Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Tải bản đầy đủ - 0trang

18



khơng có các khoản nợ phải trả q hạn trên 01 năm; khơng có lỗ luỹ kế tính

đến năm đăng ký niêm yết; tuân thủ các quy định của pháp luật về kế tốn báo

cáo tài chính;

- Cơng khai mọi khoản nợ đối với công ty của thành viên Hội đồng quản

trị, Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám

đốc), Kế tốn trưởng, cổ đơng lớn và những người có liên quan;

- Tối thiểu 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết của cơng ty do ít nhất ba

trăm (300) cổ đơng khơng phải cổ đông lớn nắm giữ, trừ trường hợp doanh

nghiệp nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần theo quy định của Thủ tướng

Chính phủ.

2.1.2.



Cấu trúc quản trị của cơng ty cổ phần



Cơng ty cổ phần có cấu trúc quản trị tương đối đặc thù: cơ quan quyền lực

cao nhất trong công ty là Đại hội đồng cổ đông, Đại hội đồng cổ đông lại bầu ra

cơ quan đại diện thường trực cho mình là Hội đồng quản trị, và Hội đồng quản

trị với tư cách là đại diện chủ sở hữu sẽ chỉ định Ban Giám đốc (Ban Tổng Giám

đốc) để điều hành hoạt động hàng ngày của công ty cổ phần. Để đảm bảo giám

sát hoạt động của Ban Giám đốc và Hội đồng quản trị, Đại hội đồng cổ đơng lại

bầu ra Ban Kiểm sốt.

Đối với cơng ty cổ phần có trên mười một cổ đơng là cá nhân hoặc tổ

chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của doanh nghiệp phải có Ban kiểm sốt

(BKS). Trường hợp cơng ty cổ phần có dưới 11 cổ đơng và các cổ đông là tổ

chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của cơng ty thì khơng bắt buộc phải có

BKS. (Điều 134, Luật Doanh nghiệp 2014)

2.1.2.1.



Hội đồng quản trị



Hội đồng quản trị là đại diện cho doanh nghiệp do đại hội cổ đông bầu

ra,là cơ quan quản lý cơng ty, có tồn quyền nhân danh cơng ty để quyết định,

thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại

hội đồng cổ đơng. Hội đồng quản trị có từ 03 đến 11 thành viên. Điều lệ công ty



19



quy định cụ thể số lượng thành viên Hội đồng quản trị. Nhiệm kỳ của thành viên

Hội đồng quản trị, thành viên độc lập Hội đồng quản trị khơng q 05 năm và có

thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế.

Thành viên HĐQT phải có trình độ chun mơn, kinh nghiệm trong quản

lý kinh doanh của công ty và không nhất thiết phải là cổ đông của công ty, trừ

trường hợp Điều lệ công ty quy định khác.

Hội đồng quản trị bầu một thành viên của Hội đồng quản trị làm Chủ tịch.

Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty

trừ trường hợp Công ty cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% tổng số phiếu

biểu quyết.

Về nguyên tắc HĐQT là cơ quan quản trị cao nhất trong một công ty,

doanh nghiệp, bảo vệ lợi ích và tài sản của cơng ty, đảm bảo việc đầu tư thu lãi.

Mọi quyết định chiến lược hoạt động của DN phải bắt nguồn hoặc được phê

duyệt bởi HĐQT. Quyền lực và vai trò của HĐQT có ảnh hưởng quan trọng đến

các hoạt động của công ty, khiến cho thiết chế này xứng đáng được quan tâm

liên tục.

Hội đồng quản trị có nhiều chức năng quan trọng, như giám sát và điều

khiển các hoạt động, cung cấp thông tin và lời khuyên, giám sát sự tuân thủ luật

pháp, và chỉ định ra giám đốc điều hành công ty. Cụ thể, Điều 108, Luật Doanh

nghiệp 2010 quy định HĐQT có các quyền và nhiệm vụ sau đây:

• Quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh

doanh hằng năm của cơng ty.





Kiến nghị loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng



loại.

• Quyết định chào bán cổ phần mới trong phạm vi số cổ phần được quyền

chào bán của từng loại; quyết định huy động thêm vốn theo hình thức khác.

• Quyết định giá chào bán cổ phần và trái phiếu của cơng ty.

• Quyết định mua lại cổ phần



20



• Quyết định phương án đầu tư và dự án đầu tư trong thẩm quyền và giới

hạn theo quy định của Luật hoặc Điều lệ cơng ty.

• Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ; thông

qua hợp đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn

hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của cơng

ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty, trừ hợp đồng và

giao dịch theo quy định pháp luật.

• Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối

với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý quan trọng khác do Điều lệ

công ty quy định; quyết định mức lương và lợi ích khác của những người quản

lý đó; cử người đại diện theo uỷ quyền thực hiện quyền sở hữu cổ phần hoặc

phần vốn góp ở cơng ty khác, quyết định mức thù lao và lợi ích khác của những

người đó.

• Giám sát, chỉ đạo Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác

trong điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của cơng ty.

• Quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty, quyết định

thành lập cơng ty con, lập chi nhánh, văn phòng đại diện và việc góp vốn, mua

cổ phần của doanh nghiệp khác.

• Duyệt chương trình, nội dung tài liệu phục vụ họp Đại hội đồng cổ đông,

triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông hoặc lấy ý kiến để Đại hội đồng cổ đơng

thơng qua quyết định.

• Trình báo cáo quyết tốn tài chính hằng năm lên Đại hội đồng cổ đơng.

• Kiến nghị mức cổ tức được trả; quyết định thời hạn và thủ tục trả cổ tức

hoặc xử lý lỗ phát sinh trong q trình kinh doanh.

• Kiến nghị việc tổ chức lại, giải thể hoặc yêu cầu phá sản công ty.

Hội đồng quản trị thông qua quyết định bằng biểu quyết tại cuộc họp, lấy

ý kiến bằng văn bản hoặc hình thức khác do Điều lệ cơng ty quy định. Mỗi

thành viên Hội đồng quản trị có một phiếu biểu quyết.



21

2.1.2.2.



Ban giám đốc



BGĐ do HĐQT lập nên, gồm những người có năng lực quản lý, làm

nhiệm vụ điều hành doanh nghiệp.Khi HĐQT là đại diện của chủ sở hữu thì

BGĐ thường là đại diện của những người làm thuê cao cấp nhất của một doanh

nghiệp. BGĐ có thể bị thay bởi HĐQT bất kỳ lúc nào. Hội đồng quản trị bổ

nhiệm một người trong số họ hoặc thuê người khác làm Giám đốc hoặc Tổng

giám đốc. Nhiệm kỳ của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc không quá 05 năm; có

thể được bổ nhiệm lại với số nhiệm kỳ không hạn chế.

Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh

hằng ngày của công ty; chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị; chịu trách nhiệm

trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nghĩa

vụ được giao. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải điều hành công việc kinh

doanh hằng ngày của công ty theo đúng quy định của pháp luật, Điều lệ công ty,

hợp đồng lao động ký với công ty và nghị quyết của Hội đồng quản trị. Trường

hợp điều hành trái với quy định này mà gây thiệt hại cho cơng ty thì Giám đốc

hoặc Tổng giám đốc phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và phải bồi thường

thiệt hại cho công ty.

Ban giám đốc (BGĐ) là một phần quan trọng trong hệ thống quản trị nội

bộ của cơng ty. Nó thực thi vai trò giám sát và trung gian giữa ban điều hành

cơng ty và các cổ đơng. BGĐ có vai trò quan trọng troong việc xây dựng giá trị

công ty và các chính sách giám sát cơng ty nhằm đảm bảo rằng, việc kinh doanh

được thực hiện một cách có hiệu quả, xây dựng các mục tiêu chiến lược dài hạn

cho công ty phù hợp với lợi ích cao nhất của cổ đông.

Trong BGĐ, Giám đốc điều hành là người quản lý điều hành cao nhất của

một công ty và thường là người đại diện cho công ty về mặt pháp luật, là vị trí

mang tính “chìa khóa” để tạo nên tính chuyên nghiệp cho mọi công đoạn trong

tổ chức và hoạt động công ty.

2.1.3.



Mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền quản lý



22



Trong công ty cổ phần, cổ đông là chủ sở hữu hợp pháp của công ty

nhưng không trực tiếp điều hành doanh nghiệp mà thông qua việc quản lý và

điều hành của hội đồng quản trị và ban giám đốc gọi chung là ban điều hành.

Như vây, cổ đông là người ủy quyền và ban điều hành là người được ủy quyền

thay thể cổ đông để quản lý và điều hành doanh nghiệp vì lợi ích của cổ đơng.

Tuy nhiên, do có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành, nên

về mặt lý thuyết và thực tế đã xuất hiện vấn đề khi một người hoạt động vì lợi

ích của người khác, thì về bản chất người điều hành cơng ty ln có xu hướng tư

lợi cho họ hơn là hành động vì người chủ sở hữu và các cổ đông. Nguyên nhân

của hiện tượng trên là sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành đã tạo

ra thông tin không cân xứng, người điều hành có ưu thế hơn chủ sở hữu về

thông tin, nên dễ dàng hành động tư lợi, hơn nữa việc giám sát các hành động

của người đại diện cũng rất tốn kém, khó khăn, phức tạp nên để người điều hành

hành động theo nhiệm vụ được giao là vì lợi ích của những người khác thì họ sẽ

cần đến động lực phù hợp như được hưởng kết hợp một số lợi ích như vật chất,

tinh thần hoặc bị bắt buộc thực hiện trách nhiệm, nhiệm vụ được uỷ thác. Do

vậy doanh nghiệp cần phải xây dựng theo cách mà người đại diện hăng say, cần

cù làm việc theo hướng lợi ích của chủ sở hữu của họ và lợi ích của họ là gắn

liền với nhau trong dài hạn.

2.2.



SỰ THAM GIA CỦA NỮ GIỚI VÀO HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ

DOANH NGHIỆP

2.2.1. Các sự đa dạng trong công ty

Sự đa dạng của công ty được xác định là phong phú về tuổi tác, chủng tộc,



giới tính, và xã hội, bản sắc văn hóa giữa các nhân viên trong một cơng ty cụ thể

(Marimuthu, 2008). Van der Walt và Ingley (2003) xác định sự đa dạng trong

các thành phần của Hội đồng quản trị là sự kết hợp đa dạng các thuộc tính, đặc

điểm và các kỹ năng mà các thành viên của HĐQT có. Định nghĩa này cũng

được áp dụng cho các quản lý hàng đầu của một tổ chức.

Thông thường có hai loại đa dạng được xem xét.



23



- Loại đầu tiên là sự đa dạng về nhân khẩu học. Loại này có thể quan sát

được qua bề ngồi chẳng hạn như giới tính, chủng tộc hay trình độ học vấn.

- Loại thứ hai rất khó để đánh giá qua bề ngồi, cần sự cân nhắc kĩ lưỡng

bởi nó đề cập đến các thuộc tính khơng quan sát được như kiến thức, kỹ năng và

năng lực chuyên môn (Pelled, 1996; Milliken and Martins, 1996)

Phần lớn các nghiên cứu về đa dạng được nêu trong điều kiện nhân khẩu

học. Lý do bởi loại này có cơ sở dữ liệu đáng tin cậy để đo lường các thuộc tính

của nó (Rosenzweig, 1998). Milliken và Martins (1996) thấy rằng các biến nhân

khẩu học cung cấp các thơng tin khách quan và có giá trị về các thuộc tính đa

dạng mà khơng thể quan sát được, như sự lo ngại rủi ro. Do đó, nhiều nghiên

cứu thực nghiệm cho rằng các biến nhận thức có tương quan với các biến nhân

khẩu học (Peterson và Philpot, 2007; Smith, 2007; Rose, 2007). Trong đó, đa

dạng giới tính và sự ảnh hưởng của nó tới hiệu quả hoạt động của công ty là một

chủ đề đã được thực hiện bởi rất nhiều nhà nghiên cứu bởi tính kinh tế cũng như

xã hội của nó.

2.2.2.



Các lý thuyết về ảnh hưởng của đa dạng hóa giới tính tới hiệu

quả hoạt động của công ty



Kiel và Nicholson (2003) cho rằng khơng có lý thuyết đơn nào tự chính nó là

một khn khổ tồn diện để giải thích cho mối liên kết vững chắc giữa đa dạng

và hiệu suất. Đây rõ ràng là do tính chất đa ngành của đề tài, mặc dù một số khía

cạnh của những lý thuyết có thể được sử dụng trong những hoàn cảnh khác

nhau. Các lý thuyết cho rằng đa dạng hóa giới tính tác động tới HQHĐ của công

ty trên cả hai phương diện: tích cực và tiêu cực. Trong đó, các nghiên cứu về đa

dạng và ảnh hưởng của nó tới hiệu suất chủ yếu dựa trên lý thuyết người đại

diện, lý thuyết phụ thuộc nguồn lực và lý thuyết bản sắc xã hội.

2.2.2.1.



Lý thuyết cho thấy sự ảnh hưởng có tính hai mặt (tích cực

và tiêu cực) của đa dạng hóa giới tính tới HQHĐ của cơng

ty: Lý thuyết người đại diện (Agency theory)



24



Lý thuyết đại diện có nguồn gốc từ lý thuyết kinh tế, được phát triển bởi

Alchian và Demsetz năm 1972, sau đó được Jensen và Meckling phát triển thêm

vào năm 1976. Theo lý thuyết đại diện, các cổ đông là các chủ sở hữu hoặc là

người đứng đầu công ty, họ ủy quyền hoạt động của công ty cho các giám đốc

hoặc những người quản lý - là các đại diện cho các cổ đông. Tuy nhiên, lý thuyết

này cho rằng cổ đơng và người đại diện ln có khuynh hướng cá nhân, tư lợi,

và cơ hội. Vì thế, mặc dù cùng trong một công ty nhưng do bản chất sở hữu vốn

khác nhau nên cổ đông và giám đốc tuy hình thức là cùng hướng đến lợi ích cho

cơng ty, nhưng bản chất thì lại thường có đối kháng lợi ích. Khái niệm về vấn đề

phát sinh từ việc tách quyền sở hữu và kiểm soát trong lý thuyết đại diện này đã

được xác nhận bởi Davis, Schoorman và Donaldson năm 1997.

Xung đột lợi ích cũng có thể tồn tại ngay trong mỗi bộ phận quản trị,

chẳng hạn giữa các cổ đông (đa số và thiểu số, kiểm sốt và khơng kiểm sốt, cá

nhân và tổ chức) và các thành viên HĐQT (điều hành và không điều hành, bên

trong và bên ngoài, độc lập và phụ thuộc) (IFC, 2010). Những xung đột lợi ích

này sẽ tạo ra các chi phí liên quan.

Như vậy, một trong những vấn đề mà lý thuyết đại diện đặt ra đó làm sao

để đảm bảo lợi ích của các cổ đơng, những người chủ sở hữu của cơng ty đồng

thời giảm chi phí đại diện.

Thông thường, hội đồng quản trị sử dụng song song hai phương pháp, đó

là giám sát và động viên. Theo Helland và Sykuta (2005), vai trò của HĐQT là

kiểm soát, giám sát, đánh giá hoạt động của giám đốc từ đó khen thưởng; trừng

phạt hoặc thậm chí sa thải những giám đốc không mang lại giá trị cho cổ đông

khi cần thiết (Weisbach, 1988)

Trong khuôn khổ lý thuyết này, các đặc điểm của HĐQT như kích thước,

tính độc lập và đa dạng có thể ảnh hưởng đến q trình tạo ra lợi ích cho cổ

đơng.

- Một mặt, sự đa dạng làm tăng sự độc lập trong HĐQT vì những người có

giới tính, dân tộc hay nền văn hóa đa dạng có thể sáng tạo hơn, theo nghĩa là họ



25



có thể đặt vấn đề hoặc đề xuất các giải pháp mà giám đốc truyền thống không

thể làm được dù với các nền tảng hoặc kinh nghiệm tương tự (Arfken và cộng

sự, 2004).

Hơn nữa, sự hiện diện của phụ nữ trong hội đồng quản trị có thể có một

ảnh hưởng đáng kể tới HQHĐ của cơng ty, thơng qua chính sách giám sát chặt

chẽ. Trong một nghiên cứu về các công ty Mỹ, Adams và Ferreira (2009) đã

chứng minh ba đặc điểm quan trọng trong một hội đồng quản trị đa dạng về giới

tính:





Các nữ quản lý tham dự đầy đủ các cuộc họp họ cần tham dự hơn so với







các nam quản lý;

Khi hội đồng quản trị là đa dạng về giới, vấn đề về việc khơng tham dự đủ







75% các cuộc họp của nam quản lý trở nên ít nghiêm trọng hơn, và

Phụ nữ có nhiều khả năng hơn sẽ tham gia vào các Ủy ban giám sát.

Daziel (2003) cho rằng Hội đồng quản trị là chìa khóa để trung hòa các lợi



ích của cổ đơng và các nhà quản lý. Điều này là lý do để xem xét đa dạng giới

tính trên như một cơng cụ để giảm chi phí đại diện, do đó, nâng cao HQHĐ của

cơng ty.

- Mặt khác, những quan điểm khác nhau trong việc ra quyết định và kiểm

sốt có thể khiến việc giám sát kém hiệu quả hơn do không dẫn đến những quyết

định chung thống nhất.

Do đó, có thể có mối quan hệ tích cực hay tiêu cực giữa đa dạng giới tính

trong quản trị và hiệu quả hoạt động của cơng ty.

2.2.2.2.



Lý thuyết cho thấy sự ảnh hưởng tích cực của đa dạng hóa

giới tính tới HQHĐ của cơng ty: Lý thuyết phụ thuộc

nguồn lực (Resource dependence theory)



Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực được sử dụng để phân tích chức năng và

hành động của Hội đồng quản trị (Gabrielsson và Huse, 2004). Vì vậy, khác với

Lý thuyết đại diện khi trọng tâm nghiên cứu là các mối quan hệ giữa quyền sở

hữu và quản lý, trọng tâm nghiên cứu của Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực là các



26



mối liên kết của cơng ty với mơi trường của nó (bao gồm mơi trường bên trong

và mơi trường bên ngồi). Theo khn khổ này, ban quản lý của công ty là một

liên kết cần thiết giữa môi trường của công ty và các nguồn lực bên ngoài mà họ

phải phụ thuộc. Liên kết này cần thiết để doanh nghiệp hoạt động tốt (Pfeffer và

Salancik, 1978). Lý do đằng sau sự phụ thuộc nguồn lực như sau: "Phương pháp

trực tiếp nhất để kiểm soát phụ thuộc là kiểm soát nguồn gốc của sự phụ thuộc"

(Pfeffer và Salancik, 1978).

Từ góc nhìn của lý thuyết phụ thuộc nguồn lực, ban giám đốc là một cơ

chế liên kết chính cho một cơng ty kết nối với nguồn lực bên ngoài (Hillman và

cộng sự, 2007). Sự hiện diện của phụ nữ trong quản lý mang lại những lợi ích

bằng cách liên kết công ty với các bên liên quan và được chấp nhận từ các bên

liên quan như nhân viên, khách hàng và các nhà đầu tư (LückerathRovers, 2010;

Brammer và cộng sự, 2007).

Thật vậy, đối với người lao động hiện tại và tiềm năng, Hillman và cộng

sự (2007) Singh và Vinnicombe (2004) cho rằng sự có mặt của người phụ nữ

trong quản lý cung cấp một hình ảnh tự do, bình đẳng của cơng ty và chỉ ra một

sự phát triển tốt hơn về cơ hội thăng tiến nghề nghiệp sau này.

Đối với các doanh nghiệp định hướng khách hàng, tỷ lệ phụ nữ trong quản

lý càng cao, hình ảnh trong con mắt của khách hàng về cơng ty càng tốt đẹp và

nó càng thắt chặt quan hệ với khách hàng (Brammer và cộng sự, 2007).

Do đó, Singh (2007) cho rằng đa dạng giới tính trong quản lý có thể cải

thiện danh tiếng và hiệu quả hoạt động của công ty. Từ một quan điểm chiến

lược, một trong những lơi thế cạnh tranh vơ hình quan trọng nhất là danh tiếng

của công ty (nhận thức của các bên liên quan) (Roberts và Dowling, 2002). Một

số nghiên cứu khám phá rằng các hiệu ứng xã hội và hoặc các vấn đề đạo đức sẽ

ảnh hưởng tới danh tiếng của cơng ty.

Barney (2001) cho rằng sự đa dạng giới tính trong các tổ chức là một

nguồn lực vơ hình và nguồn lực xã hội phức tạp, có thể cung cấp cho tổ chức đó

một lợi thế cạnh tranh bền vững. Các tài sản vơ hình và xã hội phức tạp bắt



27



nguồn từ sự đa dạng giới bao gồm hiểu biết thị trường, sáng tạo và đổi mới, cải

tiến và giải quyết vấn đề (McMahan, Bell, & Virick, 1998).

2.2.2.3.



Lý thuyết cho thấy sự ảnh hưởng tiêu cực của đa dạng hóa

giới tính tới HQHĐ của cơng ty: Lý thuyết bản sắc xã hội

(Social identity theory)



Lý thuyết bản sắc xã hội, lý thuyết thu hút- đồng dạng (similarityattraction theory) và lý thuyết phân loại xã hội (social categorization theory) cho

rằng mọi người sẽ bị thu hút bởi những người khác tương tự như mình. Do đó,

nhóm giới tính và sắc tộc hỗn hợp có thể phân chia, đa dạng hóa có thể sẽ gợi

ra những xung đột nhóm ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động.

Theo “Lý thuyết bản sắc xã hội” được phát triển bởi Henri Tajfel 1979,

“hiệu suất công ty đạt thấp nhất khi có một sự cân bằng về giới tính trong các

thành viên HĐQT của họ”. Luis de-Carnicer các cộng sự (2008) lập luận rằng có

một hội đồng quản trị đồng nhất về giới tính có thể dẫn đến kết quả hoạt động

tốt hơn bởi vì “các nhóm đồng nhất cho thấy sự dễ dàng trong giao tiếp và làm

giảm xung đột quan hệ dẫn đến sự gắn kết hơn”.

Như vậy, các nghiên cứu cho thấy chúng ta có thể nhìn thấy sự ảnh hưởng

hoặc là tích cực hoặc là tiêu cực của đa dạng hóa giới tính trong quản lý tới hiệu

quả hoạt động của doanh nghiệp. Phụ nữ trong ban quản lý có thể giải quyết

vấn đề hiệu quả hơn bởi họ có một cái nhìn tồn diện hơn về nhiều khía cạnh

của vấn đề, nhưng sự đa dạng cũng có thể ngăn chặn các vấn đề được giải quyết

bởi làm tăng xung đột giữa các thành viên.

Nếu tính đa dạng làm ảnh hưởng đến hiệu suất của công ty bằng cách ảnh

hưởng tới năng lực của ban quản lý, chúng ta sẽ thấy tác động đầu tiên trên lợi

nhuận doanh nghiệp và sau đó là trên lợi nhuận cổ phiếu.

2.3.



ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DOANH NGHIỆP

Đối với doanh nghiệp hiệu quả không chỉ là thước đo chất lượng phản ánh



trình độ tổ chức quản lí kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn của doanh



28



nghiệp. Trong điều kiện kinh tế thị trường ngày càng mở rộng, muốn tồn tại và

phát triển thì đòi hỏi doanh nghiệp kinh doanh phải có hiệu quả. Hiệu quả càng

cao, doanh nghiệp càng có điều kiện mở rộng và phát triển hoạt động kinh

doanh, đối với doanh nghiệp hiệu quả kinh tế chính là lợi nhuận thu được trên cơ

sở khơng ngừng mở rộng sản xuất, tăng uy tín và thế lực của doanh nghiệp trên

thương trường.

Hiệu quả hoạt động là một chỉ tiêu quan trọng khi đánh giá chất lượng,

tiềm năng doanh nghiệp, hiệu quả của chính sách. Thơng qua đó các bên liên

quan như cổ đơng, chủ nợ, nhà đầu tư, ban điều hành, người tiêu dùng, nhà cung

cấp,… có thể đưa ra quyết định về kinh doanh, đầu tư, thay đổi chiến lược,

phương thức hoạt động nhằm đem lại lợi ích tối ưu. Hiệu quả hoạt động của

doanh nghiệp được thể hiện qua các chỉ tiêu khác nhau trong các nghiên cứu

khoa học.

Hiệu quả hoạt động phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động sản xuất

kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị máy

móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi

hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp – mục tiêu tối đa hóa giá trị tài

sản chủ sở hữu.

Nghiên cứu của Hult và các cộng sự (2008) đánh giá cách thức đo lường

hiệu quả hoạt động trong các nghiên cứu khoa học đã đưa ra ba tiêu chí đo lường

hiệu quả hoạt động là hiệu quả tài chính (financial performance), hiệu quả kinh

doanh (operation performance) và hiệu quả tổng hợp (overall performance).

Trong quy mơ bài nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu lựa chọn các chỉ tiêu

đại diện cho hiệu quả tài chính để đánh giá chung cho hiệu quả hoạt động của

cơng ty. Các chi tiêu tài chính được chọn là: tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản

(ROA), Tobin’s Q (hệ số Q của Tobin – tính bằng tỷ số giữa giá thị trường của

tài sản với giá trị thay thế của tài sản). ROA là chỉ tiêu được sủ dụng rộng rãi

nhất, và có thể lấy một cách chính xác, minh bạch từ các báo cáo tài chính của



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×