausman

(Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm nghiên cứu)

Mơ hình 5, Prob=0,0068 < 0,05 nên lựa chọn mơ hình cố định (FE) phù

hợp hơn.

Mơ hình 6, Prob=0,0082 < 0,05 nên lựa chọn mơ hình cố định (FE) phù

hợp hơn.

Từ mơ hình 5, sự xuất hiện của phụ nữ trong HĐQT khơng có tác động

đến hiệu quả doanh nghiệp (đại diện bằng Tobin’s Q), hay nói một cách khác là

cơng ty có phụ nữ trong HĐQT và cơng ty khơng có phụ nữ trong HĐQT khơng

có sự khác biệt về hệ số Tobin’s Q, với mức ý nghĩa 10%. Tuy nhiên, đến mơ

hình 6, thì phần trăm phụ nữ trong HĐQT lại có mối quan hệ cùng chiều với

Tobin’s Q. Với mức ý nghĩa 1%, nếu tỷ lệ phụ nữ trong HĐQT tăng 1% thì trung

bình Tobin’s Q tăng 0,0103. Ở mơ hình này, R 2 within nhận giá trị 44,89%, điều



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 5 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×